Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 1
Chương 1 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây
Phòng ăn tráng lệ của Khách sạn Wessex, với những tấm khiên thạch cao mạ vàng và bức bích họa khắc họa dãy Green Mountains, đã được dành riêng cho Tiệc tối Quý bà của Câu lạc bộ Rotary Fort Beulah.
Ở Vermont này, buổi tiệc không nên thơ như nó có thể có giữa những thảo nguyên miền Tây. Ồ, nó cũng có những nét thú vị riêng: có một màn kịch ngắn trong đó Medary Cole (nhà máy xay bột & cửa hàng thức ăn gia súc) và Louis Rotenstern (may đo theo yêu cầu—là ép & giặt tẩy) tuyên bố mình chính là hai nhân vật lịch sử của Vermont, Brigham Young và Joseph Smith, rồi bằng những câu đùa về các bà vợ số nhiều tưởng tượng, họ tha hồ châm chọc các quý bà có mặt một cách cực kỳ vui nhộn. Nhưng về căn bản, đây là một dịp nghiêm túc. Cả nước Mỹ giờ đây đều nghiêm túc, sau bảy năm suy thoái kể từ 1929. Cuộc Đại chiến 1914–18 đã lùi xa vừa đủ để những người trẻ sinh năm 1917 sẵn sàng bước vào đại học . . . hoặc bước vào một cuộc chiến khác, gần như bất kỳ cuộc chiến cũ nào tiện tay kiếm được.
Những tiết mục chính trong đêm hội của các hội viên Rotary này chẳng có gì buồn cười, ít nhất là chẳng buồn cười một cách lộ liễu, bởi đó là những bài diễn văn ái quốc của Chuẩn tướng Herbert Y. Edgeways, Lục quân Hoa Kỳ (đã nghỉ hưu), người giận dữ bàn về đề tài “Hòa bình nhờ Phòng thủ—Hàng triệu đô-la cho Vũ khí nhưng không Một xu Cống nạp,” và của bà Adelaide Tarr Gimmitch—người nổi danh vì chiến dịch anh dũng chống quyền bầu cử của phụ nữ tận hồi năm 1919 chẳng kém gì vì trong thời Đại chiến đã dùng một diệu kế là gửi cho lính Mỹ mười nghìn bộ cờ đô-mi-nô, nhờ đó giữ họ hoàn toàn tránh xa các quán cà-phê Pháp.
Cũng chẳng một người yêu nước có tinh thần xã hội nào có thể xem thường nỗ lực gần đây, tuy phần nào chưa được đánh giá đúng mức, của bà nhằm bảo vệ sự thuần khiết của Gia đình Mỹ bằng cách cấm khỏi ngành điện ảnh mọi người—diễn viên, đạo diễn hay quay phim—nếu họ: (a) từng ly dị; (b) sinh tại bất kỳ nước ngoài nào—ngoại trừ Anh quốc, vì bà Gimmitch vô cùng kính trọng Nữ hoàng Mary; hoặc (c) từ chối tuyên thệ tôn kính Quốc kỳ, Hiến pháp, Kinh Thánh và mọi thiết chế đặc thù khác của nước Mỹ.
Tiệc tối Quý bà Thường niên là một cuộc tụ họp hết sức đáng kính—tinh hoa của Fort Beulah. Hầu hết các quý bà và hơn nửa số quý ông đều mặc lễ phục, và có lời đồn rằng trước bữa tiệc, nhóm thân cận đã dùng cocktail, được bí mật phục vụ trong Phòng 289 của khách sạn. Những chiếc bàn xếp quanh ba cạnh của một hình vuông rỗng rực sáng với nến, những đĩa pha lê cắt đựng kẹo cùng hạnh nhân hơi dai, tượng nhỏ Chuột Mickey, những bánh xe Rotary bằng đồng và những lá cờ Mỹ nhỏ bằng lụa cắm trên trứng luộc mạ vàng. Trên tường treo một biểu ngữ đề “Phục vụ trên Bản thân,” còn thực đơn—cần tây, súp kem cà chua, cá tuyết chấm đen nướng, bánh thịt gà chiên, đậu Hà Lan và kem tutti-frutti—đạt đúng những tiêu chuẩn cao nhất của Khách sạn Wessex.
Tất cả đều há hốc miệng lắng nghe. Tướng Edgeways đang khép lại khúc tụng ca vừa hùng tráng vừa huyền nhiệm của mình về chủ nghĩa dân tộc:
“. . . bởi Hiệp—chủng quốc này, một—mình giữa các cường quốc, không hề ham muốn xâm chiếm ngoại bang. Tham vọng cao nhất của chúng ta là được người ta để cho yên cái thân! Mối quan hệ chân—chính duy nhất của chúng ta với châu Âu nằm trong nhiệm vụ nhọc nhằn phải cố giáo hóa đám quần chúng thô lậu, ngu dốt mà châu Âu đã trút lên đầu chúng ta, sao cho họ có được chút dáng dấp của văn hóa và cung cách tốt đẹp kiểu Mỹ. Nhưng như tôi đã trình bày với quý vị, chúng ta phải sẵn sàng bảo vệ bờ cõi trước mọi băng đảng ngoại bang gồm những tên bất lương quốc tế tự xưng là ‘chính phủ,’ những kẻ lúc nào cũng hau háu, với lòng đố kỵ sôi sục, nhòm ngó các mỏ khoáng vô tận, những cánh rừng chọc trời, những thành phố khổng lồ xa hoa, những cánh đồng tươi đẹp trải dài bát ngát của chúng ta.”
“Lần đầu tiên trong toàn bộ lịch sử, một quốc gia vĩ đại phải tiếp tục tự vũ trang ngày một nhiều hơn, không phải để chinh phục—không phải vì đố kỵ—không phải vì chiến tranh—mà vì HÒA BÌNH! Cầu Chúa cho điều ấy không bao giờ trở nên cần thiết, nhưng nếu các nước ngoài không mau chóng lưu tâm lời cảnh cáo của chúng ta thì, như khi những chiếc răng rồng trong truyền thuyết được gieo xuống, trên mỗi bộ vuông của Hiệp chủng quốc này sẽ mọc lên một chiến binh vũ trang không biết sợ—mảnh đất đã được cha ông khai phá của chúng ta gian khổ canh tác và bảo vệ, và chúng ta phải trở thành những hình ảnh đeo gươm của họ . . . bằng không, chúng ta sẽ diệt vong!”
Tiếng vỗ tay nổi lên như cuồng phong. “Giáo sư” Emil Staubmeyer, giám đốc học khu, bật dậy hét: “Hoan hô Tướng quân ba lần—híp, híp, hoan hô!”
Toàn thể cử tọa đều tươi rói nhìn Tướng quân và ông Staubmeyer—trừ một đôi phụ nữ theo chủ nghĩa hòa bình lập dị, cùng Doremus Jessup, chủ bút tờ Fort Beulah Daily Informer, người tại địa phương được xem là “một tay khá thông minh nhưng hơi yếm thế,” đang thì thầm với bạn mình là Mục sư Falck: “Cha ông khai phá của chúng ta xem ra đã làm hơi qua quýt cái công cuộc gian khổ canh tác một vài bộ vuông đất ở Arizona!”
Vinh quang tột đỉnh của bữa tiệc là bài diễn văn của bà Adelaide Tarr Gimmitch, người nổi tiếng khắp nước với danh hiệu “Cô gái của các Chú,” vì trong thời Đại chiến, bà từng cổ xúy gọi các chàng trai của chúng ta trong Lực lượng Viễn chinh Hoa Kỳ là “các Chú.” Bà đâu chỉ tặng họ cờ đô-mi-nô; thật ra, ý tưởng đầu tiên của bà còn giàu tưởng tượng hơn nhiều. Bà muốn gửi cho mỗi người lính ngoài Mặt trận một chú chim hoàng yến trong lồng. Hãy nghĩ xem nó sẽ giúp họ bầu bạn, gợi nhớ quê nhà và mẹ hiền biết bao! Một chú hoàng yến bé bỏng đáng yêu! Mà ai biết được—biết đâu còn huấn luyện chúng săn rận được nữa!
Sôi sục với ý tưởng ấy, bà xoay xở vào tận văn phòng Tổng cục trưởng Quân nhu, nhưng viên chức cổ hủ, đầu óc máy móc đó đã từ chối bà (hay thật ra là từ chối những chàng trai tội nghiệp cô đơn giữa bùn lầy), hèn nhát lẩm bẩm một điều ngớ ngẩn nào đó về việc không có phương tiện vận chuyển chim hoàng yến. Người ta kể rằng mắt bà thực sự tóe lửa, và bà đối mặt với tên quan quèn ấy như Jeanne d’Arc đeo kính, trong khi “cho hắn biết một trận mà HẮN suốt đời không quên!”
Trong những ngày tươi đẹp ấy, phụ nữ quả thật có cơ hội. Họ được khuyến khích tiễn đàn ông nhà mình, hoặc đàn ông nhà bất kỳ ai khác, ra trận. Bà Gimmitch gọi mọi người lính bà gặp—và bà bảo đảm sẽ gặp bất kỳ ai dám bén mảng trong vòng hai dãy phố quanh mình—là “Chàng trai thân yêu của riêng mẹ.” Tương truyền bà từng chào như vậy với một đại tá thủy quân lục chiến đi lên từ hàng binh sĩ, và ông đáp: “Đám chàng trai thân yêu của riêng mẹ chúng tôi dạo này quả là kiếm được lắm mẹ. Riêng tôi, tôi thà có thêm vài cô nhân tình.” Và truyền thuyết kể tiếp rằng nhân dịp ấy bà không ngừng lời, ngoại trừ lúc ho, suốt một giờ mười bảy phút, theo đồng hồ đeo tay của Đại tá.
Nhưng những hoạt động phụng sự xã hội của bà không chỉ giới hạn trong các thời đại tiền sử. Mới tận năm 1935 bà còn bắt tay vào thanh lọc điện ảnh, và trước đó bà đã vận động ủng hộ rồi lại chống Đạo luật Cấm rượu. Bà cũng từng (kể từ khi quyền bầu cử bị ép đặt lên bà) làm nữ ủy viên Đảng Cộng hòa vào năm 1932, và hằng ngày gửi cho Tổng thống Hoover một bức điện dài đầy lời khuyên.
Và mặc dù chẳng may không có con, bà vẫn được trọng vọng với tư cách diễn giả và cây bút về Giáo dưỡng Trẻ thơ, đồng thời là tác giả một tập đồng dao, trong đó có cặp câu bất hủ:
Các Bé Tròn nằm nghỉ thành hàng, Quanh chân tròn trịa, vòng tròn quấn quanh.
Nhưng dù là năm 1917 hay 1936, bà lúc nào cũng là một thành viên cuồng nhiệt của Hội Nữ hậu duệ Cách mạng Mỹ.
Hội Nữ hậu duệ Cách mạng Mỹ (Doremus Jessup, kẻ yếm thế, ngẫm nghĩ trong tối hôm ấy) là một tổ chức có phần khó hiểu—khó hiểu ngang với Thông thiên học, Thuyết Tương đối hay Trò Cậu bé Ấn Độ Biến mất, và nó giống cả ba. Hội gồm những phụ nữ dành một nửa thời gian thức để khoe khoang mình là hậu duệ của đám thực dân Mỹ nổi loạn năm 1776, còn nửa kia—nhiệt thành hơn—để công kích tất cả những người đương thời tin đúng vào các nguyên tắc mà tổ tiên họ từng đấu tranh bảo vệ.
Hội Nữ hậu duệ Cách mạng Mỹ (Doremus ngẫm nghĩ) đã trở nên thiêng liêng bất khả xâm phạm, vượt ngoài mọi lời chỉ trích, chẳng kém cả Giáo hội Công giáo hay Cứu Thế Quân. Và cũng phải nói điều này: hội đã đem lại những trận cười sảng khoái, vô hại cho người biết xét đoán, bởi họ đã xoay xở để trở nên lố bịch chẳng kém gì hội Ku Klux Klan xấu số nay đã tuyệt diệt, mà không cần phải đội mũ chóp cao của kẻ đần và mặc áo ngủ ra đường như K.K.K.
Bởi thế, dù bà Adelaide Tarr Gimmitch được mời đến để khích lệ sĩ khí hay để thuyết phục các hội hợp xướng Litva mở đầu chương trình bằng bài “Columbia, Viên ngọc của Đại dương,” bà lúc nào cũng là một thành viên Hội Nữ hậu duệ Cách mạng Mỹ, và người ta có thể nhận ra điều đó khi nghe bà nói trước các hội viên Rotary Fort Beulah trong buổi tối tháng Năm vui vẻ này.
Bà thấp, đẫy đà, mũi hếch tinh nghịch. Mái tóc bạc dày dặn (nay bà đã sáu mươi, đúng bằng tuổi ông chủ bút hay châm biếm Doremus Jessup) lộ ra dưới chiếc mũ rơm Leghorn mềm và trẻ trung; bà mặc váy lụa in hoa với một chuỗi hạt pha lê khổng lồ, và phía trên bộ ngực đầy đặn cài một bông lan giữa những nhành linh lan. Bà chan chứa niềm thân ái với tất cả các quý ông có mặt: bà uốn éo với họ, nũng nịu với họ, trong khi bằng chất giọng đầy tiếng sáo và xốt sô-cô-la, bà tuôn ra bài diễn thuyết “Các Chàng trai Có thể Giúp Đỡ Chị em Chúng tôi Thế nào.”
Bà chỉ ra rằng phụ nữ chẳng làm được gì với lá phiếu. Giá như hồi năm 1919 Hiệp chủng quốc nghe lời bà thì bà đã có thể cứu tất cả khỏi mớ phiền toái này. Không. Nhất định không. Không bầu cử gì hết. Thật ra, Phụ nữ phải trở về vị trí của mình trong Gia đình và: “Như nhà văn kiêm nhà khoa học vĩ đại, ông Arthur Brisbane, đã chỉ ra, điều mọi phụ nữ nên làm là sinh sáu đứa con.”
Ngay giây phút ấy xảy ra một sự gián đoạn gây sửng sốt, một sự gián đoạn kinh hoàng.
Một bà Lorinda Pike nọ, góa phụ của một nhà truyền giáo Nhất thể khét tiếng, là quản lý một nhà trọ thôn quê thượng hạng tự xưng là “Quán trọ Thung lũng Beulah.” Bà là một phụ nữ còn khá trẻ, mang vẻ Đức Mẹ dễ đánh lừa, với đôi mắt điềm tĩnh, mái tóc nâu hạt dẻ mượt mà rẽ ngôi giữa và chất giọng dịu dàng thường ánh lên tiếng cười. Nhưng trên diễn đàn công cộng, giọng bà trở nên chói gắt, mắt bà ngập một cơn thịnh nộ khiến người ta khó xử. Bà là mụ đàn bà chua ngoa của làng, kẻ lập dị của làng. Bà không ngừng chõ mũi vào những chuyện chẳng can hệ đến mình, và tại các cuộc họp thị trấn, bà chỉ trích mọi thế lực đáng kể trong toàn hạt: giá điện của công ty điện lực, lương giáo viên, việc Hội Mục sư cao thượng kiểm duyệt sách cho thư viện công cộng. Giờ đây, vào đúng lúc mọi sự lẽ ra chỉ nên là Phục vụ và Ánh dương, bà Lorinda Pike phá tan bùa mê bằng lời chế giễu:
“Hoan hô Brisbane ba lần! Nhưng nếu một cô gái tội nghiệp không câu được đàn ông thì sao? Cho cô ta đẻ sáu đứa con ngoài giá thú à?”
Bấy giờ chiến mã già thiện chiến Gimmitch, cựu binh của cả trăm chiến dịch chống bọn Đỏ lật đổ, đã được rèn luyện để dùng tiếng cười tiêu diệt những lời sáo rỗng của đám gây rối Xã hội chủ nghĩa và khiến chính họ trở thành trò cười, liền anh dũng xông trận:
“Bà chị thân mến ơi, nếu một ‘cô gái,’ như bà gọi, có chút duyên dáng và nữ tính thực sự thì cô ta chẳng cần phải ‘câu’ đàn ông—họ sẽ xếp hàng dày mười lớp trước thềm nhà cô ta!” (Cười và vỗ tay.)
Nữ lưu manh kia chỉ khiến bà Gimmitch bừng lên niềm hăng say cao quý. Giờ bà không còn nũng nịu với họ nữa. Bà lao thẳng vào đề:
“Tôi nói cho các bạn biết, tai họa của cả đất nước này là có quá nhiều kẻ ÍCH KỶ! Đây là một trăm hai mươi triệu người, mà chín mươi lăm phần trăm chỉ nghĩ đến BẢN THÂN, thay vì xắn tay giúp những doanh nhân có trách nhiệm khôi phục sự thịnh vượng! Tất cả những công đoàn thối nát và vụ lợi kia! Bọn tham tiền! Chỉ biết nghĩ xem có thể moi được bao nhiêu tiền công từ người chủ bất hạnh, trong khi ông ấy phải gánh biết bao trách nhiệm!”
“Điều đất nước này cần là Kỷ luật! Hòa bình là một giấc mơ vĩ đại, nhưng có lẽ đôi khi nó chỉ là giấc mơ viển vông! Tôi không dám chắc—điều tôi sắp nói sẽ khiến các bạn sửng sốt, nhưng tôi muốn các bạn hãy lắng nghe một người phụ nữ nói cho các bạn sự thật khắc nghiệt, nguyên chất, thay vì cả mớ kẹo ngọt ủy mị; và tôi không dám chắc rằng chúng ta không cần lại tham gia một cuộc chiến thực sự, để học lấy Kỷ luật! Chúng ta không cần tất cả thứ trí thức cao siêu, tất cả mớ kiến thức sách vở này. Theo cách của nó thì cũng tốt thôi, nhưng suy cho cùng, đó chẳng phải chỉ là một món đồ chơi xinh xắn cho người lớn hay sao? Không, điều mà tất cả chúng ta phải có, nếu đất nước vĩ đại này muốn tiếp tục duy trì địa vị cao sang giữa Đại hội các Quốc gia, chính là Kỷ luật—Ý chí—Khí phách!”
Bấy giờ bà duyên dáng quay sang Tướng Edgeways và cười:
“Ngài vừa nói với chúng tôi cách bảo đảm hòa bình, nhưng nào, Tướng quân—chỉ giữa đám hội viên Rotary cùng các phu nhân Rotary chúng ta thôi—thú thật đi! Với kinh nghiệm lớn lao của ngài, chẳng phải ngài thực lòng, xin thề trước trái tim, cho rằng có lẽ—chỉ có lẽ thôi—khi một đất nước đã phát cuồng vì tiền, như tất cả các công đoàn và công nhân của chúng ta, với những lời tuyên truyền đòi tăng thuế thu nhập để người tằn tiện, siêng năng phải nuôi bọn biếng nhác vô tích sự, thì có lẽ, để cứu rỗi linh hồn lười nhác của họ và tôi cho họ chút chất thép, một cuộc chiến lại có thể là điều tốt hay sao? Nào, khai tên đệm thật của ngài đi, Tướng quân đại tài!”
Bà ngồi xuống một cách đầy kịch tính, và tiếng vỗ tay tràn ngập căn phòng như một đám mây lông tơ. Đám đông gào lên: “Nào, Tướng quân! Đứng dậy đi!” và “Bà ấy lật tẩy ngài rồi—ngài có gì nào?” hoặc chỉ khoan dung: “Cừ lắm, Tướng quân!”
Tướng quân thấp và tròn vo, khuôn mặt đỏ au nhẵn như mông trẻ con và được tô điểm bằng cặp kính gọng vàng trắng. Nhưng ông có cái khịt mũi nhà binh và tiếng cười khẽ đầy nam tính.
“Chà, thưa quý vị!” ông đứng bật dậy cười ha hả, thân tình lắc một ngón tay về phía bà Gimmitch, “nếu quý vị đã nhất quyết moi cho bằng được bí mật của một người lính tội nghiệp, tôi đành phải thú nhận rằng tuy tôi quả có căm ghét chiến tranh, vẫn có những điều còn tệ hơn. Ôi, các bạn của tôi, tệ hơn nhiều! Một tình trạng gọi là hòa bình, trong đó các tổ chức lao động bị những tư tưởng điên rồ từ nước Nga Đỏ vô chính phủ đục ruỗng như vi trùng dịch bệnh! Một tình trạng trong đó các giáo sư đại học, ký giả và những tác giả tai tiếng đang bí mật truyền bá chính những lời công kích phản loạn ấy nhằm vào bản Hiến pháp vĩ đại lâu đời! Một tình trạng trong đó, vì bị nhồi những thứ ma túy tinh thần ấy, Nhân dân trở nên bạc nhược, hèn nhát, tham lam và thiếu niềm kiêu hãnh mãnh liệt của người chiến binh! Không, một tình trạng như thế còn tệ hơn chiến tranh trong hình hài quái dị nhất của nó!”
“Tôi đoán có lẽ vài điều tôi nói trong bài diễn văn trước hơi có phần hiển nhiên và là thứ mà hồi lữ đoàn tôi đóng quân ở Anh chúng tôi thường gọi là ‘chuyện cũ rích.’ Chẳng hạn chuyện Hiệp chủng quốc chỉ mong muốn hòa bình và tránh khỏi mọi dây dưa với ngoại bang. Không! Điều tôi thật sự muốn chúng ta làm là bước ra và nói thẳng với toàn thế giới: ‘Này các anh, đừng bận tâm đến khía cạnh đạo đức của chuyện này. Chúng tôi có sức mạnh, và sức mạnh tự nó đã là lý do chính đáng!’”
“Tôi không hoàn toàn khâm phục mọi điều Đức và Ý đã làm, nhưng phải công nhận với họ điều này: họ đủ thành thật và đủ thực tế để nói với các quốc gia khác rằng: ‘Các anh cứ lo việc của mình, được chứ? Chúng tôi có sức mạnh và ý chí, mà bất cứ ai sở hữu những phẩm chất thần thánh ấy thì sử dụng chúng không chỉ là QUYỀN, mà còn là BỔN PHẬN!’ Trong thế giới của Chúa, chưa từng có ai yêu một kẻ yếu đuối—kể cả chính kẻ yếu đuối ấy!”
“Và tôi có tin vui cho quý vị đây! Phúc âm về một sức mạnh trong sạch và quyết liệt đang lan rộng khắp đất nước này trong tầng lớp thanh niên ưu tú nhất. Này nhé, ngày nay, vào năm 1936, chưa đầy 7 phần trăm các trường đại học và cao đẳng là không có những đơn vị huấn luyện quân sự chịu kỷ luật nghiêm ngặt chẳng kém gì bọn Quốc xã; và nếu trước kia việc ấy còn do nhà chức trách cưỡng ép, thì giờ đây chính những nam nữ thanh niên cường tráng lại đòi cho bằng được QUYỀN được rèn luyện những đức tính và kỹ năng chiến đấu—bởi xin quý vị lưu ý, các cô gái, với những bài học về cứu thương, chế tạo mặt nạ phòng độc và những thứ tương tự, đang trở nên hăng hái chẳng kém gì anh em trai của họ. Và tất cả các giáo sư thuộc hạng thật sự BIẾT SUY NGHĨ đều hoàn toàn đứng về phía họ!”
“Này nhé, mới ba năm trước thôi, một tỷ lệ lớn đến phát tởm trong giới sinh viên còn là những kẻ chủ hòa om sòm, chỉ muốn đâm lén chính quê hương mình trong bóng tối. Nhưng giờ đây, khi lũ ngu xuẩn trơ trẽn cùng bọn cổ súy chủ nghĩa Cộng sản tìm cách tổ chức những cuộc hội họp chủ hòa—thì, thưa các bạn, trong năm tháng vừa qua, kể từ ngày mồng một tháng Giêng, đã có không dưới bảy mươi sáu cuộc truy hoan phô trương như thế bị chính các bạn học của chúng xông vào phá, và không dưới năm mươi chín sinh viên Đỏ bất trung đã nhận được sự trừng phạt đích đáng, bị đánh nhừ tử đến nỗi từ nay chúng sẽ không bao giờ còn dám giương ngọn cờ vô chính phủ đẫm máu trên đất nước tự do này nữa! Thưa các bạn, đó mới là TIN TỨC!”
Khi vị Tướng ngồi xuống giữa những tràng vỗ tay cuồng nhiệt, kẻ chuyên gây rối trong thị trấn, bà Lorinda Pike, bật dậy và một lần nữa phá ngang buổi liên hoan chan chứa tình thân ái:
“Nghe đây, ông Edgeways, nếu ông tưởng ông có thể phun ra những điều nhảm nhí ác dâm này mà không bị—”
Bà không nói thêm được nữa. Francis Tasbrough, chủ mỏ đá, nhà công nghiệp bề thế nhất Fort Beulah, đường bệ đứng lên, giơ một cánh tay ra khiến Lorinda im tiếng, rồi cất giọng nam trầm vang rền như khúc “Jerusalem the Golden”: “Xin bà vui lòng chờ một lát, thưa quý bà! Tất cả chúng tôi ở địa phương này đều đã quen với những nguyên tắc chính trị của bà. Nhưng với tư cách chủ tọa, tôi có bổn phận đáng tiếc phải nhắc bà rằng Tướng Edgeways và bà Gimmitch đã được câu lạc bộ mời đến diễn thuyết trước chúng ta, còn bà, xin thứ lỗi cho tôi nói thẳng, thậm chí chẳng có họ hàng gì với một hội viên Rotary nào, mà chỉ có mặt tại đây với tư cách khách của Mục sư Falck, người được tất cả chúng ta kính trọng hơn bất cứ ai. Vì vậy, nếu bà vui lòng—À, xin cảm ơn bà!”
Lorinda Pike gieo mình xuống ghế, ngòi nổ trong người vẫn cháy. Ông Francis Tasbrough (tên ông ta hiệp vần với “low”) thì không gieo mình xuống; ông ta ngồi như Tổng Giám mục Canterbury trên ngai tổng giám mục.
Rồi Doremus Jessup nhảy phắt dậy để xoa dịu tất cả, bởi ông là bạn thân của Lorinda, còn với Francis Tasbrough thì từ thuở thiếu thời non choẹt nhất đã vừa chơi thân vừa căm ghét.
Doremus Jessup này, chủ bút kiêm chủ nhà xuất bản tờ Daily Informer, tuy là một doanh nhân có năng lực và một cây bút xã luận không thiếu dí dỏm cùng chất mộc mạc New England đậm đà, vẫn bị xem là kẻ lập dị số một của Fort Beulah. Ông có chân trong hội đồng nhà trường, hội đồng thư viện, và từng đứng ra giới thiệu những người như Oswald Garrison Villard, Norman Thomas và Đô đốc Byrd khi họ tới thị trấn diễn thuyết.
Jessup là một người đàn ông hơi nhỏ con, gầy gò, hay cười, da rám nắng, có bộ ria mép nhỏ màu xám và chòm râu xám nhỏ được tỉa tót gọn ghẽ—trong một cộng đồng mà để râu chẳng khác nào tự thú mình là nông dân, cựu binh Nội chiến hoặc tín đồ Cơ Đốc Phục Lâm. Những kẻ gièm pha Doremus bảo ông giữ bộ râu ấy chỉ để ra vẻ “trí thức” và “khác người”, cố làm ra dáng “nghệ sĩ”. Có lẽ họ nói đúng. Dù sao lúc này ông cũng nhảy nhót bước lên và nhỏ nhẹ:
“Chà, chim chóc trong cùng một tổ thảy đều đồng lòng. Bạn tôi, bà Pike, đáng lẽ phải biết rằng tự do ngôn luận sẽ biến thành sự phóng túng thuần túy khi nó đi quá xa đến mức chỉ trích Quân đội, bất đồng với Hội Con gái Cách mạng Mỹ, và bênh vực quyền lợi của Đám Đông. Vì thế, Lorinda, tôi nghĩ bà nên xin lỗi vị Tướng, người mà chúng ta phải biết ơn vì đã giải thích cho chúng ta biết các giai cấp thống trị của đất nước thực sự muốn gì. Nào, bạn tôi—đứng phắt dậy mà tạ lỗi đi.”
Ông nghiêm nghị nhìn xuống Lorinda, nhưng Medary Cole, chủ tịch Rotary, tự hỏi liệu Doremus có đang “giễu” họ không. Ông từng làm thế rồi. Phải—không—hẳn mình nhầm, bởi bà Lorinda Pike đang ngâm nga (mà không đứng lên): “Ồ, vâng! Tôi xin lỗi, thưa Tướng quân! Xin cảm ơn bài diễn văn khai sáng của ngài!”
Vị Tướng giơ bàn tay múp míp lên (trên những ngón tay hình xúc xích có cả nhẫn Hội Tam Điểm lẫn nhẫn West Point); ông cúi chào như Galahad hoặc một trưởng hầu bàn; rồi hét bằng giọng nam nhi nơi thao trường: “Không sao, không sao, thưa bà! Những tay chiến trận già chúng tôi chẳng bao giờ ngại một cuộc đấu khẩu lành mạnh. Có ai quan tâm đến những ý tưởng ngớ ngẩn của chúng tôi đến mức nổi giận với chúng tôi thì lại càng vui, hơ, hơ, hơ!”
Thế là mọi người cùng cười, và bầu không khí lại ngọt ngào êm ả. Chương trình kết thúc bằng màn Louis Rotenstern hát một loạt tiểu khúc ái quốc: “Marching through Georgia”, “Tenting on the Old Campground”, “Dixie”, “Old Black Joe” và “I’m Only a Poor Cowboy and I Know I Done Wrong”.
Cả Fort Beulah đều xếp Louis Rotenstern vào hạng “anh chàng tử tế”, một đẳng cấp chỉ thấp hơn “quý ông chân chính kiểu xưa” một bậc. Doremus Jessup thích đi câu cá và săn gà gô với ông ta; và ông cho rằng chẳng thợ may nào ở Đại lộ Thứ Năm có thể làm ra bộ đồ vải seersucker nào nhã hơn thế. Nhưng Louis là một kẻ hiếu chiến sô-vanh. Ông ta vẫn giải thích, và giải thích khá thường xuyên, rằng người sinh ra trong khu Do Thái ở miền Ba Lan thuộc Phổ không phải ông ta hay cha ông ta, mà là ông nội ông ta (người mà Doremus ngờ rằng đã mang một cái tên kém sang trọng và kém Bắc Âu hơn Rotenstern). Những vị anh hùng bỏ túi của Louis là Calvin Coolidge, Leonard Wood, Dwight L. Moody và Đô đốc Dewey (mà Dewey lại là người Vermont chính gốc, Louis hân hoan nói, dù bản thân ông ta sinh tại Flatbush, Long Island).
Ông ta không chỉ là người Mỹ 100 phần trăm; ông ta còn đòi thêm 40 phần trăm lãi suất sô-vanh trên số vốn gốc ấy. Dịp nào người ta cũng nghe ông ta nói: “Ta phải tống cổ hết bọn ngoại quốc này ra khỏi đất nước, và ý tôi là bọn Do Thái cũng chẳng kém gì bọn Ý, bọn Đông Âu hay bọn Tàu.” Louis hoàn toàn tin chắc rằng nếu lũ chính khách ngu dốt chịu rút bàn tay bẩn thỉu khỏi ngành ngân hàng, thị trường chứng khoán và vấn đề giờ làm việc của nhân viên bán hàng trong các cửa hiệu bách hóa, thì tất cả mọi người trong nước sẽ được hưởng lợi nhờ kinh doanh phát đạt, và ai nấy (kể cả nhân viên bán lẻ) đều sẽ giàu như Aga Khan.
Vì vậy, Louis trút vào những khúc hát không chỉ chất giọng cháy bỏng của một người lĩnh xướng giáo đường Do Thái ở Bydgoszcz, mà còn toàn bộ nhiệt tình dân tộc chủ nghĩa của mình, khiến tất cả đều hòa giọng trong những đoạn điệp khúc, đặc biệt là bà Adelaide Tarr Gimmitch với chất giọng nữ trầm lừng danh, vang như tiếng nhân viên nhà ga xướng tên chuyến tàu.
Bữa tiệc tan trong tiếng chào từ biệt vui vẻ ầm ào như thác đổ, và Doremus Jessup lẩm bẩm với bà vợ hiền Emma—một tâm hồn đôn hậu, vững vàng, hay lo nghĩ, thích đan len, chơi bài xếp và đọc tiểu thuyết của Kathleen Norris: “Anh chen ngang như thế có tệ lắm không?”
“Ồ không, Dormouse, anh làm hoàn toàn đúng. Em QUÝ Lorinda Pike, nhưng sao bà ấy CỨ phải phô trương và khoe khoang tất cả những tư tưởng Xã hội chủ nghĩa ngớ ngẩn của mình chứ?”
“Bà già Tory này!” Doremus nói. “Em có muốn mời con voi Xiêm, mụ Gimmitch ấy, ghé nhà uống một ly không?”
“Không đời nào!” Emma Jessup nói.
Và rốt cuộc, trong lúc các hội viên Rotary lục tục rời đi rồi tự phân chia nhau vào vô số xe hơi của họ như xáo bài và chia bài, chính Frank Tasbrough đã mời những người đàn ông chọn lọc hơn, trong đó có Doremus, về nhà mình dự cuộc vui tiếp theo.