Chết ở Venice — Chương 5
Chương 5 / 5 · Bài review Chết ở Venice
Vào tuần thứ tư lưu trú trên Lido, Gustav von Aschenbach nhận thấy một vài dấu hiệu đáng ngại liên quan đến thế giới bên ngoài. Trước hết, ông có cảm tưởng rằng, trong khi mùa du lịch đang lên, lượng khách ở khách sạn mình lại giảm chứ không tăng, và đặc biệt, dường như tiếng Đức quanh ông đang cạn dần rồi tắt hẳn, đến nỗi cuối cùng, cả bên bàn ăn lẫn ngoài bãi biển, tai ông chỉ còn nghe thấy những âm thanh ngoại quốc. Rồi một hôm, trong lúc trò chuyện ở hiệu làm tóc mà giờ đây ông thường lui tới, ông bắt được một lời khiến mình khựng lại. Người thợ nhắc đến một gia đình Đức vừa rời đi sau một thời gian ngắn lưu lại, rồi vừa tán chuyện vừa nịnh nọt nói thêm: “Ngài vẫn ở lại; ngài không sợ tai họa ấy.” Aschenbach nhìn hắn. “Tai họa ấy?” ông nhắc lại. Kẻ lắm lời bỗng im bặt, giả bộ bận rộn, làm như không nghe thấy câu hỏi, và khi bị hỏi gặng hơn, hắn bảo mình chẳng biết gì rồi tìm cách đánh trống lảng bằng một tràng lời lẽ lúng túng.
Chuyện ấy xảy ra vào khoảng giữa trưa. Buổi chiều, trong tiết trời lặng gió và dưới nắng cháy gay gắt, Aschenbach đi Venice; bởi cơn cuồng thúc đẩy ông bám theo hai chị em người Ba Lan mà ông đã thấy cùng người nữ tùy tùng đi về phía cầu tàu. Ông không tìm thấy thần tượng ở San Marco. Nhưng lúc uống trà, ngồi bên chiếc bàn sắt tròn nhỏ của mình ở phía râm mát quảng trường, ông chợt đánh hơi thấy trong không khí một mùi lạ mà giờ đây ông ngỡ như đã nhiều ngày nay nó vẫn chạm đến giác quan mình nhưng không lọt vào ý thức—một thứ mùi ngòn ngọt của dược phẩm, gợi nhớ cảnh khốn cùng, những vết thương và một sự sạch sẽ khả nghi. Ông trầm ngâm dò xét rồi nhận ra nó, dùng xong bữa nhẹ và rời quảng trường ở phía đối diện thánh đường. Trong những lối hẹp, mùi ấy nồng thêm. Ở các góc phố dán những cáo thị in sẵn, trong đó các bậc phụ mẫu thành phố cảnh báo dân chúng rằng, vì một số chứng bệnh đường tiêu hóa vốn thường xảy ra trong thời tiết này, không nên ăn hàu, sò, cũng không nên dùng nước kênh đào. Tính chất tô hồng của sắc lệnh thật quá rõ. Từng nhóm dân chúng im lặng tụ tập trên cầu và ngoài quảng trường; còn người khách lạ đứng giữa họ, dò xét và trầm tư.
Ông hỏi một chủ hiệu đang tựa cửa cửa hàng, giữa những chuỗi san hô và đồ trang sức bằng thạch anh tím giả, về cái mùi tai ác ấy. Người đàn ông nhìn ông bằng đôi mắt nặng nề rồi vội gượng tỉnh táo. “Một biện pháp phòng ngừa, thưa ngài!” hắn vừa đáp vừa khoa tay. “Một quy định của cảnh sát mà người ta phải tán thành. Thời tiết này thật ngột ngạt, gió Scirocco không có lợi cho sức khỏe. Tóm lại, ngài hiểu đấy—một sự thận trọng có lẽ hơi quá mức…” Aschenbach cảm ơn hắn rồi đi tiếp. Ngay cả trên chiếc tàu thủy đưa ông trở về Lido, giờ đây ông cũng ngửi thấy mùi của chất diệt khuẩn.
Trở về khách sạn, ông lập tức vào đại sảnh, đến bàn báo và xem xét các tờ báo. Ông không tìm thấy gì trong những tờ ngoại văn. Báo chí quê nhà đăng các lời đồn, dẫn những con số dao động, thuật lại những phủ nhận chính thức rồi nghi ngờ tính xác thực của chúng. Vậy là việc người Đức và người Áo rút đi đã có lời giải thích. Người thuộc các quốc gia khác hiển nhiên không biết gì, không ngờ vực gì, vẫn chưa bất an. “Người ta phải im lặng!” Aschenbach kích động nghĩ, trong lúc ném trả những tờ báo xuống bàn. “Người ta phải giấu kín chuyện ấy!” Nhưng đồng thời, lòng ông lại tràn đầy thỏa mãn trước cuộc phiêu lưu mà thế giới bên ngoài đang sắp sa vào. Bởi cũng như tội ác, đam mê không hợp với trật tự và phúc lợi được bảo đảm của đời thường; bất cứ sự lỏng lẻo nào trong cơ cấu thị dân, bất cứ cảnh hỗn loạn hay tai ương nào của thế giới cũng đều phải được nó hoan nghênh, bởi nó có thể mơ hồ hy vọng tìm thấy lợi thế cho mình trong đó. Vì thế Aschenbach cảm nhận một niềm thỏa mãn u tối trước những diễn biến bị nhà chức trách che đậy trong các ngõ hẻm bẩn thỉu của Venice—cái bí mật hiểm độc của thành phố, vốn hòa làm một với bí mật sâu kín nhất của riêng ông và ông cũng hết sức thiết tha gìn giữ. Bởi điều duy nhất kẻ si tình lo sợ là Tadzio có thể ra đi, và không phải không kinh hoàng, ông nhận ra rằng nếu điều ấy xảy ra, ông sẽ không còn biết sống thế nào nữa.
Gần đây, ông không còn bằng lòng phó thác sự gần gũi và cảnh ngắm người đẹp cho nếp thường nhật cùng vận may nữa; ông đuổi theo cậu, ông rình bám cậu. Chẳng hạn vào Chủ nhật, người Ba Lan không bao giờ xuất hiện ngoài bãi biển; ông đoán họ dự lễ ở San Marco, liền vội vã đến đó, và từ sức nóng rực của quảng trường bước vào bóng hoàng hôn dát vàng trong thánh đường, ông tìm thấy người mình hằng thiếu vắng đang cúi trên bục cầu nguyện giữa buổi lễ. Bấy giờ ông đứng phía sau, trên nền khảm đã nứt vỡ, giữa đám người quỳ gối, rì rầm và làm dấu thánh; vẻ tráng lệ đặc quánh của ngôi đền phương Đông đè nặng một cách xa hoa lên các giác quan ông. Phía trước, vị linh mục mang lễ phục nặng nề đi lại, cử hành nghi thức và hát; khói hương cuộn lên, phủ mờ những ngọn lửa yếu ớt của nến bàn thờ, và trong mùi hiến tế ngọt lịm, âm u, dường như một mùi khác đang len vào: mùi của thành phố lâm bệnh. Nhưng xuyên qua màn khói cùng ánh lấp lánh, Aschenbach thấy người đẹp phía trước quay đầu, tìm ông và nhìn thấy ông.
Rồi khi đám đông tuôn qua những cổng lớn mở rộng ra quảng trường sáng rực đầy chim bồ câu, kẻ mê muội ẩn mình trong tiền sảnh, ông giấu mình, ông mai phục. Ông thấy người Ba Lan rời nhà thờ, thấy hai chị em trang trọng từ biệt bà mẹ và bà quay về theo hướng Piazzetta; ông xác định rằng người đẹp, hai cô chị trông như nữ tu cùng bà gia sư rẽ sang phải, đi qua cổng tháp đồng hồ vào Merceria, và sau khi để họ đi trước một quãng, ông bám theo, lén lút theo họ trong cuộc dạo chơi xuyên Venice.
Ông phải dừng lại khi họ nấn ná, phải lẩn vào những quán ăn và sân trong để nhường họ đi qua lúc quay lại; ông mất dấu họ, nóng bừng và kiệt sức tìm họ trên những cây cầu và trong các ngõ cụt bẩn thỉu, rồi chịu đựng những phút khổ hình chết người khi bất chợt thấy họ đi ngược về phía mình trong một lối hẹp không thể tránh sang đâu. Tuy vậy, không thể nói rằng ông đau khổ. Đầu óc và trái tim ông đều say, còn bước chân ông tuân theo chỉ thị của con quỷ lấy việc chà đạp lý trí và phẩm giá con người dưới chân mình làm lạc thú.
Rồi đâu đó, hẳn Tadzio và người nhà xuống một chiếc gondola, và Aschenbach, người đã được một mái nhô, một vòi phun nước che khuất trong lúc họ bước lên thuyền, cũng làm như vậy ngay sau khi họ rời bờ. Ông nói nhanh và khe khẽ khi hứa một khoản tiền thưởng hậu hĩnh để dặn người chèo hãy kín đáo bám theo, cách một quãng, chiếc gondola vừa khuất quanh góc kia; và một cơn rờn rợn lướt qua ông khi gã kia, với vẻ sốt sắng ma mãnh của một kẻ chuyên môi giới cơ hội, bảo đảm cùng bằng giọng ấy rằng ông sẽ được phục vụ, rằng ông chắc chắn sẽ được phục vụ chu đáo.
Thế là, tựa vào những tấm nệm đen mềm mại, ông lướt đi và chòng chành theo sau con thuyền đen có mũi nhọn kia, vào dấu vết của nó đam mê đã trói buộc ông. Đôi khi nó biến khỏi tầm mắt: bấy giờ ông cảm thấy buồn khổ và bất an. Nhưng người dẫn đường, như thể vốn thành thạo những phi vụ thế này, bao giờ cũng biết dùng những cú xoay xở khôn ngoan, những đường cắt ngang mau lẹ và các lối tắt để đưa điều ông khao khát trở lại trước mắt. Không khí im lặng và nồng mùi; mặt trời xuyên qua màn hơi mù nhuộm bầu trời màu đá phiến mà thiêu đốt nặng nề. Nước vỗ óc ách vào gỗ và đá. Tiếng gọi của người chèo gondola, nửa cảnh báo nửa chào hỏi, từ xa được đáp lại trong cõi im lặng của mê cung, theo một quy ước kỳ lạ. Từ những khu vườn nhỏ trên cao, những chùm hoa trắng và tía thơm mùi hạnh nhân rủ xuống các bức tường mục. Các khung cửa sổ kiểu Ả Rập hiện bóng trong màn đục. Những bậc đá cẩm thạch của một nhà thờ đi xuống dòng nước; một người hành khất ngồi xổm trên đó, than vãn cảnh khốn cùng, chìa chiếc mũ ra và để lộ lòng trắng mắt như thể mù; một người buôn đồ cổ trước cái hang của mình khúm núm ra hiệu mời khách qua đường dừng lại, hy vọng lừa được ông ta. Đó là Venice, người đẹp xu nịnh và khả nghi—thành phố nửa cổ tích, nửa cạm bẫy khách phương xa, nơi nghệ thuật từng phồn sinh xa hoa trong bầu không khí thối rữa và từng gợi cho các nhạc sĩ những âm thanh đu đưa, ve vuốt ru ngủ. Kẻ phiêu lưu cảm thấy dường như mắt mình đang uống lấy vẻ xa hoa ấy, tai mình được những giai điệu ấy ve vãn; ông cũng nhớ rằng thành phố đang lâm bệnh và vì hám lợi mà che giấu chuyện đó, rồi càng buông thả dõi tìm chiếc gondola đang bồng bềnh phía trước.
Vậy là kẻ rối trí không còn biết cũng không còn muốn gì khác ngoài việc không ngừng đuổi theo đối tượng đã thiêu đốt mình, mơ về cậu khi cậu vắng mặt, và theo cung cách của những người đang yêu, thốt những lời âu yếm với bóng hình đơn thuần của cậu. Cô độc, xứ lạ và niềm hạnh phúc của một cơn say muộn mà sâu đã khích lệ, thuyết phục ông để mặc mình phạm cả những điều kỳ quái nhất mà không e dè, không đỏ mặt; như có lần, tối muộn từ Venice trở về, ông đã dừng trước cửa phòng người đẹp ở tầng một khách sạn, trong cơn say hoàn toàn tì trán vào bản lề cửa và hồi lâu không sao rời khỏi nơi ấy, bất chấp nguy cơ bị bắt gặp và phát hiện trong tư thế điên rồ đến thế.
Dẫu vậy, không phải không có những khoảnh khắc ông dừng lại và tỉnh trí đôi phần. Trên những con đường nào thế này! bấy giờ ông kinh hãi nghĩ. Trên những con đường nào! Như mọi người đàn ông mà công trạng tự nhiên khơi dậy một niềm quan tâm quý tộc đối với dòng dõi mình, trong các thành tựu và thành công của đời mình, ông vẫn quen tưởng nhớ tổ tiên, hình dung để đoan chắc sự tán thành, niềm hài lòng, hay chí ít sự kính trọng bất đắc dĩ của họ. Ngay lúc này, ngay tại đây, đang mắc vào một trải nghiệm vô phép đến thế, đang đắm trong những cuộc phóng túng cảm xúc kỳ dị đến thế, ông cũng nghĩ đến họ; ông nhớ sự nghiêm khắc đầy tự chủ, khí chất nam nhi chính trực trong bản tính họ và mỉm cười u uất. Họ sẽ nói gì? Nhưng quả vậy, họ sẽ nói gì về cả cuộc đời ông, một cuộc đời đã lệch khỏi đời họ đến mức gần như thoái hóa; về cuộc đời bị nghệ thuật mê hoặc này, chính nó từng khiến thời trẻ ông, với đầu óc thị dân của cha ông, buông những nhận xét giễu cợt đến thế, mà về căn bản lại giống đời họ biết bao! Ông cũng đã phụng sự, ông cũng đã rèn mình trong kỷ luật khắc nghiệt; ông cũng từng là lính, là chiến binh như nhiều người trong số họ—bởi nghệ thuật là một cuộc chiến, một trận chiến bào mòn mà ngày nay con người chẳng thể kham nổi lâu. Một đời tự thắng mình và bất chấp tất cả, một đời cay nghiệt, kiên gan và khắc kỷ mà ông đã biến thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng tinh tế, hợp thời—hẳn ông có quyền gọi nó là nam nhi, là dũng cảm; và ông ngỡ như Eros, vị thần đã chế ngự mình, bằng cách nào đó đặc biệt phù hợp và ưu ái một cuộc đời như thế. Chẳng phải Eros từng đặc biệt được những dân tộc dũng mãnh nhất tôn kính đó sao, thậm chí chẳng phải người ta nói rằng nhờ lòng dũng cảm mà vị thần đã hưng thịnh trong các đô thành của họ đó sao? Vô số anh hùng trận mạc thời xưa đã tự nguyện mang ách của thần, bởi không sự hạ mình nào do thần áp đặt bị xem là nhục nhã; và những hành vi lẽ ra sẽ bị quở trách như dấu hiệu của hèn nhát nếu được làm vì mục đích khác—quỳ mọp, thề thốt, van xin khẩn thiết và cư xử như nô lệ—không những không làm kẻ đang yêu hổ thẹn, mà trái lại còn đem về cho chàng lời ngợi khen.
Lối nghĩ của kẻ mê muội đã được định hình như vậy; bằng cách ấy ông tìm chỗ chống đỡ, tìm cách giữ gìn phẩm giá mình. Nhưng đồng thời ông vẫn không ngừng hướng một sự chú ý dò xét và bướng bỉnh vào những diễn biến ô uế trong lòng Venice, vào cuộc phiêu lưu của thế giới bên ngoài đang tối tăm hòa lẫn với cuộc phiêu lưu trong lòng ông và nuôi dưỡng đam mê ông bằng những hy vọng mơ hồ, vô luật. Vì nóng lòng muốn biết điều gì mới mẻ và chắc chắn về tình trạng hoặc sự tiến triển của tai họa, ông lục tìm báo chí quê nhà trong các quán cà phê thành phố, bởi chúng đã biến mất khỏi bàn báo của đại sảnh khách sạn mấy ngày nay. Những lời khẳng định và đính chính thay phiên nhau xuất hiện. Số ca mắc bệnh, tử vong được cho là hai mươi, bốn mươi, thậm chí một trăm hoặc hơn, rồi ngay sau đó bất kỳ sự xuất hiện nào của dịch bệnh, nếu không bị thẳng thừng phủ nhận, cũng bị quy thành những ca hoàn toàn riêng lẻ từ bên ngoài đưa vào. Những lời lo ngại cảnh báo, những phản đối trò chơi nguy hiểm của nhà chức trách Ý chen lẫn trong đó. Không sao đạt được điều chắc chắn.
Tuy nhiên, kẻ cô độc ý thức mình có một quyền đặc biệt được dự phần vào bí mật; và dù bị đứng ngoài, ông vẫn tìm thấy niềm thỏa mãn quái dị trong việc đặt những câu hỏi gài bẫy cho kẻ biết chuyện, buộc họ, những người đã liên kết với nhau để im tiếng, phải nói dối trắng trợn. Một hôm, trong bữa sáng tại phòng ăn lớn, ông chất vấn viên quản lý—người đàn ông bé nhỏ mặc áo đuôi tôm kiểu Pháp, bước đi khe khẽ giữa các thực khách, vừa cúi chào vừa trông nom, và cũng dừng bên chiếc bàn nhỏ của Aschenbach để tán vài câu. Vị khách hỏi với vẻ hờ hững, tiện thể, rằng vì sao thực ra—vì cớ gì trên đời—người ta đã khử trùng Venice từ một thời gian nay? “Đó là,” kẻ khúm núm đáp, “một biện pháp của cảnh sát, nhằm kịp thời và đúng bổn phận ngăn chặn mọi điều bất lợi hoặc xáo trộn sức khỏe công cộng mà thời tiết hầm hập, nóng khác thường này có thể gây nên.” “Cảnh sát thật đáng khen,” Aschenbach đáp; sau khi trao đổi thêm vài nhận xét khí tượng, viên quản lý cáo lui.
Cũng chính ngày hôm ấy, vào buổi tối sau bữa ăn, một nhóm nhỏ ca sĩ đường phố từ thành phố đến biểu diễn trong vườn trước khách sạn. Họ gồm hai đàn ông và hai đàn bà, đứng bên cột sắt của một ngọn đèn vòng cung, ngẩng những khuôn mặt được ánh sáng trắng chiếu lên về phía sân hiên lớn, nơi đoàn khách nghỉ dưỡng vừa dùng cà phê cùng đồ uống giải nhiệt vừa thưởng thức màn trình diễn dân gian. Nhân viên khách sạn, các cậu coi thang máy, bồi bàn và nhân viên văn phòng đứng nghe tại những cửa dẫn vào đại sảnh. Gia đình người Nga, thưởng thức một cách chăm chú và kỹ lưỡng, đã sai mang những ghế mây xuống vườn để ngồi gần các nghệ sĩ hơn, và họ ngồi đó thành một nửa vòng tròn đầy biết ơn. Sau lưng chủ nhân là bà nô bộc già với khăn trùm đầu như khăn xếp.
Đàn mandolin, guitar, phong cầm và một cây vĩ cầm rền rĩ cùng hoạt động dưới tay những nghệ sĩ hành khất. Những đoạn hòa tấu luân phiên với các tiết mục hát; người đàn bà trẻ hơn, giọng chói và như vịt kêu, cùng chàng giọng tenor hát giả thanh ngọt lịm nhập vào một bản song ca tình ái khát khao. Nhưng tài năng đích thực và thủ lĩnh của đoàn rõ ràng là người đàn ông còn lại, chủ nhân cây guitar, thuộc kiểu vai hề baritone, gần như không có giọng nhưng có tài diễn nét mặt và một sinh lực hài hước đáng kể. Nhiều lần, ôm nhạc cụ lớn trong tay, hắn tách khỏi nhóm, vừa diễn vừa tiến về phía hàng ghế trước, nơi những trò hề tinh quái của hắn được thưởng bằng tiếng cười cổ vũ. Đặc biệt người Nga ở hàng ghế dưới tỏ ra mê thích trước sự linh hoạt đậm chất phương Nam ấy, và bằng tiếng vỗ tay, tiếng hò reo, họ khích lệ hắn càng lúc càng phô diễn táo bạo và tự tin hơn.
Aschenbach ngồi bên lan can, thỉnh thoảng làm mát đôi môi bằng hỗn hợp nước lựu và soda đang lấp lánh đỏ như hồng ngọc trong chiếc cốc trước mặt. Thần kinh ông tham lam tiếp nhận những âm thanh ê a, những giai điệu tầm thường mà não nuột, bởi đam mê làm tê liệt năng lực kén chọn và khiến người ta nghiêm túc chiều theo những kích thích mà sự tỉnh táo hẳn sẽ đón nhận bằng óc hài hước hoặc bực bội khước từ. Những cú nhảy nhót của gã hề đã vặn nét mặt ông thành một nụ cười cố định, bắt đầu đau nhức. Ông ngồi uể oải, trong khi một sự chú ý cực độ căng cứng nội tâm, bởi chỉ cách ông sáu bước, Tadzio đang tựa vào lan can đá.
Cậu đứng đó trong bộ đồ trắng thắt đai đôi khi mặc vào bữa chính, với vẻ duyên dáng không thể tránh khỏi và như bẩm sinh, cẳng tay trái đặt trên lan can, hai chân bắt chéo, bàn tay phải chống vào hông chịu lực, rồi nhìn xuống đám ca sĩ rong bằng một vẻ khó gọi là nụ cười, chỉ là sự tò mò xa xôi, một thái độ tiếp nhận lịch thiệp. Đôi khi cậu đứng thẳng lên, ưỡn ngực, rồi dùng một cử động đẹp đẽ của hai cánh tay kéo chiếc áo choàng trắng xuống qua đai da. Nhưng cũng có lúc—và người luống tuổi nhận thấy điều ấy với vẻ đắc thắng, với lý trí chao đảo mà cũng đầy kinh hãi—cậu chậm rãi, thận trọng, hoặc nhanh và đột ngột như muốn đánh úp, quay đầu qua vai trái về phía chỗ người si tình đang ngồi. Cậu không bắt gặp mắt ông, bởi một nỗi lo nhục nhã buộc kẻ rối trí phải sợ hãi ghìm giữ ánh nhìn. Ở cuối sân hiên là những người đàn bà bảo hộ Tadzio, và sự thể đã tới mức kẻ si tình phải sợ mình bị chú ý và sinh nghi. Quả vậy, nhiều lần ngoài bãi biển, trong đại sảnh khách sạn và trên Piazza San Marco, với một sự tê cứng, ông đã phải nhận thấy người ta gọi Tadzio rời khỏi chỗ gần ông, cố ý giữ cậu tránh xa ông—và phải hiểu trong đó một sự sỉ nhục khủng khiếp khiến lòng kiêu hãnh của ông quằn quại trong những đau đớn chưa từng biết, nhưng lương tâm lại ngăn ông khước từ nó.
Trong lúc ấy, tay guitar đã bắt đầu một khúc độc tấu do chính mình đệm, một bài hát rong nhiều đoạn lúc bấy giờ đang thịnh hành khắp nước Ý, mà mỗi khi tới điệp khúc, cả đoàn lại đồng thanh góp giọng cùng toàn bộ nhạc cụ; hắn biết trình diễn bài ấy theo một lối giàu hình thể và kịch tính. Thân hình mảnh khảnh, khuôn mặt cũng gầy guộc hốc hác, hắn tách khỏi đồng bọn, chiếc mũ phớt tồi tàn ngả ra sau gáy để một búi tóc đỏ phồng lên dưới vành, đứng trên sỏi trong tư thế ngạo nghễ hỗn xược, và theo tiếng dây đàn rung lanh lảnh, hắn phóng lên sân hiên những lời bông đùa bằng lối hát-nói đầy sức ép, trong khi mạch máu trên trán phồng lên vì gắng sức trình diễn. Hắn dường như không thuộc giống người Venice mà giống nòi hề Napoli hơn, nửa ma cô nửa diễn viên, thô bạo và liều lĩnh, nguy hiểm mà mua vui. Bài hát, mà lời lẽ tự nó chỉ ngớ ngẩn, qua miệng hắn, qua nét mặt, cử động thân thể, qua cách hắn nháy mắt đầy ẩn ý và trơn tru đưa lưỡi nơi khóe môi, lại có điều gì nước đôi, mơ hồ tục tĩu. Từ cổ áo mềm của chiếc sơ-mi thể thao mặc cùng trang phục phố thị, chiếc cổ gầy của hắn vươn lên với quả táo Adam lớn khác thường, trông trần trụi. Khuôn mặt nhợt nhạt, mũi tẹt, mà qua những đường nét không râu rất khó đoán tuổi, dường như bị cày xới bởi những nét nhăn nhó và trụy lạc; và hai rãnh hằn thách thức, độc đoán, gần như hung dã giữa đôi mày hung đỏ hợp với cái nhếch cười của cái miệng linh động một cách kỳ lạ. Nhưng điều thật sự kéo sự chú tâm sâu sắc của kẻ cô độc về phía hắn là nhận xét rằng cái nhân vật đáng ngờ ấy dường như cũng mang theo bầu không khí đáng ngờ của riêng mình. Bởi mỗi lần điệp khúc trở lại, ca sĩ lại vừa làm trò vừa bắt tay chào mà thực hiện một vòng diễu hành lố bịch, đưa hắn đi ngay bên dưới chỗ Aschenbach ngồi; và mỗi lần như thế, từ quần áo, từ thân thể hắn, một luồng mùi acid carbolic nồng nặc lại bay lên sân hiên.
Hết đoạn hát, hắn bắt đầu đi thu tiền. Hắn khởi đầu nơi người Nga, vốn sẵn lòng bố thí, rồi bước lên các bậc thềm. Khi biểu diễn hắn ngạo ngược bao nhiêu thì lên đây lại hạ mình bấy nhiêu. Còng lưng và lê chân khúm núm, hắn lẻn lỏi giữa các bàn; một nụ cười khúm núm đầy nham hiểm phô hàm răng chắc khỏe, trong khi hai rãnh giữa đôi mày đỏ vẫn còn đe dọa. Người ta nhìn sinh vật kỳ dị đang thu tiền mua vui ấy bằng tò mò xen chút ghê tởm, dùng những đầu ngón tay khép chặt thả đồng xu vào chiếc mũ phớt và cẩn thận không chạm vào hắn. Việc khoảng cách thân thể giữa kẻ diễn trò và người đoan chính bị xóa bỏ, dẫu cuộc vui có lớn tới đâu, bao giờ cũng gây nên một sự ngượng ngùng nào đó. Hắn cảm thấy điều ấy và tìm cách tạ lỗi bằng vẻ luồn cúi. Hắn đến chỗ Aschenbach, và cùng hắn là cái mùi mà dường như không một ai xung quanh bận tâm.
“Nghe đây!” kẻ cô độc nói khe khẽ, gần như máy móc. “Người ta đang khử trùng Venice. Vì sao?”—Gã mua vui đáp khàn khàn: “Bởi cảnh sát thôi! Đó là quy định, thưa ngài, khi trời nóng thế này và có gió Scirocco. Gió Scirocco gây ngột ngạt. Nó không tốt cho sức khỏe…” Hắn nói như kinh ngạc vì người ta có thể hỏi chuyện như vậy, rồi dùng lòng bàn tay minh họa gió Scirocco gây ngột ngạt đến mức nào.—“Vậy là không có tai họa nào ở Venice?” Aschenbach hỏi rất nhỏ qua kẽ răng.—Những đường nét rắn rỏi trên mặt tên hề biến thành một nét nhăn nhó bối rối khôi hài. “Một tai họa? Nhưng tai họa gì? Gió Scirocco là tai họa sao? Hay cảnh sát chúng tôi là tai họa? Ngài thích nói đùa rồi! Một tai họa! Sao không nói luôn thế đi! Một biện pháp phòng ngừa, ngài hiểu chứ! Một chỉ thị cảnh sát nhằm chống lại tác động của thời tiết ngột ngạt…” Hắn khoa tay.—“Được rồi,” Aschenbach lại nói ngắn và nhỏ, rồi nhanh chóng thả một đồng tiền lớn quá mức vào chiếc mũ. Sau đó ông dùng mắt ra hiệu bảo hắn đi. Hắn vừa cúi gập người vừa nhếch cười vâng lời; nhưng hắn chưa tới cầu thang thì hai nhân viên khách sạn đã chồm vào, ghé sát mặt họ vào mặt hắn mà tra hỏi chéo bằng giọng thì thầm. Hắn nhún vai, hắn cam đoan, hắn thề mình đã giữ kín; người ta có thể thấy thế. Được thả ra, hắn trở lại vườn, và sau một cuộc bàn bạc ngắn với đồng bọn dưới ngọn đèn vòng cung, hắn lại bước ra một lần nữa để hát khúc cảm tạ và từ biệt.
Đó là một bài mà kẻ cô độc không nhớ mình từng nghe; một ca khúc táo tợn bằng thứ phương ngữ khó hiểu, có điệp khúc cười mà cả đoàn cứ đều đặn cùng cười hết hơi hết sức. Ở đó cả lời ca lẫn tiếng nhạc đệm đều ngưng, không còn gì ngoài một tràng cười được sắp xếp theo một tiết tấu nào đó nhưng được thể hiện hết sức tự nhiên, mà đặc biệt ca sĩ chính, với tài năng lớn, biết làm cho sống động đến mức giống thật hoàn toàn. Khi khoảng cách nghệ thuật giữa hắn và các vị khách được lập lại, hắn đã tìm lại toàn bộ vẻ ngạo ngược, và tiếng cười giả tạo của hắn trơ tráo phóng lên sân hiên chính là tiếng cười nhạo. Ngay gần cuối phần lời có âm tiết của khổ hát, hắn dường như đã phải vật lộn với một cơn nhột không sao cưỡng nổi. Hắn nức nở, giọng chao đảo, ép tay lên miệng, so vai lại; rồi đúng khoảnh khắc định sẵn, tiếng cười bất trị bật ra, tru lên và nổ tung khỏi hắn, chân thật đến mức gây lây, truyền sang người nghe, khiến cả trên sân hiên cũng lan ra một niềm vui không đối tượng, chỉ sống bằng chính nó. Nhưng chính điều ấy dường như làm sự cuồng náo của ca sĩ tăng gấp đôi. Hắn khuỵu gối, vỗ đùi, ôm hai mạng sườn, muốn cười đến vỡ bụng; hắn không còn cười nữa, hắn gào lên; hắn trỏ ngón tay lên trên như thể chẳng có gì khôi hài hơn cái đám người đang cười kia, và cuối cùng tất cả mọi người trong vườn cùng trên hiên đều cười, kể cả các bồi bàn, cậu coi thang máy và gia nhân đứng nơi cửa.
Aschenbach không còn ngả mình trong ghế nữa, ông ngồi thẳng lên như toan kháng cự hay bỏ chạy. Nhưng tiếng cười, mùi bệnh viện bay lên và sự gần gũi của người đẹp đan lại quanh ông thành một bùa mê trong mộng, không thể xé đứt, không thể thoát ra, giam giữ đầu óc cùng tâm trí ông. Giữa cảnh mọi người chuyển động và phân tán, ông dám liếc sang Tadzio; và khi làm vậy, ông được phép nhận thấy rằng, đáp lại cái nhìn của ông, người đẹp cũng giữ vẻ nghiêm trang, hệt như cậu điều chỉnh hành vi và nét mặt theo người kia, và bởi người ấy rút khỏi tâm trạng chung nên nó cũng không có quyền lực gì đối với cậu. Sự thuận theo vừa trẻ thơ vừa đầy tương giao ấy có điều gì làm người ta buông vũ khí, làm người ta choáng ngợp đến mức người tóc hoa râm phải khó nhọc lắm mới không vùi mặt vào hai bàn tay. Ông cũng có cảm tưởng rằng đôi lần Tadzio đứng thẳng lên, hít sâu là dấu hiệu của một tiếng thở dài, một cơn tức ngực. “Cậu ấy ốm yếu, có lẽ sẽ không sống đến già,” ông lại nghĩ với vẻ khách quan mà cơn say và nỗi khát khao đôi khi giải phóng mình tới một cách lạ lùng; rồi sự lo lắng thuần khiết cùng một niềm thỏa mãn phóng túng đồng thời tràn ngập trái tim ông.
Trong lúc đó, những người Venice đã biểu diễn xong và rút đi. Tiếng vỗ tay tiễn họ, còn người dẫn đầu không quên tô điểm màn lui gót bằng những trò hề. Dáng lê chân, những nụ hôn gió của hắn bị cười nhạo, nên hắn càng làm quá lên. Khi đồng bọn đã ra ngoài, hắn còn giả bộ chạy lùi đâm đau điếng vào một cột đèn rồi khom lưng như quặn đau mà lẻn về phía cổng. Cuối cùng ở đó, hắn đột ngột vứt bỏ chiếc mặt nạ kẻ xui xẻo khôi hài, đứng thẳng lên, thậm chí bật người nhanh nhẹn, trơ tráo lè lưỡi về phía khách trên sân hiên rồi lẩn vào bóng tối. Đoàn khách nghỉ dưỡng tản đi; Tadzio từ lâu đã không còn đứng bên lan can. Nhưng trước sự ngạc nhiên của bồi bàn, kẻ cô độc vẫn ngồi rất lâu bên chút nước lựu còn lại trên chiếc bàn nhỏ. Đêm dần trôi, thời gian tan rã. Nhiều năm trước, trong nhà cha mẹ ông từng có một chiếc đồng hồ cát—bỗng ông lại thấy vật nhỏ bé mong manh mà đầy ý nghĩa ấy như thể nó đang đứng trước mặt. Im lặng, mịn màng, cát màu đỏ gỉ chảy qua eo kính hẹp; và khi cát trong khoang trên gần cạn, một xoáy nhỏ, xiết mạnh đã hình thành ở đó.
Ngay chiều hôm sau, kẻ ngoan cố lại tiến thêm một bước mới trong việc thử thách thế giới bên ngoài, và lần này thành công hết mức có thể. Từ quảng trường San Marco, ông bước vào văn phòng du lịch Anh nằm tại đó, và sau khi đổi một ít tiền ở quầy, với vẻ mặt của một người nước ngoài đa nghi, ông đặt câu hỏi tai ác cho viên thư ký đang phục vụ mình. Đó là một người Anh trẻ tuổi mặc đồ len, tóc rẽ giữa, hai mắt nằm gần nhau và mang vẻ trung thành điềm đạm của một bản tính vốn trông xa lạ, kỳ lạ biết bao giữa miền Nam ma mãnh, lanh lẹ. Anh ta bắt đầu: “Không có gì đáng lo, thưa ngài. Một biện pháp không mang ý nghĩa nghiêm trọng. Những chỉ thị như vậy thường được ban hành để phòng ngừa tác động có hại cho sức khỏe của cái nóng và gió Scirocco…” Nhưng khi ngước đôi mắt xanh lên, anh ta gặp cái nhìn của người khách, một cái nhìn mệt mỏi và hơi buồn, hướng vào môi anh với chút khinh miệt. Người Anh đỏ mặt. “Đây là,” anh tiếp tục, giọng nhỏ đi và hơi xúc động, “lời giải thích chính thức mà ở đây người ta cho là nên khăng khăng duy trì. Tôi xin nói với ngài rằng đằng sau còn có chuyện khác.” Rồi bằng lối nói thành thật, ung dung của mình, anh ta kể sự thật.
Từ nhiều năm nay, dịch tả Ấn Độ đã biểu lộ xu hướng lan rộng và di chuyển ngày càng mạnh. Sinh ra từ những đầm lầy nóng ẩm của châu thổ sông Hằng, bốc lên cùng hơi thở độc địa của vùng hoang dã nguyên thủy, phì nhiêu mà vô dụng, gồm rừng rậm và đảo hoang bị con người lánh xa, nơi hổ rình trong những bụi tre, dịch bệnh đã hoành hành dai dẳng và dữ dội khác thường trên khắp Hindustan, lan về phía đông tới Trung Quốc, về phía tây tới Afghanistan và Ba Tư, rồi theo những tuyến đường chính của thương mại đoàn lữ hành, mang nỗi kinh hoàng tới tận Astrakhan, thậm chí tận Moskva. Nhưng trong lúc châu Âu run sợ bóng ma ấy từ đó sẽ tiến vào bằng đường bộ, thì do các thương thuyền Syria mang qua biển, gần như cùng lúc nó đã xuất hiện ở nhiều cảng Địa Trung Hải, ngóc đầu tại Toulon và Malaga, vài lần phô mặt nạ ở Palermo và Napoli, và dường như nhất quyết không rời toàn xứ Calabria cùng Apulia. Miền bắc bán đảo vẫn được dung tha. Tuy nhiên vào giữa tháng Năm năm ấy, ngay trong cùng một ngày tại Venice, người ta tìm thấy những vi khuẩn phẩy khủng khiếp trong thi thể gầy quắt, đen sạm của một người phụ việc trên thuyền và một người đàn bà bán rau. Các ca bệnh bị giấu kín. Nhưng sau một tuần đã thành mười, rồi hai mươi, ba mươi ca, hơn nữa ở những khu khác nhau. Một người đàn ông từ tỉnh Áo, từng ở Venice vui chơi vài ngày, sau khi về thị trấn quê nhà đã chết với các triệu chứng không thể lầm, và vì thế những lời đồn đầu tiên về tai họa giáng xuống thành phố đầm phá đã lọt vào nhật báo Đức. Nhà chức trách Venice đáp rằng tình hình y tế của thành phố chưa bao giờ tốt hơn, đồng thời áp dụng những biện pháp chống dịch thiết yếu nhất. Nhưng có lẽ thực phẩm đã nhiễm bệnh. Rau, thịt hay sữa—bởi bị phủ nhận và che đậy, cái chết vẫn lan ăn trong những ngõ phố chật hẹp, và cái nóng mùa hè đến sớm khiến nước kênh âm ấm, đặc biệt thuận lợi cho sự lây lan. Quả vậy, dường như dịch bệnh đã được hồi sinh sức lực, dường như sức bền và khả năng sinh sôi của mầm bệnh đã tăng gấp đôi. Các trường hợp hồi phục vô cùng hiếm; tám mươi phần trăm người mắc chết, lại chết một cách khủng khiếp, bởi tai họa tấn công với mức hung bạo tột cùng và thường biểu hiện ở dạng nguy hiểm nhất, được gọi là “thể khô”. Ở dạng này, cơ thể thậm chí không thể đào thải lượng nước lớn tách khỏi mạch máu. Chỉ trong vài giờ, người bệnh khô quắt rồi chết ngạt vì máu đã trở nên đặc sệt như nhựa đường, giữa những cơn co giật và lời than khàn đục. Phúc cho kẻ nào, như đôi khi vẫn xảy ra, sau chút khó chịu nhẹ, cơn bệnh bộc phát dưới hình thức một lần ngất sâu mà người ấy không bao giờ, hoặc hầu như không còn tỉnh lại. Đầu tháng Sáu, những trại cách ly của Ospedale civico lặng lẽ đầy lên, hai trại trẻ mồ côi bắt đầu thiếu chỗ, và một dòng qua lại bận rộn đến rợn người diễn ra giữa bến kè Fondamente Nuove và San Michele, hòn đảo nghĩa trang. Nhưng nỗi sợ tổn hại chung, mối bận tâm đến cuộc triển lãm tranh vừa khai mạc trong khu vườn công cộng, đến những thiệt hại khổng lồ mà khách sạn, cửa hiệu và toàn bộ ngành nghề đa dạng phục vụ người nước ngoài sẽ phải chịu trong trường hợp xảy ra hoảng loạn và mang tiếng, ở thành phố này tỏ ra mạnh hơn lòng yêu sự thật cùng sự tôn trọng các hiệp ước quốc tế; nó khiến nhà chức trách ngoan cố duy trì chính sách im lặng và phủ nhận. Viên chức y tế cao nhất của Venice, một người có công trạng, phẫn nộ từ chức và âm thầm bị thay bằng một nhân vật dễ bảo hơn. Dân chúng biết điều ấy; và sự thối nát của tầng lớp trên, cộng với tình trạng bất an thống trị, tình thế ngoại lệ mà cái chết lởn vởn đã đẩy thành phố vào, gây nên sự suy đồi đạo đức nhất định trong các tầng lớp dưới, một sự khuyến khích những bản năng đen tối và chống xã hội, biểu lộ qua thói vô độ, trơ trẽn và tội phạm gia tăng. Khác lệ thường, buổi tối người ta thấy nhiều kẻ say; nghe nói bọn côn đồ ác độc khiến phố xá ban đêm mất an toàn; các vụ cướp tấn công và cả giết người lặp lại, bởi đã hai lần người ta chứng minh được rằng những kẻ được cho là nạn nhân của dịch bệnh thực ra đã bị chính thân nhân mình đầu độc chết; còn thói phóng đãng chuyên nghiệp khoác những hình thức lộ liễu và trụy lạc mà bình thường nơi đây không hề biết tới, chỉ có quê hương ở miền nam đất nước và phương Đông.
Người Anh nói ra điều cốt yếu trong những chuyện ấy. “Ngài nên,” cuối cùng anh nói, “ra đi hôm nay còn hơn ngày mai. Lệnh phong tỏa khó lòng chậm quá vài ngày nữa.”—“Cảm ơn anh,” Aschenbach nói rồi rời văn phòng.
Quảng trường nằm trong cơn oi bức không ánh mặt trời. Những khách lạ không hay biết ngồi trước các quán cà phê hoặc đứng trước nhà thờ, chim bồ câu phủ kín người, nhìn lũ vật lúc nhúc, đập cánh, chen lấn nhau mổ những hạt ngô được dâng trong hai lòng bàn tay khum lại. Trong cơn kích động sốt nóng, đắc thắng vì nắm được sự thật, đồng thời vị ghê tởm đọng trên lưỡi và nỗi kinh hoàng kỳ ảo trong tim, kẻ cô độc đi đi lại lại trên những phiến đá lát của sân chầu tráng lệ. Ông cân nhắc một hành động thanh tẩy và đoan chính. Tối nay, sau bữa ăn, ông có thể đến gần người đàn bà đeo ngọc trai và nói với bà điều ông đã soạn từng lời: “Xin cho phép một người khách lạ được giúp phu nhân bằng một lời khuyên, một cảnh báo mà lòng vụ lợi đã giấu phu nhân. Hãy đi đi, ngay lập tức, cùng Tadzio và các con gái! Venice đang có dịch.” Rồi ông có thể đặt tay từ biệt lên đầu công cụ của một vị thần chế nhạo, quay lưng và trốn khỏi đầm lầy này. Nhưng đồng thời ông cảm thấy mình xa vô cùng với việc thực lòng muốn thực hiện một bước như thế. Nó sẽ đưa ông trở về, sẽ hoàn trả ông cho chính mình; song kẻ đã ra khỏi bản thân không ghê tởm gì hơn việc phải trở vào trong mình lần nữa. Ông nhớ một công trình màu trắng, trang điểm bằng những dòng chữ chói sáng trong chiều tối, nơi con mắt tinh thần ông từng lạc vào vẻ huyền bí trong suốt; rồi nhớ hình hài người lữ khách lạ lùng kia đã đánh thức trong người luống tuổi nỗi khát khao phiêu du của tuổi trẻ về miền xa, xứ lạ; và ý nghĩ trở về, về sự tỉnh trí, tỉnh táo, nhọc nhằn và tài nghệ bậc thầy khiến ông ghê tởm đến mức mặt ông méo đi như thể buồn nôn thật sự. “Người ta phải im lặng!” ông dữ dội thì thầm. Và: “Ta sẽ im lặng!” Ý thức rằng mình cùng biết, cùng có tội làm ông say như một lượng rượu nhỏ làm say bộ óc mỏi mệt. Hình ảnh thành phố bị tai họa giày xéo và bỏ mặc, hoang tàn trôi trước tâm trí, khơi trong ông những hy vọng không thể nói thành lời, vượt quá lý trí và mang một vị ngọt quái dị. Niềm hạnh phúc dịu dàng ông mới mơ thoáng qua trước đó đáng là gì so với những mong đợi này? Nghệ thuật và đức hạnh còn có giá trị gì đối với ông trước những lợi thế của hỗn mang? Ông im lặng và ở lại.
Đêm ấy ông có một giấc mơ khủng khiếp—nếu có thể gọi là giấc mơ một trải nghiệm vừa thể xác vừa tinh thần đã xảy đến với ông trong giấc ngủ sâu nhất, trong sự độc lập hoàn toàn và hiện hữu cảm tính trọn vẹn, nhưng ông không hề thấy mình đang vận động và có mặt trong không gian bên ngoài các biến cố; trái lại, sân khấu của chúng chính là tâm hồn ông, và từ bên ngoài chúng ập vào, dùng bạo lực quật ngã sức kháng cự của ông—một sức kháng cự sâu xa và tinh thần—xuyên qua ông rồi để lại sự tồn tại của ông, để lại nền văn hóa của đời ông bị tàn phá, hủy diệt.
Khởi đầu là nỗi sợ, nỗi sợ và khoái cảm cùng sự tò mò kinh hoàng đối với điều sắp đến. Đêm ngự trị, và các giác quan ông lắng nghe; bởi từ xa đang tiến lại một cảnh náo loạn, một tiếng huyên náo, một hỗn hợp âm thanh: lạch xạch, chan chát, sấm rền âm u, chen tiếng reo chói tai và một tiếng tru nhất định kéo dài trên âm u, tất cả bị xuyên thấu rồi phủ lấp một cách ngọt ngào kinh hãi bởi tiếng sáo trầm gù gù, dai dẳng đê tiện, dùng lối xấc xược trơ trẽn mê hoặc cả ruột gan. Nhưng ông biết một tiếng, mờ tối mà vẫn gọi tên điều đang tới: “Vị thần xa lạ!” Ánh lửa hun khói bừng âm ỉ: ông nhận ra một miền núi giống vùng quanh ngôi nhà nghỉ mùa hè của mình. Và trong ánh sáng rách vụn, từ những đỉnh cao phủ rừng, giữa thân cây cùng những tảng đá rêu phong, cả một dòng cuộn lăn rồi xoáy trào xuống: người, thú, một bầy đàn, một đám cuồng loạn, tràn ngập sườn dốc bằng thân xác, lửa, huyên náo cùng điệu múa vòng quay cuồng. Những người đàn bà, vấp vào áo lông quá dài buông từ thắt lưng, lắc trống lục lạc trên đầu ngửa ra rên rỉ, vung những bó đuốc tung tàn lửa và dao găm trần, nắm giữa thân những con rắn đang thè lưỡi, hoặc vừa gào thét vừa nâng hai bầu ngực trong hai tay. Đàn ông, sừng mọc trên trán, mặc khố da thú và thân thể lông lá, cúi gáy rồi nhấc tay chân, làm vang những chũm chọe đồng và điên cuồng nện trống lớn; trong khi những cậu bé da nhẵn, cầm gậy quấn lá, chọc lũ dê đực, bám lấy sừng chúng và reo hò để bị những cú nhảy kéo lê đi. Và những kẻ cuồng tín tru lên tiếng gọi bằng những phụ âm mềm cùng âm u kéo dài ở cuối, vừa ngọt ngào vừa man dại như chưa từng được nghe: nơi này nó vang lên, bị rống vào không trung như từ hươu nai; nơi kia nó được nhiều giọng đáp lại trong niềm đắc thắng hoang cuồng, kích thích nhau múa và quăng quật chân tay, không bao giờ để nó im đi. Nhưng xuyên thấu và thống trị tất cả vẫn là tiếng sáo trầm quyến dụ. Chẳng phải nó cũng trơ trẽn, dai dẳng quyến dụ cả ông, kẻ trải nghiệm còn chống cự, vào lễ hội cùng sự vô độ của cuộc hiến tế tối hậu sao? Nỗi ghê tởm của ông lớn, nỗi sợ của ông lớn, ý chí chân thành gìn giữ cái thuộc về mình cho đến cùng để chống lại kẻ xa lạ, kẻ thù của tinh thần tự chủ và phẩm giá. Nhưng tiếng huyên náo, tiếng tru được vách núi vang dội nhân lên cứ lớn dần, lấn át, dâng thành cơn điên cuốn phăng tất cả. Hơi khói vây bức giác quan: mùi hăng của dê đực, hơi của những thân thể hổn hển và một luồng như từ nước thối rữa, lại thêm một mùi khác, quen thuộc: mùi vết thương cùng bệnh dịch đang lưu hành. Tim ông dội theo tiếng trống, não ông quay cuồng; cuồng nộ chiếm lấy ông, sự mù quáng, nhục cảm mê man; và tâm hồn ông thèm muốn nhập vào vòng vũ của vị thần. Biểu tượng dâm tục khổng lồ bằng gỗ được phơi ra, giương cao: bấy giờ họ càng buông thả tru lên mật hiệu. Miệng sùi bọt, họ cuồng loạn, dùng những cử chỉ dâm đãng và bàn tay ve vãn khêu gợi lẫn nhau, vừa cười vừa rên—đâm gậy nhọn vào da thịt nhau rồi liếm máu trên tay chân. Nhưng giờ đây kẻ nằm mơ đã ở cùng họ, trong họ, thuộc về vị thần xa lạ. Phải, họ chính là ông khi họ xé xác, sát hại, chồm lên đàn thú rồi ngấu nghiến những mảnh thịt còn bốc hơi; khi trên nền rêu bị giày xới bắt đầu một cuộc giao hoan không bờ bến để hiến cho thần. Và tâm hồn ông nếm trải dâm loạn cùng cơn cuồng say của diệt vong.
Từ giấc mơ ấy, kẻ bị tai họa giáng xuống tỉnh dậy rã rời thần kinh, tan nát và bất lực đầu hàng con quỷ. Ông không còn sợ những cái nhìn dò xét của người đời; mình có khiến họ sinh nghi hay không, ông chẳng bận tâm. Vả lại họ đang bỏ chạy, đang ra đi; nhiều lều tắm biển đứng trống, bàn ghế trong phòng ăn lộ ra những khoảng khuyết lớn hơn, và trong thành phố hiếm khi còn thấy một khách lạ. Sự thật dường như đã rỉ ra; bất chấp sự liên kết bền bỉ của những kẻ có quyền lợi, cơn hoảng loạn không thể bị ngăn lại lâu hơn. Nhưng người đàn bà đeo ngọc trai vẫn ở lại cùng người nhà, hoặc vì lời đồn không đến tai bà, hoặc vì bà quá kiêu hãnh và không biết sợ để chịu khuất phục: Tadzio vẫn ở lại; và trong vòng mê hoặc, đôi khi người kia ngỡ sự bỏ chạy và cái chết có thể dọn sạch mọi sinh vật quấy nhiễu xung quanh để riêng ông ở lại trên hòn đảo này cùng người đẹp—phải, khi buổi sáng bên biển, ánh mắt nặng nề, vô trách nhiệm và không rời của ông đặt trên kẻ mình khao khát; khi ngày tàn, ông đeo bám cậu một cách mất phẩm giá qua những ngõ hẻm nơi cái chết ghê tởm bí mật lởn vởn, thì điều quái dị dường như đầy triển vọng, còn luật đạo đức thì vô hiệu.
Như mọi kẻ đang yêu, ông mong muốn làm đẹp lòng người và cảm thấy nỗi sợ cay đắng rằng điều ấy có lẽ bất khả. Ông thêm vào trang phục mình những chi tiết tươi trẻ, đeo đá quý và dùng nước hoa; nhiều lần mỗi ngày ông dành thật nhiều thời gian trang điểm và đến bàn ăn với vẻ chải chuốt, kích động, căng thẳng. Trước tuổi thanh xuân ngọt ngào đã quyến rũ mình, thân thể già nua khiến ông ghê tởm; cảnh tóc hoa râm, những đường nét sắc nhọn trên khuôn mặt đẩy ông vào hổ thẹn và tuyệt vọng. Một thôi thúc khiến ông muốn làm thân thể mình tươi tỉnh và phục hồi; ông thường xuyên đến hiệu làm tóc của khách sạn.
Khoác áo choàng làm tóc, ngả ra sau trên ghế dưới đôi tay săn sóc của kẻ lắm lời, ông đau đớn ngắm hình ảnh mình trong gương.
“Bạc rồi,” ông nói, miệng méo xệch.
“Một chút thôi,” người kia đáp. “Ấy là do một chút sao nhãng, một sự thờ ơ với vẻ bề ngoài, điều có thể hiểu được ở những nhân vật lớn, nhưng thật ra không thể khen ngợi vô điều kiện, càng không thể vì chính những nhân vật như thế không hợp chút nào với thành kiến trong các vấn đề tự nhiên hay nhân tạo. Nếu sự khắt khe đạo đức mà một số người dành cho nghệ thuật mỹ dung cũng được mở rộng một cách hợp lý sang hàm răng của họ, hẳn họ sẽ gây phản cảm không ít. Rốt cuộc, chúng ta già bằng tuổi mà tinh thần, trái tim chúng ta cảm thấy; và trong một số trường hợp, tóc bạc biểu thị một điều giả dối thật hơn cả điều mà sự chỉnh sửa bị coi khinh kia có thể biểu thị. Trong trường hợp của ngài, thưa ngài, người ta có quyền có màu tóc tự nhiên của mình. Ngài có cho phép tôi đơn giản trả lại màu tóc ấy cho ngài không?”
“Bằng cách nào?” Aschenbach hỏi.
Bấy giờ kẻ hoạt ngôn gội tóc cho vị khách bằng hai thứ nước, một trong một sẫm, và tóc ông đen như những năm còn trẻ. Sau đó hắn dùng kẹp nung uốn tóc thành những lớp mềm, lùi lại rồi xem xét cái đầu đã được xử lý.
“Giờ chỉ còn,” hắn nói, “làm tươi làn da mặt một chút.”
Và như một kẻ không thể dừng, không bao giờ thấy đủ, hắn chuyển từ thao tác này sang thao tác khác với sự sốt sắng cứ liên tục hồi sinh. Aschenbach ngả mình thoải mái, không có sức khước từ, trái lại còn kích động đầy hy vọng trước những gì đang xảy ra, nhìn trong gương thấy đôi mày mình cong lên rõ nét và đều đặn hơn, đường mắt kéo dài, ánh mắt nổi bật nhờ một lớp màu nhẹ dưới mí; thấy thấp hơn, nơi làn da từng nâu sậm như da thuộc, một sắc son dịu dàng thức dậy dưới lớp phấn mềm, đôi môi vừa rồi còn thiếu máu căng lên màu mâm xôi, những rãnh nơi má, nơi miệng, những nếp nhăn quanh mắt biến mất dưới kem và làn hơi thanh xuân—tim đập rộn, ông trông thấy một chàng trai đang độ xuân thì. Cuối cùng người thợ làm đẹp hài lòng, và theo lối của hạng người này, hắn cảm ơn kẻ mình vừa phục vụ bằng vẻ lễ phép khúm núm. “Chỉ một chút trợ giúp không đáng kể,” hắn nói trong lúc đặt nét hoàn thiện cuối cùng lên vẻ ngoài của Aschenbach. “Giờ thì ngài có thể yên tâm mà yêu.” Kẻ bị mê hoặc rời đi, hạnh phúc như trong mơ, bối rối và sợ hãi. Cà vạt ông màu đỏ, chiếc mũ rơm vành rộng quấn một dải băng nhiều màu.
Một cơn gió bão âm ấm đã nổi lên; mưa thưa và ít, nhưng không khí ẩm, đặc quánh và đầy hơi thối rữa. Tiếng phần phật, tiếng đập và tiếng rít vây lấy thính giác; đối với kẻ đang sốt dưới lớp son phấn, dường như những phong thần thuộc nòi hiểm ác đang tác oai tác quái trong không trung, một bầy chim biển ác độc bới tung, gặm nát bữa ăn của kẻ tử tù rồi làm ô uế bằng phân. Bởi oi bức ngăn cản khẩu vị, và ý nghĩ cứ chen vào rằng thức ăn đã bị chất truyền nhiễm đầu độc.
Một buổi chiều, lần theo dấu người đẹp, Aschenbach đã đi sâu vào mớ rối nội tại của thành phố bệnh hoạn. Mất khả năng định hướng, bởi các ngõ hẻm, dòng nước, cầu và quảng trường nhỏ của mê cung quá giống nhau, cũng không còn chắc các phương trời, ông chỉ một mực cẩn trọng đừng để hình ảnh mình khát khao truy đuổi khuất khỏi mắt; và bị buộc phải rón rén một cách nhục nhã, nép sát tường, tìm chỗ che sau lưng người đi trước, hồi lâu ông không ý thức được sự mệt mỏi, kiệt sức mà xúc cảm cùng trạng thái căng thẳng liên miên đã gây ra cho thân thể, tinh thần mình. Tadzio đi sau người nhà; trong những lối hẹp, cậu thường nhường bà chăm sóc và hai cô chị trông như nữ tu đi trước, còn mình thong thả một mình, thỉnh thoảng quay đầu, qua vai dùng một cái nhìn từ đôi mắt xám hoàng hôn đặc biệt để đoan chắc người si tình vẫn theo sau. Cậu thấy ông, và không tố giác ông. Say sưa vì nhận thức ấy, được đôi mắt ấy quyến dụ tiến lên, bị đam mê dắt bằng sợi dây buộc kẻ ngốc, người si tình lén lút theo đuổi niềm hy vọng bất chính—thế mà rốt cuộc vẫn bị tước mất cảnh ngắm. Người Ba Lan đã qua một cây cầu vòm ngắn, đỉnh vòm che họ khỏi kẻ bám theo, và khi chính ông lên tới đó, ông không còn thấy họ nữa. Ông tìm họ theo ba hướng, phía trước cùng hai bên dọc bến kè hẹp và bẩn, vô ích. Cuối cùng, thần kinh suy kiệt, cơ thể rã rời buộc ông từ bỏ việc tìm kiếm.
Đầu ông bốc cháy, thân thể phủ mồ hôi nhớp dính, gáy run lên, một cơn khát không thể chịu thêm giày vò ông; ông nhìn quanh tìm bất cứ thứ gì, một sự giải khát tức thời. Trước một cửa hàng rau nhỏ, ông mua vài trái cây, dâu tây, thứ hàng quá chín và mềm nhũn, vừa đi vừa ăn. Một quảng trường nhỏ mở ra trước mắt ông, hoang vắng, trông như bị phù phép; ông nhận ra nó, chính nơi đây mấy tuần trước ông đã lập kế hoạch bỏ trốn bất thành. Ông buông mình xuống các bậc của bể nước giữa quảng trường và tựa đầu vào thành đá tròn. Nơi ấy im lặng, cỏ mọc giữa đá lát. Rác rưởi nằm rải rác. Giữa những ngôi nhà phong hóa cao thấp thất thường vây quanh, một tòa trông như cung điện, với cửa sổ vòm nhọn mà sau đó sự trống rỗng cư ngụ, cùng những ban công nhỏ chạm sư tử. Tầng trệt của một căn nhà khác là hiệu thuốc. Những luồng gió ấm thỉnh thoảng đưa tới mùi acid carbolic.
Ông ngồi đó, bậc thầy, người nghệ sĩ đã đạt đến phẩm giá, tác giả của “Kẻ khốn cùng”, người đã khước từ thói du mục cùng chiều sâu u tối bằng một hình thức thuần khiết kiểu mẫu đến thế, đã từ bỏ mối đồng cảm với vực thẳm và vứt bỏ điều bị ruồng bỏ; con người đã vươn cao, đã chiến thắng tri thức của mình và trưởng thành vượt mọi mỉa mai, đã quen với những nghĩa vụ do niềm tin của quần chúng đặt lên mình; ông, người có vinh quang được chính quyền công nhận, tên tuổi được phong quý tộc, và văn phong được dùng làm mẫu để giáo dục những cậu bé—ông ngồi đó, hai mí mắt khép lại, chỉ đôi khi một cái nhìn giễu cợt và bối rối lướt xiên ra từ bên dưới rồi nhanh chóng ẩn đi; còn đôi môi nhão, được mỹ phẩm tôn cao, nặn ra những lời rời rạc từ những gì bộ não nửa ngủ của ông tạo nên theo một thứ logic kỳ lạ của giấc mơ.
“Bởi cái đẹp, Phaidros, hãy ghi nhớ cho kỹ! chỉ riêng cái đẹp vừa thần thánh vừa khả kiến; và như thế, nó là con đường của cảm giác, là, Phaidros bé nhỏ ạ, con đường của nghệ sĩ đi tới tinh thần. Nhưng giờ đây, bạn thân mến, ngươi có tin rằng kẻ mà con đường tới tinh thần dẫn qua các giác quan có thể một ngày nào đó đạt được minh triết và phẩm giá nam nhi chân chính chăng? Hay đúng hơn, ngươi có tin (ta để ngươi tự quyết) rằng đó là một con đường nguy hiểm mà quyến rũ, thật sự là con đường lầm lạc và tội lỗi, tất yếu dẫn người ta đi chệch hướng? Bởi ngươi phải biết rằng thi sĩ chúng ta không thể đi con đường của cái đẹp mà Eros không nhập bọn và tự đặt mình làm kẻ dẫn đường; phải, dẫu theo cách của mình chúng ta có thể là những anh hùng, những chiến binh tiết chế, chúng ta vẫn giống đàn bà, bởi đam mê là sự thăng hoa của chúng ta, và nỗi khát khao của chúng ta phải mãi là tình yêu—đó là lạc thú và nỗi nhục của chúng ta. Giờ ngươi đã thấy rằng thi sĩ chúng ta không thể minh triết cũng không thể có phẩm giá rồi chứ? Rằng tất yếu chúng ta đi lạc, tất yếu vẫn phóng đãng và làm những kẻ phiêu lưu của cảm xúc? Tư thế bậc thầy trong văn phong chúng ta là dối trá và ngu xuẩn; vinh quang cùng địa vị danh dự của chúng ta là một trò hề; lòng tin của quần chúng dành cho chúng ta hết sức nực cười; giáo dục dân chúng và tuổi trẻ bằng nghệ thuật là một công cuộc liều lĩnh, đáng bị cấm đoán. Bởi làm sao một kẻ sinh ra đã mang khuynh hướng tự nhiên và không thể sửa đổi hướng về vực thẳm lại có thể thích hợp làm nhà giáo dục? Chúng ta rất muốn chối bỏ nó và giành lấy phẩm giá, nhưng dẫu xoay trở thế nào, nó vẫn lôi cuốn chúng ta. Vậy nên, chẳng hạn, chúng ta từ bỏ tri thức phân rã, bởi tri thức, Phaidros, không có phẩm giá và sự nghiêm khắc: nó biết, nó hiểu, nó tha thứ, không phong thái cũng không hình thức; nó đồng cảm với vực thẳm, nó chính là vực thẳm. Bởi thế chúng ta kiên quyết vứt bỏ nó, và từ đó mọi nỗ lực của chúng ta chỉ dành cho cái đẹp, tức là sự giản dị, sự cao cả và một kỷ luật mới, sự hồn nhiên lần thứ hai cùng hình thức. Nhưng hình thức và sự hồn nhiên, Phaidros, dẫn tới cơn say và dục vọng, có lẽ dẫn người cao quý tới tội ác cảm xúc ghê rợn mà chính kỷ luật đẹp đẽ của y khước từ như điều đê tiện, dẫn tới vực thẳm—chúng cũng dẫn tới vực thẳm. Ta nói, chúng dẫn thi sĩ chúng ta tới đó, bởi chúng ta không thể vươn mình lên cao, chúng ta chỉ có thể phóng túng. Và bây giờ ta đi, Phaidros, ngươi hãy ở lại đây; chỉ khi không còn thấy ta nữa, ngươi mới đi.”
* * * * *
Vài ngày sau, vì cảm thấy không khỏe, Gustav von Aschenbach rời khách sạn nghỉ biển vào một giờ muộn hơn thường lệ trong buổi sáng. Ông phải vật lộn với những cơn chóng mặt nào đó chỉ có một nửa thuộc về thể xác, đi kèm nỗi sợ và hoang mang dâng lên dữ dội, một cảm giác không lối thoát, không triển vọng mà người ta không rõ nó quy chiếu vào thế giới bên ngoài hay vào chính sự tồn tại của ông. Trong đại sảnh, ông nhận thấy một lượng lớn hành lý đã sẵn sàng vận chuyển, hỏi người gác cửa xem ai sắp đi, và nhận được câu trả lời là cái họ quý tộc Ba Lan mà trong thâm tâm ông vẫn chờ đợi. Ông tiếp nhận nó mà những nét mặt suy sụp không hề thay đổi, chỉ khẽ ngẩng đầu theo kiểu người ta tiện thể ghi nhận một điều mình không cần phải biết, rồi còn hỏi: “Khi nào?” Người ta đáp: “Sau bữa trưa.” Ông gật đầu và đi ra biển.
Ngoài đó thật khắc nghiệt. Trên mặt nước mênh mông, phẳng lì ngăn bãi biển với doi cát dài đầu tiên, từng cơn rùng mình gợn sóng chạy từ trước ra sau. Một vẻ thu tàn, quá mùa dường như phủ lên chốn vui chơi từng sống động đầy màu sắc mà nay gần như bỏ hoang, cát không còn được giữ sạch. Một máy ảnh, dường như vô chủ, đứng trên giá ba chân ở mép biển, và tấm vải đen phủ lên trên phần phật đập trong luồng gió lạnh hơn.
Tadzio cùng ba hay bốn người bạn còn lại đang đi lại bên phải, trước lều của gia đình; còn Aschenbach, một tấm chăn phủ trên đầu gối, ngả mình trên ghế dài ở khoảng giữa biển và dãy lều tắm, nhìn cậu thêm một lần nữa. Vì không được trông coi—có lẽ những người đàn bà đang bận chuẩn bị hành trình—trò chơi dường như không theo luật lệ rồi biến chất. Cậu bé vạm vỡ, mặc bộ đồ thắt đai, mái tóc đen bóng mượt được chải sáp, người được gọi là “Jaschu”, bị một nắm cát ném vào mặt chọc giận và làm lóa mắt, bắt Tadzio vật nhau, cuộc vật nhanh chóng kết thúc bằng việc người đẹp yếu hơn bị quật ngã. Nhưng như thể vào giờ chia tay, tình cảm phục tùng của kẻ thấp kém biến thành sự tàn bạo độc ác và cố báo thù cho một thời gian dài làm nô lệ, kẻ chiến thắng ngay cả khi ấy vẫn không buông người thua; trái lại, quỳ trên lưng cậu, hắn ấn mặt cậu xuống cát lâu đến mức Tadzio, vốn đã hụt hơi vì cuộc vật, có nguy cơ ngạt thở. Những nỗ lực hất kẻ đang đè mình xuống mang tính co giật, đôi lúc ngừng hẳn rồi chỉ còn lặp lại như những cơn giật. Kinh hoàng, Aschenbach định bật dậy cứu giúp thì cuối cùng kẻ bạo hành cũng thả nạn nhân. Tadzio, mặt tái nhợt, nhấc nửa người dậy rồi ngồi bất động nhiều phút, chống trên một cánh tay, tóc rối và mắt sẫm lại. Sau đó cậu đứng hẳn lên và chậm rãi rời đi. Người ta gọi cậu, ban đầu vui vẻ, rồi lo sợ và van nài; cậu không nghe. Cậu tóc đen, có lẽ lập tức bị hối hận vì sự quá trớn của mình chộp lấy, đuổi kịp và tìm cách làm hòa. Một cử động vai khước từ hắn. Tadzio đi chéo xuống mặt nước. Cậu để chân trần và mặc bộ đồ vải lanh sọc có nơ đỏ.
Cậu nấn ná ở mép nước, cúi đầu dùng đầu ngón chân vẽ những hình trên cát ẩm, rồi bước vào vùng biển cạn phía trước mà ngay chỗ sâu nhất nước vẫn chưa thấm tới đầu gối, thong thả tiến qua và đến doi cát. Cậu đứng đó một khoảnh khắc, mặt hướng về cõi bao la, sau đó bắt đầu chậm rãi bước dọc theo dải đất trần trụi dài và hẹp về phía bên trái. Cách đất liền bởi một vùng nước rộng, cách bạn bè bởi cơn hờn kiêu hãnh, cậu đi ngoài kia trong biển, trong gió, trước cõi vô biên mờ sương—một hình bóng hoàn toàn cô lập, không gắn kết—mái tóc phất bay. Một lần nữa cậu dừng lại nhìn ra xa. Và đột nhiên, như dưới tác động của một ký ức, một xung động, cậu xoay thân trên, một tay chống hông, bằng một vòng quay đẹp đẽ khỏi tư thế căn bản, rồi qua vai nhìn vào bờ. Người đang nhìn ở đó ngồi như thuở trước mình từng ngồi, khi lần đầu tiên, bị đẩy lui khỏi ngưỡng cửa kia, ánh mắt xám hoàng hôn này gặp mắt ông. Đầu ông đã chậm rãi xoay theo chuyển động của người đang bước ngoài xa; giờ đây nó nhấc lên như để đón cái nhìn, rồi gục xuống ngực, khiến đôi mắt nhìn từ bên dưới, trong khi khuôn mặt mang vẻ lơi lỏng, chìm sâu thân mật của một giấc ngủ sâu. Nhưng ông ngỡ như người dẫn hồn nhợt nhạt, khả ái ngoài kia đang mỉm cười với mình, vẫy gọi mình; như thể cậu buông tay khỏi hông, chỉ ra ngoài kia, bồng bềnh đi trước vào cõi khủng khiếp đầy hứa hẹn. Và như biết bao lần, ông đứng dậy để đi theo cậu.
Nhiều phút trôi qua trước khi người ta chạy tới giúp ông, người đã đổ nghiêng xuống ghế. Người ta đưa ông về phòng. Và ngay trong ngày hôm ấy, một thế giới kính cẩn chấn động đón nhận tin ông qua đời.