Chuyện rừng xanh — Chương 3: Cuộc săn của Kaa

Chương 3 / 14 · Bài review Chuyện rừng xanh

Đốm trên mình là niềm vui của Báo; sừng trên đầu là kiêu hãnh của Trâu. Hãy giữ mình sạch sẽ, bởi sức mạnh của kẻ săn được nhận ra qua bộ da bóng mượt. Nếu các ngươi thấy Bò Tơ có thể hất tung mình, hay Nai Sambhur mày nặng có thể lấy sừng đâm thủng; Chẳng cần ngừng việc để báo cho chúng ta: chúng ta đã biết từ mười mùa trước.

Đừng ức hiếp con non của kẻ lạ, hãy chào đón chúng như Chị như Em, Bởi dẫu chúng nhỏ bé và lùn mập, biết đâu Gấu lại là mẹ chúng. “Không ai sánh được với ta!” Con Non nói, kiêu hãnh vì con mồi đầu tiên; Nhưng rừng thì rộng mà Con Non lại nhỏ. Hãy để nó suy ngẫm và lặng im. _Châm ngôn của Baloo_

Mọi chuyện kể ở đây xảy ra ít lâu trước khi Mowgli bị đuổi khỏi Bầy Sói Seeonee, hay tự tay báo thù Shere Khan, con hổ. Thuở ấy Baloo đang dạy cậu Luật Rừng. Con gấu nâu già, to lớn và nghiêm nghị rất vui vì có một học trò sáng dạ đến thế, bởi lũ sói trẻ chỉ chịu học phần Luật Rừng áp dụng cho bầy và giống loài của chúng, rồi chạy biến ngay khi đã đọc thuộc Khúc Săn Mồi—“Chân bước không gây tiếng động; mắt nhìn thấu bóng đêm; tai nghe được gió trong hang ổ, cùng nanh trắng sắc nhọn—tất cả đều là dấu hiệu của anh em ta, ngoại trừ Tabaqui Chó Rừng và Linh Cẩu mà ta căm ghét.” Nhưng là một đứa trẻ người, Mowgli còn phải học nhiều hơn thế rất nhiều. Đôi khi Bagheera Báo Đen thong thả xuyên rừng đến xem đứa con cưng của mình tiến bộ ra sao, rồi tựa đầu vào một thân cây mà gừ gừ êm ái trong lúc Mowgli đọc bài học trong ngày cho Baloo nghe. Cậu bé leo trèo gần giỏi bằng bơi lội, và bơi lội gần giỏi bằng chạy. Vì vậy Baloo, Người Dạy Luật, dạy cậu các Luật của Rừng Cây và Nước: cách phân biệt cành mục với cành chắc; cách lễ phép thưa chuyện với ong rừng khi bắt gặp tổ của chúng ở độ cao năm mươi bộ trên mặt đất; phải nói gì với Mang Dơi khi giữa trưa cậu quấy rầy anh ta trên cành; và cách báo trước cho rắn nước trong ao trước khi nhảy ùm xuống giữa chúng. Không một Dân Rừng nào thích bị quấy rầy, và tất cả đều sẵn sàng xông vào kẻ xâm phạm. Mowgli còn được dạy Tiếng Gọi Săn của Khách Lạ, thứ tiếng phải được nhắc lớn cho đến khi có lời đáp mỗi khi một Dân Rừng đi săn ngoài lãnh địa của mình. Dịch ra, nó có nghĩa: “Xin cho phép tôi săn ở đây vì tôi đang đói.” Và lời đáp là: “Vậy hãy săn để ăn, đừng săn mua vui.”

Bấy nhiêu đủ cho thấy Mowgli phải học thuộc lòng nhiều đến mức nào, và cậu chán ngấy việc phải nhắc đi nhắc lại cùng một điều cả trăm lần. Nhưng một hôm, sau khi Mowgli bị ăn một cú tát rồi giận dỗi bỏ chạy, Baloo nói với Bagheera: “Con của loài người vẫn là con của loài người, và nó phải học toàn bộ Luật Rừng.”

“Nhưng hãy nghĩ xem nó nhỏ bé đến nhường nào,” Báo Đen nói; nếu được tùy ý, Bagheera hẳn đã nuông chiều Mowgli đến hư. “Cái đầu bé xíu ấy làm sao chứa nổi tất cả những lời dài dòng của anh?”

“Trong rừng có thứ gì nhỏ đến mức không thể bị giết không? Không. Chính vì thế tôi dạy nó những điều này, và cũng chính vì thế tôi đánh nó, rất nhẹ thôi, khi nó quên.”

“Nhẹ ư! Anh thì biết gì về nhẹ nhàng hả, lão Chân Sắt?” Bagheera càu nhàu. “Hôm nay mặt nó bầm tím cả vì cái—nhẹ nhàng của anh. Hừ.”

“Thà nó bị tôi, kẻ yêu thương nó, đánh bầm từ đầu đến chân còn hơn gặp tai họa vì ngu dốt,” Baloo đáp hết sức nghiêm trang. “Giờ tôi đang dạy nó những Mật Ngữ của Rừng để bảo vệ nó giữa loài chim, Dân Rắn và tất cả những loài săn mồi bằng bốn chân, ngoại trừ chính bầy của nó. Nếu nhớ được những lời ấy, giờ nó có thể đòi hỏi mọi loài trong rừng che chở. Điều đó chẳng đáng để chịu vài roi sao?”

“Thôi được, vậy thì liệu mà đừng giết chết đứa trẻ người. Nó đâu phải thân cây để anh mài bộ vuốt cùn. Nhưng những Mật Ngữ ấy là gì? Tôi thường cứu giúp kẻ khác hơn là cầu xin họ”—Bagheera duỗi một chân ra, ngắm nghía những móng vuốt xanh màu thép, sắc như đục xé thịt ở đầu chân—“nhưng tôi vẫn muốn biết.”

“Tôi sẽ gọi Mowgli để nó đọc—nếu nó chịu. Lại đây, Em Nhỏ!”

“Đầu con đang ong ong như một tổ ong trên cây,” một giọng nhỏ phụng phịu vang lên trên đầu họ; Mowgli tuột xuống theo thân cây, vừa giận dữ vừa ấm ức, và khi chạm đất còn nói thêm: “Con đến vì Bagheera, không phải vì thầy, lão Baloo béo ú!”

“Với ta cũng chẳng khác gì,” Baloo nói, dù lòng bị tổn thương và buồn bã. “Vậy hãy đọc cho Bagheera nghe những Mật Ngữ của Rừng mà hôm nay ta đã dạy con.”

“Mật Ngữ dành cho dân nào?” Mowgli hỏi, thích thú vì có dịp trổ tài. “Rừng có nhiều thứ tiếng. Con biết hết.”

“Con biết chút ít thôi, chưa nhiều đâu. Bagheera xem, học trò chẳng bao giờ cảm ơn thầy mình. Chưa một sói con nào từng quay lại cảm ơn Baloo già vì những lời dạy bảo. Vậy hãy đọc mật ngữ dành cho Dân Săn Mồi đi—hỡi học giả uyên bác.”

“Ta với các ngươi cùng chung một dòng máu,” Mowgli nói, cất giọng theo âm sắc của loài Gấu mà toàn thể Dân Săn Mồi đều dùng.

“Tốt. Giờ đến loài chim.”

Mowgli đọc lại, cuối câu điểm thêm tiếng rít của Diều Hâu.

“Giờ đến Dân Rắn,” Bagheera nói.

Câu trả lời là một tiếng rít hoàn toàn không thể tả nổi; Mowgli hất chân ra sau, vỗ tay tự tán thưởng mình, rồi nhảy lên lưng Bagheera, ngồi nghiêng ở đó, lấy gót chân gõ nhịp trên bộ da bóng mượt và nhăn nhó với Baloo bằng những bộ mặt xấu nhất cậu có thể nghĩ ra.

“Đấy—đấy! Điều ấy đáng để chịu một vết bầm chứ,” gấu nâu dịu dàng nói. “Một ngày kia con sẽ nhớ đến ta.” Rồi Baloo quay sang kể cho Bagheera nghe mình đã cầu xin Hathi Voi Rừng, kẻ biết hết mọi chuyện như thế, truyền lại các Mật Ngữ ra sao; Hathi đã dẫn Mowgli xuống một cái ao để học Mật Ngữ của Rắn từ một con rắn nước thế nào, bởi Baloo không thể phát âm tiếng ấy; và giờ đây Mowgli đã có thể tránh được phần lớn mọi tai nạn trong rừng, bởi cả rắn, chim lẫn thú đều sẽ không làm hại cậu.

“Vậy thì chẳng còn ai đáng sợ nữa,” Baloo kết luận, tự hào vỗ lên cái bụng to đầy lông.

“Ngoại trừ chính giống loài của nó,” Bagheera nói khẽ; rồi cất cao giọng bảo Mowgli: “Coi chừng xương sườn của anh, Em Nhỏ! Sao cứ nhảy tưng lên thế?”

Mowgli vẫn cố làm cho mình được chú ý bằng cách giật lông vai Bagheera và đạp thật mạnh. Khi cả hai chịu lắng nghe, cậu đang hét hết hơi: “Thế là rồi con sẽ có một bộ tộc của riêng mình, và suốt ngày dẫn họ đi qua các cành cây.”

“Lại chuyện ngông cuồng mới nào đây, hỡi kẻ mơ mộng bé con?” Bagheera hỏi.

“Phải, rồi còn ném cành cây và đất vào lão Baloo nữa,” Mowgli nói tiếp. “Họ đã hứa với con như thế. Á!”

“Hừm!” Bàn chân lớn của Baloo quơ Mowgli khỏi lưng Bagheera; và khi nằm giữa hai chân trước đồ sộ, cậu bé có thể thấy Gấu đang giận dữ.

“Mowgli,” Baloo nói, “con đã nói chuyện với Bandar-log—Dân Khỉ.”

Mowgli nhìn Bagheera xem Báo có giận không, và mắt Bagheera cứng như đá ngọc bích.

“Con đã ở cùng Dân Khỉ—lũ vượn xám—cái dân không luật lệ—phường ăn mọi thứ. Thật nhục nhã vô cùng.”

“Khi thầy Baloo làm đầu con đau,” Mowgli nói (cậu vẫn nằm ngửa), “con bỏ đi, rồi lũ vượn xám từ trên cây xuống thương con. Chẳng ai khác quan tâm cả.” Cậu hơi sụt sịt.

“Lòng thương của Dân Khỉ!” Baloo khịt mũi. “Sự phẳng lặng của suối núi! Hơi mát của mặt trời mùa hạ! Rồi sao nữa, đứa trẻ người?”

“Rồi, rồi họ cho con hạt dẻ cùng những món ngon, và họ—họ bế con lên tận ngọn cây, bảo rằng con là anh em cùng máu với họ, chỉ khác là không có đuôi, và một ngày kia con sẽ làm thủ lĩnh của họ.”

“Chúng không có thủ lĩnh,” Bagheera nói. “Chúng nói dối. Chúng xưa nay vẫn nói dối.”

“Họ rất tử tế và bảo con lại đến. Tại sao chưa bao giờ con được đưa đến sống giữa Dân Khỉ? Họ đứng bằng hai chân như con. Họ không đánh con bằng những bàn chân cứng. Họ chơi đùa suốt ngày. Cho con dậy! Baloo xấu xa, cho con dậy! Con sẽ lại chơi với họ.”

“Nghe đây, đứa trẻ người,” Gấu nói, giọng rền như sấm trong một đêm oi bức. “Ta đã dạy con toàn bộ Luật Rừng dành cho mọi giống dân trong rừng—ngoại trừ Dân Khỉ sống trên cây. Chúng không có luật. Chúng là phường bị ruồng bỏ. Chúng không có tiếng nói riêng, chỉ dùng những lời ăn cắp mà chúng nghe lỏm được khi rình nghe, dòm ngó và chờ chực trên cao giữa các cành cây. Lề lối của chúng không phải lề lối của ta. Chúng không có thủ lĩnh. Chúng chẳng ghi nhớ điều gì. Chúng khoác lác, huyên thuyên và giả vờ mình là một dân tộc vĩ đại sắp làm nên những công việc lớn lao trong rừng; nhưng chỉ một quả hạt rơi cũng khiến chúng bật cười, thế là mọi chuyện bị quên sạch. Dân Rừng chúng ta không giao thiệp với chúng. Ta không uống nơi lũ khỉ uống; không đến nơi lũ khỉ đến; không săn nơi chúng săn; không chết nơi chúng chết. Trước hôm nay, con đã bao giờ nghe ta nhắc đến Bandar-log chưa?”

“Chưa,” Mowgli thì thầm, bởi khi Baloo dứt lời, khu rừng đã lặng như tờ.

“Dân Rừng gạt chúng khỏi lời nói lẫn tâm trí mình. Chúng đông vô kể, độc ác, dơ bẩn, trơ trẽn; và nếu chúng có một mong muốn nào bền lâu, thì đó là được Dân Rừng chú ý. Nhưng ta không để mắt đến chúng, ngay cả khi chúng ném hạt và đồ bẩn lên đầu ta.”

Baloo vừa dứt lời thì một trận mưa hạt và cành con đã lộp bộp trút qua các tầng lá; họ nghe thấy tiếng ho, tiếng tru và tiếng nhảy nhót giận dữ ở tít trên cao, giữa những cành mảnh.

“Dân Khỉ là loài bị cấm,” Baloo nói, “bị cấm đối với Dân Rừng. Hãy nhớ lấy.”

“Bị cấm,” Bagheera nói, “nhưng tôi vẫn cho rằng Baloo lẽ ra phải cảnh báo em về chúng.”

“Tôi—tôi ư? Làm sao tôi đoán được nó lại chơi với thứ rác rưởi ấy. Dân Khỉ! Gớm!”

Một trận mưa mới lại trút xuống đầu họ, và cả hai chạy lon ton đi, mang Mowgli theo. Những lời Baloo nói về loài khỉ hoàn toàn đúng. Chúng sống trên các ngọn cây, mà thú vật rất hiếm khi nhìn lên, nên khỉ và Dân Rừng chẳng có lý do gì để chạm mặt nhau. Nhưng hễ gặp một con sói ốm, hay hổ hoặc gấu bị thương, lũ khỉ liền hành hạ kẻ ấy; chúng ném que và hạt vào bất kỳ con thú nào để mua vui và mong được chú ý. Rồi chúng tru tréo những bài hát vô nghĩa, thách Dân Rừng trèo lên cây đánh nhau với chúng; hoặc tự dưng mở những trận ác chiến giữa đồng loại chẳng vì lý do gì, rồi bỏ xác khỉ chết lại nơi Dân Rừng có thể trông thấy. Chúng lúc nào cũng sắp sửa có một thủ lĩnh, những luật lệ và tập tục riêng, nhưng chẳng bao giờ làm được, bởi trí nhớ của chúng không giữ nổi điều gì từ ngày này sang ngày khác. Thế nên chúng dàn xếp mọi chuyện bằng cách đặt ra một câu: “Điều Bandar-log nghĩ hôm nay, ngày mai cả khu rừng sẽ nghĩ,” và câu ấy an ủi chúng rất nhiều. Không con thú nào có thể với tới chúng, nhưng ngược lại cũng chẳng con thú nào thèm để ý đến chúng; bởi vậy chúng vui sướng biết bao khi Mowgli đến chơi và khi nghe thấy Baloo tức giận đến mức nào.

Chúng vốn chẳng định làm gì hơn—Bandar-log không bao giờ thực sự định làm bất cứ điều gì; nhưng một con trong bọn nảy ra ý tưởng mà nó cho là tuyệt diệu, rồi bảo tất cả những con khác rằng giữ Mowgli trong bộ tộc sẽ rất hữu ích, bởi cậu biết đan cành cây lại để chắn gió; vậy nếu bắt được cậu, chúng có thể buộc cậu dạy mình. Dĩ nhiên Mowgli, vốn là con của một người đốn củi, được thừa hưởng đủ loại bản năng, và vẫn thường dựng những túp lều nhỏ bằng cành rụng mà chẳng hề nghĩ xem tại sao mình biết làm thế. Dân Khỉ quan sát từ trên cây, coi trò chơi của cậu kỳ diệu vô cùng. Lần này, chúng nói, chúng thật sự sắp có một thủ lĩnh và sẽ trở thành giống dân thông thái nhất rừng—thông thái đến mức mọi kẻ khác đều phải chú ý và ghen tị. Vì thế chúng lặng lẽ bám theo Baloo, Bagheera và Mowgli xuyên qua rừng cho đến giờ ngủ trưa; còn Mowgli, vô cùng hổ thẹn về mình, nằm ngủ giữa Báo và Gấu, quyết từ nay không dính dáng gì đến Dân Khỉ nữa.

Điều tiếp theo cậu nhớ là cảm giác những bàn tay bám lấy chân và tay mình—những bàn tay nhỏ, cứng và khỏe—rồi một tràng cành lá quất vào mặt; sau đó cậu nhìn xuống qua những nhánh cây đung đưa, trong khi Baloo đánh thức cả khu rừng bằng tiếng gầm trầm vang, còn Bagheera nhe toàn bộ nanh, phóng vọt lên thân cây. Bandar-log tru lên đắc thắng, tranh nhau chạy ra các cành cao nơi Bagheera không dám đuổi theo, miệng la hét: “Hắn đã chú ý đến chúng ta! Bagheera đã chú ý đến chúng ta. Toàn thể Dân Rừng đều khâm phục tài nghệ và mưu trí của chúng ta.” Rồi chúng bắt đầu cuộc chạy trốn; mà cuộc chạy của Dân Khỉ qua xứ sở ngọn cây là một trong những điều không ai có thể miêu tả. Chúng có những con đường và ngã tư cố định, lên đồi xuống đồi, tất cả đều vạch ra ở độ cao từ năm mươi đến bảy mươi, thậm chí một trăm bộ trên mặt đất; theo những đường ấy, chúng có thể di chuyển cả ban đêm nếu cần. Hai con khỉ khỏe nhất chộp lấy Mowgli dưới nách và đu mình mang cậu lao qua các ngọn cây, mỗi cú phóng xa hai mươi bộ. Nếu đi một mình, chúng có thể nhanh gấp đôi, nhưng sức nặng của cậu bé ghìm chúng lại. Dẫu buồn nôn và choáng váng, Mowgli vẫn không khỏi thích thú trước cuộc lao đi cuồng dại; tuy những thoáng nhìn xuống mặt đất sâu hun hút bên dưới khiến cậu sợ hãi, và cú ghìm cùng cú giật khủng khiếp ở cuối mỗi nhịp đu qua khoảng không trống rỗng làm tim cậu vọt lên tận miệng. Hai kẻ áp giải sẽ kéo cậu lao vút lên một thân cây cho đến khi cậu cảm thấy những cành mảnh nhất trên ngọn kêu răng rắc và oằn xuống dưới sức nặng của họ; rồi với một tiếng ho và một tiếng hú, chúng phóng mình ra ngoài, xuống thấp giữa không trung, cuối cùng níu tay hoặc móc chân vào những cành thấp của cây kế tiếp mà dừng lại. Đôi khi cậu có thể nhìn xa hàng dặm qua khu rừng xanh bất động, như người trên đỉnh cột buồm có thể nhìn xa hàng dặm ngoài biển; rồi cành lá lại quất rát mặt cậu, và cậu cùng hai tên canh giữ gần như lại sà xuống tận mặt đất. Cứ thế, vừa nhảy phóng, đâm sầm, hú hét và la ó, cả bộ tộc Bandar-log cuốn đi dọc những con đường trên cây, mang theo tù nhân Mowgli của chúng.

Thoạt đầu, Mowgli sợ mình bị đánh rơi. Rồi cậu nổi giận, nhưng đủ khôn để không vùng vẫy, và bắt đầu suy nghĩ. Việc trước tiên là nhắn tin về cho Baloo và Bagheera, bởi với tốc độ của lũ khỉ, cậu biết các bạn mình sẽ bị bỏ lại rất xa phía sau. Nhìn xuống cũng vô ích, vì cậu chỉ thấy mặt trên của những cành cây; thế là cậu ngước nhìn và thấy, tít trên nền trời xanh, Rann Diều Hâu đang chao liệng, giữ thăng bằng trong lúc canh chừng khắp rừng, đợi con vật nào chết. Rann thấy lũ khỉ đang mang một vật gì đó, bèn hạ xuống vài trăm thước để xem món chúng mang có ăn được không. Nó huýt lên kinh ngạc khi thấy Mowgli bị lôi lên một ngọn cây và nghe cậu cất tiếng gọi của loài diều hâu: “Ta với ngươi cùng chung một dòng máu.” Những làn sóng cành lá khép lại trên đầu cậu bé, nhưng Rann đã lượn sang cây kế bên vừa kịp thấy khuôn mặt nhỏ rám nâu lại nhô lên. “Hãy ghi nhớ đường đi của tôi!” Mowgli hét. “Báo cho Baloo của bầy Seeonee và Bagheera của Council Rock.”

“Nhân danh ai, hỡi Người Anh Em?” Rann chưa từng thấy Mowgli, dù tất nhiên nó đã nghe nói về cậu.

“Mowgli, Ếch Con. Họ gọi tôi là đứa trẻ người! Hãy ghi nhớ đường đi của tôi!”

Những lời cuối cùng bật thành tiếng thét khi cậu bị quăng vút qua không trung, nhưng Rann gật đầu rồi bay cao mãi, cho đến khi trông chỉ lớn bằng một hạt bụi. Nó treo mình ở đó, dùng đôi mắt viễn kính dõi theo những ngọn cây lay động trên đường đoàn áp giải Mowgli vun vút lao đi.

“Chúng chẳng bao giờ đi xa,” nó khúc khích nói. “Chúng chẳng bao giờ làm xong việc đã định. Bọn Bandar-log lúc nào cũng mổ thử những thứ mới lạ. Lần này, nếu mắt ta còn tinh, chúng đã mổ phải tai họa cho chính mình rồi; bởi Baloo đâu phải chim non, còn Bagheera, như ta biết, có thể giết những con vật còn lớn hơn dê.”

Nói rồi, nó đung đưa trên đôi cánh, co chân sát dưới bụng và chờ đợi.

Trong lúc ấy, Baloo và Bagheera điên cuồng vì giận dữ và đau đớn. Bagheera trèo như chưa bao giờ từng trèo, nhưng những cành mảnh dẻ gãy dưới sức nặng của chàng, khiến chàng trượt xuống, móng vuốt đầy những mảnh vỏ cây.

“Sao ngươi không cảnh báo đứa trẻ người?” chàng gầm lên với Baloo tội nghiệp, lúc ấy đang lạch bạch chạy hết sức với hy vọng đuổi kịp lũ khỉ. “Đánh nó gần chết phỏng có ích gì nếu ngươi không cảnh báo nó?”

“Mau lên! Ôi, mau lên! Chúng ta—chúng ta vẫn có thể đuổi kịp chúng!” Baloo vừa nói vừa thở hổn hển.

“Với tốc độ ấy ư! Đến một con bò cái bị thương cũng chẳng thấy mệt. Thầy dạy Luật—kẻ đánh trẻ—lăn lóc như thế một dặm thôi là ngươi vỡ bụng mất. Ngồi yên mà nghĩ! Lập kế hoạch đi. Đây không phải lúc đuổi bắt. Nếu chúng ta bám quá sát, chúng có thể đánh rơi nó.”

“Arrula! Whoo! Có khi chúng đã chán mang và đánh rơi nó rồi. Ai mà tin được bọn Bandar-log? Hãy đội dơi chết lên đầu ta! Cho ta ăn những khúc xương đen! Lăn ta vào tổ ong rừng cho chúng đốt ta chết đi, rồi chôn ta cùng Linh Cẩu, bởi ta là con gấu khốn khổ nhất đời! Arulala! Wahooa! Ôi Mowgli, Mowgli! Sao ta không cảnh báo con về Tộc Khỉ, mà lại đánh vỡ đầu con? Có lẽ ta đã đánh bay bài học hôm nay khỏi trí nhớ nó, để rồi nó phải một mình trong rừng mà không biết những Lời Chủ.”

Baloo lấy hai chân ôm chặt tai, vừa rên rỉ vừa lăn qua lăn lại.

“Ít nhất cách đây không lâu nó còn đọc đúng hết các Lời cho ta nghe,” Bagheera sốt ruột nói. “Baloo, ngươi chẳng có trí nhớ cũng chẳng biết tự trọng. Rừng xanh sẽ nghĩ sao nếu ta, Báo Đen, cuộn tròn mình như Ikki Nhím và tru khóc?”

“Ta cần gì biết rừng xanh nghĩ sao? Có khi giờ này nó đã chết rồi.”

“Trừ phi và cho đến khi chúng đánh rơi nó khỏi cành cây để mua vui, hoặc giết nó chỉ vì rỗi việc, ta không lo cho đứa trẻ người. Nó khôn ngoan, được dạy dỗ chu đáo, và trên hết, nó có đôi mắt khiến Cư Dân Rừng Xanh phải sợ. Nhưng—và đây là điều vô cùng nguy hiểm—nó đang nằm trong quyền lực của bọn Bandar-log; mà chúng, vì sống trên cây, chẳng sợ bất cứ ai trong giống loài chúng ta.” Bagheera trầm ngâm liếm một chân trước.

“Ta thật ngu ngốc! Ôi, ta đúng là tên ngốc béo ú, lông nâu, chuyên đào rễ,” Baloo nói, giật mình duỗi người ra. “Hathi Voi Rừng nói quả không sai: ‘Mỗi loài có một nỗi sợ riêng’; mà bọn Bandar-log thì sợ Kaa Mãng Xà Đá. Kaa trèo giỏi chẳng kém gì chúng. Ban đêm, Kaa lẻn bắt khỉ con. Chỉ tiếng thì thầm nhắc đến tên Kaa cũng khiến những cái đuôi độc ác của chúng lạnh ngắt. Chúng ta hãy đi tìm Kaa.”

“Kaa sẽ làm gì cho chúng ta? Hắn đâu cùng giống loài với ta, lại không chân—và có đôi mắt hiểm độc vô cùng,” Bagheera nói.

“Kaa rất già và rất xảo quyệt. Quan trọng hơn hết, lúc nào Kaa cũng đói,” Baloo đầy hy vọng nói. “Hãy hứa cho Kaa thật nhiều dê.”

“Sau mỗi lần ăn, hắn ngủ liền một tháng. Có khi giờ này hắn đang ngủ; mà dù hắn có thức, nhỡ hắn thích tự mình giết dê hơn thì sao?” Bagheera không biết nhiều về Kaa nên dĩ nhiên vẫn nghi ngại.

“Thế thì trong trường hợp ấy, ngươi và ta hợp sức, hỡi thợ săn già, có lẽ sẽ khiến Kaa biết điều.” Nói đoạn, Baloo cọ bờ vai nâu bạc màu vào Báo Đen, rồi cả hai lên đường tìm Kaa Mãng Xà Đá.

Họ thấy Kaa duỗi mình trên một gờ đá ấm áp dưới nắng chiều, đang ngắm nghía bộ áo mới tuyệt đẹp. Suốt mười ngày qua, Kaa ẩn mình để thay da, và giờ đây trông lộng lẫy vô cùng—cái đầu lớn, mõm tù lao vun vút sát mặt đất, thân mình dài ba mươi bộ xoắn thành những nút thắt và đường cong kỳ dị, còn lưỡi thì liếm mép khi nghĩ đến bữa tối sắp tới.

“Kaa chưa ăn,” Baloo khụt khịt nhẹ nhõm ngay khi trông thấy bộ áo nâu vàng điểm vằn tuyệt đẹp. “Cẩn thận đấy, Bagheera! Sau khi thay da, Kaa bao giờ cũng hơi lòa mắt và ra đòn rất nhanh.”

Kaa không phải rắn độc—thật ra Kaa khá khinh những loài rắn độc là hèn nhát—nhưng sức mạnh của Kaa nằm trong cái siết; một khi những vòng thân khổng lồ đã quấn quanh ai thì chẳng còn gì để nói nữa. “Đi săn may mắn!” Baloo vừa gọi vừa ngồi dựng trên hai chân sau. Như mọi con rắn cùng giống, Kaa khá nặng tai nên thoạt đầu không nghe tiếng chào. Sau đó Kaa cuộn mình lại, sẵn sàng đối phó mọi bất trắc, đầu hạ thấp.

“Chúc tất cả chúng ta đi săn may mắn,” Kaa đáp. “Ồ, Baloo, ngươi làm gì ở đây? Đi săn may mắn, Bagheera. Ít nhất một kẻ trong chúng ta đang cần thức ăn. Có tin gì về con mồi đang đi lại không? Một con nai cái chẳng hạn, hay dù chỉ một con hoẵng đực non? Bụng ta rỗng như giếng cạn.”

“Chúng ta đang đi săn,” Baloo thản nhiên nói. Baloo biết không được giục giã Kaa. Kaa quá lớn.

“Cho phép ta đi cùng các ngươi,” Kaa nói. “Thêm hay bớt một cú đánh chẳng đáng gì với ngươi, Bagheera, hay ngươi, Baloo; nhưng ta—ta phải chờ đợi hết ngày này sang ngày khác bên một lối mòn trong rừng, rồi trèo suốt nửa đêm chỉ để mong gặp may bắt được một con khỉ non. Xì! Cành cây bây giờ chẳng còn như hồi ta trẻ nữa. Toàn cành con mục ruỗng với cành lớn khô giòn.”

“Có lẽ sức nặng ghê gớm của ngươi cũng can dự đôi chút vào chuyện ấy,” Baloo nói.

“Ta chỉ dài vừa phải—vừa phải thôi,” Kaa nói, giọng hơi kiêu hãnh. “Nhưng dù sao đi nữa, lỗi là tại đám cây mới mọc này. Trong chuyến săn vừa rồi, ta suýt ngã—quả thực suýt ngã—và tiếng động khi ta trượt chân, vì đuôi ta không quấn chặt quanh thân cây, đã đánh thức bọn Bandar-log; thế là chúng gọi ta bằng những cái tên hết sức độc địa.”

“Đồ sâu đất vàng khè không chân,” Bagheera lẩm bẩm dưới hàng ria, như thể đang cố nhớ lại điều gì.

“Xìììì! Chúng từng gọi ta như thế sao?” Kaa hỏi.

“Hình như hồi tuần trăng trước chúng đã hét với chúng ta những lời đại loại thế, nhưng chúng ta chẳng để ý. Chúng nói bất cứ điều gì—thậm chí còn bảo răng ngươi đã rụng sạch, rằng ngươi chẳng dám đối đầu với con vật nào lớn hơn dê con, bởi vì—bọn Bandar-log quả thực trơ trẽn—bởi vì ngươi sợ cặp sừng của dê đực,” Bagheera ngọt ngào nói tiếp.

Rắn, nhất là một con trăn già thận trọng như Kaa, rất hiếm khi để lộ cơn giận; nhưng Baloo và Bagheera có thể thấy những bắp thịt lớn dùng để nuốt ở hai bên cổ Kaa gợn lên và phồng ra.

“Bọn Bandar-log đã đổi địa bàn,” Kaa điềm tĩnh nói. “Hôm nay, khi bò ra phơi nắng, ta nghe tiếng chúng hú hét trên những ngọn cây.”

“Chính—chính bọn Bandar-log là đối tượng chúng ta đang đuổi theo,” Baloo nói, nhưng lời nghẹn lại trong cổ; bởi từ khi Baloo biết nhớ đến nay, đây là lần đầu tiên một Cư Dân Rừng Xanh thú nhận mình quan tâm đến hành động của lũ khỉ.

“Vậy hẳn không phải chuyện nhỏ mới khiến hai thợ săn như các ngươi—chắc chắn đều là những bậc thủ lĩnh trong rừng của mình—phải lần theo dấu bọn Bandar-log,” Kaa nhã nhặn đáp, lòng hiếu kỳ mỗi lúc một lớn.

“Thật ra,” Baloo mở lời, “ta chẳng qua chỉ là ông thầy dạy Luật già nua, đôi khi rất ngốc nghếch, của lũ sói con Seeonee; còn Bagheera đây—”

“Là Bagheera,” Báo Đen nói, hai hàm khép lại đánh cộp, bởi chàng không tin vào thói khiêm nhường. “Chuyện là thế này, Kaa. Lũ trộm hạt và bứt lá cọ ấy đã bắt đi đứa trẻ người của chúng ta, mà có lẽ ngươi từng nghe nói đến.”

“Ta có nghe Ikki—những chiếc lông gai khiến hắn sinh lòng tự phụ—kể vài tin về một sinh vật người được nhận vào một bầy sói, nhưng ta không tin. Ikki đầy những câu chuyện nghe lõm bõm rồi kể lại vô cùng tệ hại.”

“Nhưng đó là sự thật. Nó là một đứa trẻ người độc nhất vô nhị,” Baloo nói. “Đứa trẻ người giỏi nhất, khôn ngoan nhất và gan dạ nhất—học trò của chính ta, đứa sẽ làm danh tiếng Baloo lẫy lừng khắp các khu rừng; ngoài ra, ta—chúng ta—yêu quý nó, Kaa.”

“Chậc! Chậc!” Kaa nói, đầu đưa qua đưa lại. “Ta cũng từng biết yêu thương là gì. Ta có thể kể những câu chuyện mà—”

“Mà phải đợi một đêm quang đãng, khi tất cả chúng ta đều no nê, mới có thể tán thưởng cho phải phép,” Bagheera vội ngắt lời. “Đứa trẻ người của chúng ta giờ đang ở trong tay bọn Bandar-log, và chúng ta biết trong tất cả Cư Dân Rừng Xanh, chúng chỉ sợ một mình Kaa.”

“Chúng chỉ sợ một mình ta. Chúng có lý do chính đáng,” Kaa nói. “Lắm lời, ngu xuẩn, hợm hĩnh—hợm hĩnh, ngu xuẩn và lắm lời, ấy là lũ khỉ. Nhưng một sinh vật người rơi vào tay chúng thì chẳng gặp vận may đâu. Chúng chán những hạt mình hái rồi ném đi. Chúng mang một cành cây suốt nửa ngày, định làm những việc vĩ đại với nó, rồi lại bẻ đôi. Sinh vật người ấy chẳng có gì đáng để ghen tị. Chúng còn gọi ta là—‘cá vàng’, phải không?”

“Sâu—sâu đất,” Bagheera nói, “cùng nhiều thứ khác mà giờ ta xấu hổ không tiện nhắc lại.”

“Chúng ta phải nhắc chúng biết nói năng cho tử tế về chủ nhân của mình. Aaa-xìì! Chúng ta phải giúp những trí nhớ lang thang ấy. Nào, chúng đã mang đứa trẻ đi đâu?”

“Chỉ rừng xanh mới biết. Ta nghĩ là về phía mặt trời lặn,” Baloo nói. “Chúng ta cứ tưởng ngươi sẽ biết, Kaa.”

“Ta ư? Vì sao? Ta bắt chúng khi chúng đi ngang đường ta, nhưng ta không săn bọn Bandar-log, cũng như không săn ếch—hay váng xanh trên vũng nước, nếu nói cho cùng.”

“Nhìn lên! Nhìn lên! Nhìn lên! Nhìn lên! Hô! Hô! Hô, nhìn lên đi, Baloo của Bầy Sói Seeonee!”

Baloo ngước nhìn xem tiếng gọi từ đâu tới, và kia là Rann Diều Hâu đang sà xuống, ánh mặt trời rực lên trên những mép cánh ngửa cao. Đã gần đến giờ ngủ của Rann, nhưng nó đã lượn khắp rừng tìm Gấu mà không thấy vì tán lá quá dày.

“Có chuyện gì?” Baloo hỏi.

“Tôi đã thấy Mowgli giữa bọn Bandar-log. Cậu ấy bảo tôi báo cho các vị. Tôi đã theo dõi. Bọn Bandar-log đã mang cậu ấy qua bên kia sông, đến thành phố của loài khỉ—đến Hang Lạnh. Chúng có thể ở đó một đêm, hoặc mười đêm, hoặc chỉ một giờ. Tôi đã nhắn lũ dơi canh chừng suốt thời gian trời tối. Tin của tôi chỉ có thế. Chúc tất cả các vị dưới kia đi săn may mắn!”

“Chúc ngươi no căng diều và ngủ thật say, Rann,” Bagheera gọi lớn. “Trong lần hạ mồi kế tiếp, ta sẽ nhớ đến ngươi và để riêng cái đầu cho một mình ngươi, hỡi con diều hâu xuất sắc nhất!”

“Không có gì. Không có gì. Cậu bé biết Lời Chủ. Tôi không thể không giúp,” Rann nói rồi lại lượn vòng lên chỗ ngủ.

“Nó không quên dùng cái lưỡi của mình,” Baloo cười khúc khích đầy tự hào. “Thử nghĩ xem, còn nhỏ đến thế mà giữa lúc bị lôi qua những ngọn cây, nó vẫn nhớ cả Lời Chủ dành cho loài chim!”

“Những lời ấy đã được nện vào đầu nó thật chắc,” Bagheera nói. “Nhưng ta tự hào về nó; giờ chúng ta phải đến Hang Lạnh.”

Tất cả đều biết nơi ấy ở đâu, nhưng rất ít Cư Dân Rừng Xanh từng tới đó, bởi nơi chúng gọi là Hang Lạnh vốn là một thành phố cổ bị bỏ hoang, thất lạc và chôn vùi giữa rừng; mà thú vật hiếm khi sử dụng một nơi con người từng dùng. Lợn rừng thì có, nhưng các giống loài săn mồi thì không. Hơn nữa, lũ khỉ sống ở đó—nếu có thể nói chúng thực sự sống ở bất cứ đâu—và không con vật nào biết tự trọng lại bén mảng đến nơi có thể nhìn thấy nó, trừ những lúc hạn hán, khi các bể chứa và hồ nước đổ nát một nửa vẫn còn giữ được chút nước.

[Minh họa: “Hang Lạnh”]

“Nếu đi hết tốc lực thì cũng mất nửa đêm,” Bagheera nói, và Baloo lộ vẻ hết sức nghiêm trọng. “Ta sẽ đi nhanh hết sức mình,” Baloo lo lắng nói.

“Chúng ta không dám chờ ngươi. Hãy theo sau, Baloo. Kaa và ta phải đi thật nhanh.”

“Có chân hay không chân, ta vẫn theo kịp cả bốn chân của ngươi,” Kaa cụt lủn đáp. Baloo cố gắng chạy nhanh một lần, nhưng rồi phải ngồi xuống thở hổn hển; thế là họ để Baloo đi sau, còn Bagheera vội vã lao về phía trước bằng bước phi nhanh của loài báo. Kaa không nói gì, nhưng Bagheera có cố đến đâu, con Mãng Xà Đá khổng lồ vẫn giữ ngang hàng với chàng. Khi đến một con suối trên đồi, Bagheera vượt lên vì chàng phóng một cú qua bờ bên kia, trong khi Kaa phải bơi, đầu cùng hai bộ cổ nhô trên mặt nước; nhưng khi trở lại đất bằng, Kaa nhanh chóng san bằng khoảng cách.

“Nhân danh Chiếc Khóa Gãy đã giải thoát ta,” Bagheera nói khi hoàng hôn buông xuống, “ngươi đi chẳng chậm chút nào!”

“Ta đang đói,” Kaa đáp. “Vả lại, chúng đã gọi ta là ếch đốm.”

“Sâu—sâu đất, lại còn vàng khè nữa.”

“Cũng thế cả. Ta đi tiếp thôi,” Kaa nói, rồi dường như trút cả thân mình chảy dài trên mặt đất, đôi mắt điềm tĩnh tìm ra con đường ngắn nhất và cứ thế mà theo.

Ở Phế Thành Lạnh, tộc Khỉ chẳng hề nghĩ đến những người bạn của Mowgli. Chúng đã đem cậu bé về Thành Phố Hoang và lúc ấy đang hết sức đắc ý. Mowgli chưa từng thấy một thành phố Ấn Độ nào, và tuy nơi này gần như chỉ còn là một đống hoang tàn, nó vẫn hiện ra trước mắt cậu kỳ diệu và tráng lệ vô cùng. Từ thuở xa xưa, một vị vua nào đó đã xây thành trên một ngọn đồi nhỏ. Người ta vẫn còn nhận ra những con đường đắp bằng đá dẫn lên các cổng thành đổ nát, nơi mấy mảnh gỗ cuối cùng còn đeo trên những bản lề mòn vẹt, hoen gỉ. Cây cối mọc xuyên vào rồi trồi ra khỏi các bức tường; những lỗ châu mai đã sụp đổ, mục nát, còn dây leo hoang từ cửa sổ các ngọn tháp trên tường thành buông xuống thành từng bụi rậm rạp.

Một cung điện lớn không còn mái ngự trên đỉnh đồi; đá cẩm thạch lát sân và xây đài phun nước đã nứt vỡ, loang lổ những vệt đỏ xanh; ngay cả những viên đá cuội lát khoảng sân nơi đàn voi của nhà vua từng ở cũng bị cỏ và cây non đội bật lên, xô lìa khỏi nhau. Từ cung điện có thể nhìn thấy hết dãy này đến dãy khác những ngôi nhà trơ mái hợp thành thành phố, trông như những tầng tổ ong rỗng chứa đầy bóng tối; khối đá méo mó từng là pho thần tượng giữa quảng trường nơi bốn con đường giao nhau; những hốc lõm ở các góc phố, chỗ trước kia đặt giếng công cộng; cùng những mái vòm đền thờ vỡ nát, bên sườn mọc tua tủa những cây sung dại. Lũ khỉ gọi nơi ấy là thành phố của mình, lại giả vờ khinh miệt cư dân rừng xanh vì họ sống trong rừng. Thế nhưng chúng chẳng bao giờ biết những công trình kia được dựng lên để làm gì, cũng không biết dùng chúng ra sao. Chúng ngồi thành vòng trong đại sảnh nghị triều của nhà vua, bắt chấy cho nhau và giả làm người; hoặc chạy ra chạy vào những ngôi nhà trơ mái, gom các mảnh vữa và gạch cũ vào một góc rồi quên mất đã giấu ở đâu, sau đó đánh nhau, la hét, xô đẩy thành từng đám hỗn loạn, rồi bỗng bỏ ngang để chạy nhảy khắp các tầng sân trong vườn ngự, đùa nghịch rung cây hoa hồng và cây cam cho quả với hoa rụng xuống. Chúng thám hiểm mọi lối đi, mọi đường hầm tối tăm trong cung điện cùng hàng trăm căn phòng nhỏ âm u, nhưng chẳng bao giờ nhớ mình đã thấy gì và chưa thấy gì; bởi vậy chúng cứ lang thang từng con, từng đôi hay từng đàn, bảo nhau rằng mình đang làm như loài người. Chúng uống nước trong các bể, quậy cho nước đục ngầu, rồi tranh giành đánh nhau vì nước; sau đó lại cùng ùa thành đám đông mà gào lên: “Trong rừng không một ai khôn ngoan, tốt bụng, tài giỏi, mạnh mẽ và hiền hòa bằng Bandar-log.” Rồi mọi chuyện lại diễn ra từ đầu, cho đến khi chúng chán thành phố và trở về những ngọn cây, mong sao cư dân rừng xanh để ý đến mình.

Mowgli, vốn được rèn dạy theo Luật Rừng, không thích mà cũng chẳng hiểu nổi lối sống ấy. Lũ khỉ kéo cậu vào Phế Thành Lạnh lúc chiều muộn; thay vì đi ngủ sau chuyến đường dài như Mowgli vẫn làm, chúng lại nắm tay nhau, nhảy múa vòng quanh và hát những bài ca ngu xuẩn. Một con khỉ đứng lên diễn thuyết, bảo đồng bọn rằng việc bắt được Mowgli đã mở ra một trang mới trong lịch sử Bandar-log, bởi Mowgli sẽ chỉ cho chúng cách đan cành cây và thân sậy lại với nhau để che mưa tránh rét. Mowgli nhặt vài sợi dây leo, bắt đầu luồn chúng đan qua đan lại, và lũ khỉ cũng cố bắt chước; nhưng chỉ ít phút sau, chúng đã chán, quay sang giật đuôi bạn bè hoặc chống cả bốn chân nhảy lên nhảy xuống, miệng ho hắng.

“Ta muốn ăn,” Mowgli nói. “Ta là khách lạ ở vùng rừng này. Hãy mang thức ăn đến cho ta, hoặc cho phép ta săn ở đây.”

Hai ba chục con khỉ nhảy phắt đi tìm hạt và đu đủ dại cho cậu. Nhưng dọc đường chúng lại đánh nhau, mà mang trở về chỗ hoa quả còn sót thì phiền phức quá. Mowgli vừa đau, vừa giận, lại vừa đói; cậu lang thang khắp thành phố trống rỗng, thỉnh thoảng cất Tiếng Gọi Đi Săn của Khách Lạ, nhưng không ai đáp lại. Mowgli cảm thấy mình quả thật đã sa vào một nơi vô cùng tồi tệ. “Mọi điều Baloo nói về Bandar-log đều đúng,” cậu nghĩ bụng. “Chúng không có Luật, không có Tiếng Gọi Đi Săn, không có thủ lĩnh—chẳng có gì ngoài những lời ngu xuẩn và những bàn tay bé nhỏ táy máy ăn cắp. Vậy nếu ta chết đói hay bị giết ở đây thì hoàn toàn là lỗi của chính ta. Nhưng ta phải tìm cách trở về khu rừng của mình. Baloo chắc chắn sẽ đánh ta, song như thế vẫn còn hơn chạy theo những cánh hoa hồng ngớ ngẩn với Bandar-log.”

Cậu vừa đi tới tường thành thì lũ khỉ đã kéo giật lại, bảo rằng cậu không biết mình đang sung sướng đến mức nào, rồi véo cậu để bắt cậu phải biết ơn. Mowgli nghiến răng, không nói một lời, đi theo đám khỉ la hét đến một tầng sân cao bên trên những bể chứa bằng sa thạch đỏ, trong bể còn lưng chừng nước mưa. Chính giữa tầng sân là một thủy tạ bằng cẩm thạch trắng đã đổ nát, được xây cho những bà hoàng hậu đã chết từ trăm năm trước. Mái vòm sụp mất một nửa, lấp kín đường ngầm từ cung điện mà các hoàng hậu xưa kia dùng để đi vào. Nhưng các bức tường lại là những tấm bình phong chạm lộng bằng cẩm thạch—hoa văn tinh xảo trắng như sữa, nạm mã não, hồng ngọc tủy, ngọc thạch và thanh kim thạch; khi mặt trăng nhô lên sau đồi, ánh sáng xuyên qua những ô chạm thủng, in xuống đất những bóng đen như hình thêu trên nhung. Dẫu mình mẩy đau nhức, buồn ngủ và đói ngấu, Mowgli vẫn không nhịn được cười khi Bandar-log, mỗi lượt hai chục con, bắt đầu kể cho cậu nghe chúng vĩ đại, khôn ngoan, mạnh mẽ và hiền hòa đến mức nào, còn cậu ngu ngốc ra sao khi muốn rời bỏ chúng. “Chúng ta vĩ đại. Chúng ta tự do. Chúng ta tuyệt diệu. Chúng ta là giống dân tuyệt diệu nhất trong toàn cõi rừng! Tất cả chúng ta đều nói thế, vậy nhất định đó là sự thật,” chúng gào lên. “Giờ ngươi là một thính giả mới, lại có thể đem lời chúng ta về kể cho cư dân rừng xanh để từ nay họ phải để ý đến chúng ta, chúng ta sẽ kể cho ngươi tất cả về bản thân ưu tú vô song của chúng ta.” Mowgli không phản đối, và lũ khỉ tụ họp hàng trăm, hàng trăm con trên tầng sân để nghe chính những diễn giả của mình ca tụng Bandar-log; hễ một diễn giả dừng lại vì hết hơi, cả bọn lại đồng thanh gào: “Đúng thế; tất cả chúng ta đều nói thế.” Mowgli gật đầu, chớp mắt, đáp “Phải” mỗi khi chúng hỏi, còn đầu óc cậu quay cuồng vì tiếng ồn. “Hẳn chó rừng Tabaqui đã cắn hết bọn này,” cậu nghĩ bụng, “nên giờ chúng đều hóa điên. Chắc chắn đây là _dewanee_, chứng điên. Chúng không bao giờ ngủ hay sao? Kìa, một đám mây đang kéo tới che mặt trăng. Giá mà nó đủ lớn, ta có thể thử chạy trốn trong bóng tối. Nhưng ta mệt quá rồi.”

Cũng chính đám mây ấy đang được hai người bạn tốt theo dõi dưới con hào đổ nát bên ngoài tường thành, bởi Bagheera và Kaa biết rõ tộc Khỉ nguy hiểm đến mức nào khi tụ tập đông đảo, nên không muốn liều lĩnh. Lũ khỉ chẳng bao giờ chịu đánh nếu không đông gấp trăm lần đối thủ, mà trong rừng hiếm ai ưa một thế chênh lệch như vậy.

“Ta sẽ đến bức tường phía tây,” Kaa thì thầm, “rồi lao xuống thật nhanh, mượn thế đất dốc. Chúng sẽ không dám đổ hàng trăm con lên lưng ta, nhưng—”

“Ta biết,” Bagheera nói. “Giá có Baloo ở đây, nhưng chúng ta phải làm hết sức mình. Khi đám mây ấy che khuất mặt trăng, ta sẽ lên tầng sân. Hình như chúng đang họp hành gì đó quanh đứa trẻ.”

“Đi săn thuận lợi,” Kaa lạnh lùng nói rồi trườn về phía tường thành phía tây. Tình cờ đó lại là đoạn tường ít đổ nát nhất, nên con trăn lớn mất một lúc mới tìm được đường bò lên những khối đá. Đám mây che khuất mặt trăng, và trong khi Mowgli còn tự hỏi chuyện gì sẽ xảy đến tiếp theo, cậu nghe tiếng chân nhẹ nhàng của Bagheera trên tầng sân. Báo Đen đã phóng lên sườn dốc hầu như không một tiếng động và đang quật—nó quá hiểu chuyện, không phí thì giờ cắn xé—sang phải rồi sang trái giữa lũ khỉ ngồi thành những vòng dày đến năm sáu chục lớp quanh Mowgli. Một tiếng tru vừa kinh hãi vừa giận dữ nổi lên; rồi khi Bagheera trượt chân trên những thân hình lăn lộn, quẫy đạp bên dưới, một con khỉ gào: “Chỉ có một mình nó! Giết nó! Giết đi!” Một khối khỉ hỗn loạn, vừa cắn, cào, xé, vừa giằng kéo, trùm kín Bagheera; trong khi năm sáu con khác túm lấy Mowgli, lôi cậu lên tường thủy tạ rồi đẩy qua lỗ thủng trên mái vòm. Một đứa trẻ được người nuôi dạy hẳn đã bầm dập thảm hại, vì cú rơi sâu đến gần năm mét; nhưng Mowgli rơi đúng như Baloo đã dạy và tiếp đất bằng hai chân.

“Cứ ở yên đó,” lũ khỉ gào lên, “cho đến khi bọn ta giết xong bạn ngươi; sau đó bọn ta sẽ chơi với ngươi—nếu tộc Độc để ngươi sống.”

“Ta với các ngươi cùng chung một dòng máu,” Mowgli nói, nhanh chóng cất Tiếng Gọi của Loài Rắn. Cậu nghe tiếng sột soạt và tiếng rít trong đống gạch vụn khắp chung quanh, bèn cất tiếng gọi lần thứ hai cho chắc.

“Đúng thếếế! Tất cả hạ bành xuống!” nửa tá giọng trầm đáp lại (mọi phế tích ở Ấn Độ, sớm hay muộn, đều trở thành nơi cư ngụ của rắn, và ngôi thủy tạ cũ nhung nhúc rắn hổ mang). “Đứng yên, Em Nhỏ, kẻo chân ngươi làm chúng ta bị thương.”

Mowgli đứng yên hết mức có thể, ghé mắt nhìn qua những ô chạm lộng và lắng nghe tiếng hỗn chiến dữ dội quanh Báo Đen—những tiếng rú, tiếng chí chóe, tiếng giằng co, cùng tiếng ho khàn trầm của Bagheera khi nó vừa lùi, vừa hất, vừa vặn mình, vừa lao tới dưới những đống kẻ thù. Lần đầu tiên kể từ khi chào đời, Bagheera phải chiến đấu để giành lấy mạng sống.

“Baloo hẳn đang ở gần đây; Bagheera sẽ không đến một mình,” Mowgli nghĩ. Rồi cậu lớn tiếng gọi: “Ra bể nước, Bagheera. Lăn về phía các bể nước. Lăn đi, lao xuống! Xuống nước mau!”

Bagheera nghe thấy, và tiếng gọi báo rằng Mowgli vẫn an toàn đã tiếp thêm can đảm cho nó. Nó liều chết mở đường, từng tấc từng tấc một, thẳng về phía các bể chứa, không một tiếng rên. Bấy giờ, từ bức tường đổ gần rừng nhất vang lên tiếng xung trận ầm ầm của Baloo. Gấu già đã cố hết sức, nhưng không thể đến sớm hơn. “Bagheera,” lão gào, “ta đây. Ta đang trèo lên! Ta đến ngay! Ahuwora! Đá cứ trượt dưới chân ta! Hãy chờ ta tới, hỡi Bandar-log đê tiện nhất trần đời!” Lão thở hồng hộc trèo lên tầng sân, chỉ để lập tức chìm tới đầu trong một làn sóng khỉ; nhưng lão ngồi phịch ngay ngắn trên hai chân sau, dang rộng hai chân trước ôm ghì được bao nhiêu hay bấy nhiêu, rồi bắt đầu nện đều bình-bịch-bịch, như những nhát quạt liên hồi của bánh guồng. Một tiếng rầm rồi tiếng nước bắn tung tóe báo cho Mowgli biết Bagheera đã đánh được tới bể nước, nơi lũ khỉ không thể đuổi theo. Báo Đen nằm thở hổn hển, chỉ nhô đầu khỏi mặt nước, còn lũ khỉ đứng ken dày ba lớp trên những bậc đá đỏ, tức tối nhảy choi choi, sẵn sàng từ mọi phía bổ xuống nếu nó lên bờ giúp Baloo. Chính lúc ấy Bagheera ngẩng chiếc cằm đẫm nước và trong tuyệt vọng cất Tiếng Gọi của Loài Rắn để cầu che chở—“Ta với các ngươi cùng chung một dòng máu”—bởi nó tưởng Kaa đã quay đuôi bỏ chạy vào phút chót. Ngay cả Baloo, đang bị lũ khỉ trên mép tầng sân đè gần nghẹt thở, cũng không nhịn được cười khùng khục khi nghe Báo Đen cầu cứu.

Kaa vừa mới vượt qua tường thành phía tây, khi tiếp đất đã vặn mạnh thân mình đến mức làm bật một phiến đá chóp tường rơi xuống hào. Nó không định để phí bất cứ lợi thế địa hình nào, nên cuộn rồi duỗi mình một hai lượt để chắc rằng từng tấc trên thân hình dài ngoẵng đều hoạt động hoàn hảo. Suốt lúc ấy, trận đánh quanh Baloo vẫn tiếp diễn, lũ khỉ vẫn gào thét bên bể nước quanh Bagheera, còn Mang Dơi bay đi bay lại, truyền tin về trận đại chiến khắp rừng, cho đến khi cả Hathi Voi Hoang cũng rống lên; ở tít xa, những toán tộc Khỉ rải rác thức giấc, nhảy dọc các con đường trên cây tới giúp đồng bọn tại Phế Thành Lạnh; tiếng giao tranh còn đánh thức hết thảy chim muông ban ngày trong vòng nhiều dặm. Rồi Kaa lao thẳng tới, nhanh như chớp và nóng lòng giết chóc. Sức chiến đấu của trăn nằm ở cú thúc bằng đầu, được hậu thuẫn bởi toàn bộ sức mạnh và trọng lượng cơ thể. Nếu có thể hình dung một ngọn giáo, một thân cây phá cổng hay một cây búa nặng gần nửa tấn, do một trí óc lạnh lùng, điềm tĩnh ngự trong cán điều khiển, thì bạn sẽ phần nào hình dung được Kaa lúc giao chiến. Một con trăn dài hơn một mét có thể đánh ngã một người nếu húc trúng giữa ngực, mà Kaa, như bạn đã biết, dài đến hơn chín mét. Cú đánh đầu tiên của nó giáng thẳng vào giữa đám đông vây quanh Baloo. Nó ngậm miệng, lặng lẽ tung trọn cú đánh, và chẳng cần đến cú thứ hai. Lũ khỉ tán loạn, gào rú: “Kaa! Kaa đấy! Chạy! Chạy mau!”

Bao thế hệ khỉ đã bị dọa phải ngoan ngoãn bởi những câu chuyện bậc già kể về Kaa, tên trộm trong đêm có thể lướt dọc cành cây lặng lẽ như rêu mọc rồi cuỗm đi con khỉ khỏe nhất từng sống; về Kaa già nua có thể hóa mình giống một cành cây chết hay gốc cây mục đến nỗi kẻ khôn ngoan nhất cũng bị lừa, cho tới khi cành cây ấy chộp lấy chúng. Kaa là hiện thân của mọi nỗi kinh hoàng mà lũ khỉ khiếp sợ trong rừng, bởi không con nào biết quyền năng của nó có giới hạn ở đâu, không con nào dám nhìn thẳng vào mặt nó, và chưa kẻ nào từng sống sót thoát khỏi vòng siết của nó. Bởi thế chúng lắp bắp vì kinh hãi, chạy lên các bức tường và mái nhà, còn Baloo thở phào nhẹ nhõm. Lông lão dày hơn Bagheera rất nhiều, nhưng lão cũng đã chịu đau đớn khủng khiếp trong trận chiến. Bấy giờ Kaa lần đầu tiên há miệng, rít ra một tiếng dài; những con khỉ ở xa đang vội vã tới bảo vệ Phế Thành Lạnh lập tức dừng nguyên tại chỗ, co rúm người, cho đến khi những cành cây trĩu nặng dưới chân chúng cong xuống kêu răng rắc. Lũ khỉ trên tường thành và những ngôi nhà trống cũng ngừng la hét; trong sự tĩnh lặng trùm xuống thành phố, Mowgli nghe thấy Bagheera giũ hai bên sườn ướt sũng khi bước lên khỏi bể. Rồi tiếng huyên náo lại bùng lên. Lũ khỉ nhảy lên cao hơn trên tường thành. Chúng bám quanh cổ những pho tượng đá khổng lồ, vừa nhảy dọc các lỗ châu mai vừa rú rít; còn Mowgli nhảy nhót trong thủy tạ, ghé mắt vào ô chạm lộng, bặm hai răng cửa hú như cú để tỏ ý chế giễu và khinh miệt.

“Đưa đứa trẻ người ra khỏi cái bẫy ấy đi; ta không làm gì thêm được nữa,” Bagheera hổn hển nói. “Hãy đem đứa trẻ đi khỏi đây. Có thể chúng sẽ tấn công lần nữa.”

“Chúng sẽ không nhúc nhích cho tới khi ta ra lệnh. Cứ đứng yên thếếế!” Kaa rít lên, và thành phố lại lặng ngắt. “Ta không thể tới sớm hơn, người anh em, nhưng hình như ta đã nghe ngươi cất tiếng gọi”—câu này nó nói với Bagheera.

“Ta—có lẽ ta đã kêu lên giữa trận chiến,” Bagheera đáp. “Baloo, anh có bị thương không?”

“Ta không chắc chúng có xé ta thành một trăm chú gấu con hay chưa,” Baloo nói, nghiêm trang giũ lần lượt từng chân. “Chao ôi! Ta đau ê ẩm. Kaa, ta nghĩ Bagheera và ta đều nợ ngươi mạng sống.”

“Không đáng kể. Đứa trẻ người đâu?”

“Con ở đây, mắc trong một cái bẫy. Con không trèo ra được,” Mowgli gọi. Vòm mái gãy cong vút phía trên đầu cậu.

“Đem nó đi. Nó nhảy nhót như Mao Công. Nó sẽ giẫm nát con non của chúng ta,” những con rắn hổ mang bên trong nói.

“Ha!” Kaa bật cười khùng khục, “đứa trẻ người này đâu đâu cũng có bạn. Lui lại, đứa trẻ. Còn tộc Độc, hãy ẩn mình đi. Ta sẽ phá bức tường.”

Kaa quan sát kỹ cho đến khi tìm thấy một vết nứt đổi màu trên tấm bình phong cẩm thạch, dấu hiệu của một điểm yếu; nó khẽ gõ đầu hai ba lần để ước lượng khoảng cách, rồi nhấc hơn một mét rưỡi thân mình khỏi mặt đất và dùng mũi giáng liền nửa tá cú hết sức bình sinh. Tấm bình phong chạm lộng vỡ tung, đổ xuống giữa một đám mây bụi và gạch vụn; Mowgli nhảy qua lỗ hổng, lao vào giữa Baloo và Bagheera, mỗi cánh tay ôm lấy một chiếc cổ lớn.

“Con có bị thương không?” Baloo hỏi, dịu dàng ôm cậu.

“Con đau ê ẩm, đói bụng và bầm dập không ít. Nhưng ôi, chúng đã hành hạ hai anh thê thảm quá, các anh của em! Hai anh đang chảy máu.”

“Cả những kẻ khác nữa,” Bagheera nói, liếm mép và nhìn những xác khỉ nằm trên sân thượng cùng quanh bể nước.

“Chẳng hề gì, chẳng hề gì, miễn là con được bình an, ôi niềm kiêu hãnh của ta giữa muôn vàn ếch con!” Baloo thổn thức.

“Chuyện ấy để sau rồi xét,” Bagheera nói bằng một giọng khô khốc khiến Mowgli chẳng thích chút nào. “Nhưng đây là Kaa, người mà chúng ta nhờ cậy mới thắng được trận này, còn con thì nhờ ông ấy mà giữ được mạng. Hãy cảm tạ ông ấy theo phong tục của chúng ta đi, Mowgli.”

Mowgli quay lại và thấy đầu con trăn khổng lồ đang đung đưa cao hơn đầu mình chừng một bộ.

“Vậy đây là đứa trẻ người ấy,” Kaa nói. “Da nó mềm lắm, mà trông cũng chẳng khác Bandar-log là bao. Cẩn thận đấy, đứa trẻ người, kẻo một buổi chạng vạng nào đó, khi ta vừa thay áo mới, ta lại nhầm ngươi với một con khỉ.”

“Ngươi và ta cùng chung một dòng máu,” Mowgli đáp. “Đêm nay, ta nhận mạng sống này từ ngươi. Con mồi của ta sẽ là con mồi của ngươi, bất cứ khi nào ngươi đói, hỡi Kaa.”

“Cảm ơn ngươi, Người Anh Em Nhỏ,” Kaa nói, tuy mắt ông ánh lên vẻ tinh nghịch. “Nhưng một tay săn gan dạ nhường ấy thì có thể hạ được con mồi gì? Ta hỏi để lần tới, khi ngươi ra ngoài săn, ta còn đi theo.”

“Ta chẳng giết được gì—ta còn quá nhỏ—nhưng ta có thể lùa dê về phía những ai biết dùng đến chúng. Khi bụng ngươi rỗng, hãy đến tìm ta xem ta nói có thật không. Ta cũng khá thạo dùng những thứ này [cậu chìa hai bàn tay ra], và nếu có ngày ngươi mắc bẫy, có lẽ ta sẽ trả được món nợ ta mang với ngươi, với Bagheera và với Baloo đây. Chúc các vị chủ nhân của ta săn may mắn.”

“Nói hay lắm,” Baloo gầm gừ, bởi Mowgli đã cảm tạ rất khéo. Con trăn khẽ đặt đầu lên vai Mowgli trong giây lát. “Một trái tim can đảm và một lời lẽ nhã nhặn,” ông nói. “Hai thứ ấy sẽ đưa ngươi đi xa trong rừng, đứa trẻ người ạ. Nhưng giờ hãy mau rời khỏi đây cùng các bạn ngươi. Đi ngủ đi, vì trăng sắp lặn rồi, và chuyện xảy ra sau đó không phải điều ngươi nên trông thấy.”

Trăng đang lặn xuống sau những ngọn đồi; từng hàng khỉ run rẩy co cụm trên tường thành và lũy chắn, trông như những dải tua tơi tả, phập phồng. Baloo xuống bể uống nước, còn Bagheera bắt đầu sửa sang lại bộ lông. Kaa trườn ra giữa sân thượng, khép hai hàm lại đánh “cách” một tiếng vang giòn, khiến mọi con mắt của lũ khỉ đều đổ dồn vào ông.

“Trăng sắp lặn,” ông nói. “Ánh sáng còn đủ để nhìn chứ?”

Từ trên những bức tường vọng xuống một tiếng rên như gió luồn qua ngọn cây—“Chúng tôi nhìn thấy, hỡi Kaa.”

“Tốt. Giờ điệu múa bắt đầu—Điệu Múa Đói của Kaa. Ngồi yên mà xem.”

Ông xoay hai ba vòng thành một vòng tròn lớn, đầu lượn từ phải sang trái. Rồi thân ông bắt đầu uốn thành những vòng khuyên và hình số tám, thành những tam giác mềm nhũn, nhầy nhụa tan chảy thành hình vuông rồi hình năm cạnh, thành những ụ cuộn tròn; không hề nghỉ, không hề vội, cũng không hề ngừng khúc hát trầm trầm khe khẽ. Trời mỗi lúc một tối, cho đến khi những vòng thân kéo lê, chuyển dịch kia biến mất hẳn, chỉ còn nghe tiếng vảy sột soạt.

Baloo và Bagheera đứng bất động như đá, cổ họng gầm gừ, lông gáy dựng đứng, còn Mowgli vừa nhìn vừa kinh ngạc.

“Bandar-log,” cuối cùng giọng Kaa cất lên, “các ngươi có thể động chân động tay nếu không có lệnh ta không? Nói!”

“Không có lệnh ngài, chúng tôi không thể động chân động tay, hỡi Kaa!”

“Tốt! Tất cả tiến lại gần ta một bước.”

Những hàng khỉ bất lực chao mình về phía trước, Baloo và Bagheera cũng cứng đờ bước theo chúng một bước.

“Gần nữa!” Kaa rít lên, và tất cả lại tiến thêm.

Mowgli đặt tay lên Baloo và Bagheera để kéo họ đi; hai con thú lớn giật nảy mình như vừa bừng tỉnh khỏi một giấc mơ.

“Giữ tay con trên vai ta,” Bagheera thì thầm. “Cứ giữ nguyên ở đó, nếu không ta sẽ phải quay lại—phải quay lại với Kaa. A!”

“Chỉ là Kaa già đang vẽ những vòng tròn trên bụi thôi mà,” Mowgli nói. “Chúng ta đi thôi.” Rồi cả ba lẻn qua một chỗ tường vỡ, trở vào rừng.

“Phù!” Baloo nói khi cả bọn lại đứng dưới những hàng cây im phăng phắc. “Ta sẽ không bao giờ kết đồng minh với Kaa nữa.” Rồi ông rùng mạnh toàn thân.

“Ông ấy biết nhiều hơn chúng ta,” Bagheera vừa nói vừa run. “Chỉ thêm một lát nữa thôi, nếu còn ở lại, ta hẳn đã tự bước thẳng xuống họng ông ấy.”

“Trước khi trăng lại mọc, nhiều kẻ sẽ bước theo con đường ấy,” Baloo nói. “Ông ta sẽ có một cuộc săn ra trò—theo cách riêng của ông ta.”

“Nhưng tất cả chuyện ấy có nghĩa là gì?” Mowgli hỏi; cậu chẳng biết gì về sức mê hoặc của loài trăn. “Con chỉ thấy một con rắn lớn cứ vẽ những vòng tròn ngớ ngẩn cho đến khi trời tối. Với lại mũi ông ấy trầy xước hết cả. Ha! Ha!”

“Mowgli,” Bagheera giận dữ nói, “mũi ông ấy bị thương là vì con, cũng như tai, sườn và chân ta, cùng cổ và vai Baloo, đều bị cắn vì con. Cả Baloo lẫn Bagheera sẽ không thể săn cho thỏa thích trong nhiều ngày tới.”

“Chẳng hề gì,” Baloo nói; “chúng ta đã tìm lại được đứa trẻ người.”

“Đúng, nhưng vì nó mà chúng ta phải trả giá đắt: bằng thời gian lẽ ra có thể dành cho những cuộc săn tốt đẹp, bằng thương tích, bằng lông—lưng ta đã bị vặt trụi mất một nửa—và sau hết là bằng danh dự. Bởi hãy nhớ lấy, Mowgli: ta, Báo Đen, đã buộc phải cầu Kaa che chở, còn Baloo và ta đều bị Điệu Múa Đói làm cho ngây dại như chim non. Hết thảy những chuyện này, đứa trẻ người ạ, đều do con chơi với Bandar-log mà ra.”

“Đúng, quả đúng như vậy,” Mowgli buồn bã nói. “Con là một đứa trẻ người xấu xa, và lòng con nặng trĩu.”

“Hừm! Luật Rừng nói sao, Baloo?”

Baloo không muốn khiến Mowgli gặp thêm rắc rối, nhưng ông không thể làm sai lệch Luật, nên lẩm bẩm: “Buồn rầu không bao giờ miễn được hình phạt. Nhưng hãy nhớ, Bagheera, nó còn bé lắm.”

“Ta sẽ nhớ. Nhưng nó đã gây họa, và giờ phải chịu đòn. Mowgli, con có gì để nói không?”

“Không. Con đã làm sai. Thầy Baloo và ngài đều bị thương. Như vậy là công bằng.”

Bagheera tặng cậu sáu cái vỗ yêu theo quan niệm của loài báo—những cái vỗ ấy có lẽ còn chẳng đủ đánh thức một đứa con của ông—nhưng đối với một cậu bé bảy tuổi, chúng hợp thành một trận đòn nghiêm khắc đến mức ai cũng muốn tránh. Khi mọi sự đã xong, Mowgli hắt hơi một cái rồi lồm cồm đứng dậy, không nói một lời.

“Giờ thì,” Bagheera nói, “nhảy lên lưng ta, Người Anh Em Nhỏ, chúng ta về nhà.”

Một trong những điều tốt đẹp của Luật Rừng là hình phạt sẽ thanh toán mọi món nợ. Sau đó không còn ai cằn nhằn nữa.

Mowgli gối đầu lên lưng Bagheera và ngủ say đến mức cậu không hề thức giấc khi được đặt xuống trong hang nhà.