Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils — Chương 20: Phu nhân Ulvåsa

Chương 20 / 43 · Bài review Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils

LỜI TIÊN TRI

_Thứ Sáu, ngày hai mươi hai tháng Tư_.

Một đêm, khi cậu bé đang ngủ trên một hòn đảo ở Takern, tiếng mái chèo làm cậu thức giấc. Cậu vừa hé mắt thì một luồng sáng chói lòa rọi xuống khiến cậu phải chớp mắt liên hồi.

Ban đầu cậu không nhận ra thứ gì đang tỏa sáng rực rỡ ngoài hồ; nhưng chẳng bao lâu cậu thấy một chiếc thuyền đáy phẳng nằm gần mép lau sậy, phía đuôi có ngọn đuốc lớn đang cháy cắm trên một mũi nhọn. Ngọn lửa đỏ của đuốc phản chiếu rõ ràng trong mặt hồ tối đen; ánh sáng rực rỡ hẳn đã quyến rũ đàn cá, bởi quanh ngọn lửa dưới làn nước sâu có vô số đốm đen không ngừng chuyển động, đổi chỗ cho nhau.

Trên thuyền có hai ông già. Một người ngồi chèo, người kia đứng trên chiếc ghế dài ở đuôi thuyền, tay cầm ngọn giáo ngắn với những ngạnh thô. Người chèo rõ ràng là một ngư dân nghèo. Ông nhỏ thó, khô quắt, dạn dày sương gió, mặc chiếc áo khoác mỏng đã sờn rách. Có thể thấy ông quá quen ở ngoài trời trong mọi kiểu thời tiết nên chẳng bận tâm tới cái lạnh. Người kia béo tốt, ăn mặc tươm tất, trông như một nông dân sung túc và tự mãn.

“Giờ dừng lại!” người nông dân nói khi họ tới đối diện hòn đảo nơi cậu bé nằm. Cùng lúc ấy, ông phóng ngọn giáo xuống nước. Khi ông kéo nó lên, một con lươn dài, đẹp cũng theo lên.

“Nhìn này!” ông nói trong lúc gỡ con lươn khỏi mũi giáo. “Con này mới thật đáng công. Giờ tôi nghĩ chúng ta đã có đủ để quay về.”

Người bạn không nhấc mái chèo lên mà ngồi nhìn quanh. “Đêm nay ngoài hồ thật đẹp,” ông nói. Quả đúng như vậy. Mọi thứ hoàn toàn tĩnh lặng, cả mặt nước nằm yên không gợn, ngoại trừ vệt thuyền vừa đi qua. Vệt ấy tựa một con đường vàng, lung linh trong ánh lửa. Bầu trời trong, xanh sẫm và dày đặc những vì sao. Các bờ hồ bị những đảo lau sậy che khuất, trừ phía tây. Ở đó, núi Omberg nhô lên cao lớn, tối sẫm, uy nghi hơn thường lệ rất nhiều, cắt khỏi vòm trời một mảng tam giác lớn.

Người kia quay đầu để ánh sáng không rọi vào mắt rồi nhìn quanh. “Phải, Östergylln thật đẹp,” ông nói. “Nhưng điều tuyệt nhất của tỉnh này không phải vẻ đẹp.” “Vậy điều tuyệt nhất là gì?” người chèo hỏi. “Là nơi đây từ bao đời vẫn là một tỉnh được kính trọng và tôn vinh.” “Điều ấy có lẽ đúng.” “Và còn điều này: người ta biết nó sẽ mãi mãi như thế.” “Nhưng làm sao trên đời người ta biết được?” người ngồi bên mái chèo hỏi.

Người nông dân đứng thẳng người và chống mình trên ngọn giáo. “Trong gia đình tôi có một câu chuyện xưa truyền từ cha sang con; câu chuyện cho biết điều gì sẽ xảy đến với Östergötland.” “Vậy ông hãy kể tôi nghe,” người chèo nói. “Chúng tôi không kể chuyện ấy cho bất kỳ ai, nhưng tôi không muốn giấu một người bạn cũ.

“Tại Ulvåsa ở Östergötland này,” ông nói tiếp — và nghe giọng có thể biết ông đang kể một chuyện được nghe từ người khác và đã thuộc nằm lòng — “từ rất nhiều năm trước có một phu nhân mang khả năng nhìn thấu tương lai và nói cho người ta biết điều gì sẽ xảy đến với họ, chắc chắn và chính xác như thể nó đã xảy ra rồi. Vì thế bà trở nên nổi danh khắp nơi; thật dễ hiểu khi người từ xa lẫn gần đều tìm đến để biết mình sắp trải qua điều lành hay dữ.

“Một ngày nọ, khi phu nhân Ulvåsa ngồi kéo sợi trong đại sảnh theo phong tục thời xưa, một nông dân nghèo bước vào phòng và ngồi xuống chiếc ghế dài gần cửa.

“‘Tôi tự hỏi phu nhân đang ngồi nghĩ điều gì,’ một lát sau người nông dân nói.

“‘Ta đang ngồi suy ngẫm những điều cao cả và thiêng liêng,’ bà đáp. ‘Vậy có lẽ tôi không nên hỏi phu nhân về chuyện đang đè nặng trong lòng,’ người nông dân nói.

“‘Điều đè nặng trong lòng ông hẳn chẳng gì khác ngoài chuyện liệu có gặt được nhiều lúa trên ruộng không. Nhưng ta vốn quen nhận lời nhắn của Hoàng đế hỏi vương miện sẽ ra sao, và của Giáo hoàng hỏi những chiếc chìa khóa của ngài sẽ thế nào.’ ‘Những câu hỏi như vậy hẳn không dễ trả lời,’ người nông dân nói. ‘Tôi còn nghe rằng dường như không ai rời khỏi đây mà không bất mãn với điều mình được nghe.’

“Nghe người nông dân nói vậy, phu nhân Ulvåsa cắn môi rồi ngồi thẳng hơn trên ghế. ‘Thì ra đây là điều ông nghe về ta,’ bà nói. ‘Vậy ông cứ thử vận may mà hỏi điều mình muốn biết; rồi ông sẽ thấy ta có thể trả lời khiến ông hài lòng hay không.’

“Sau đó, người nông dân không do dự trình bày mục đích. Ông nói mình tới hỏi tương lai của Östergötland sẽ ra sao. Không gì thân yêu với ông bằng quê hương mình, và ông cảm thấy có thể hạnh phúc tới ngày nhắm mắt nếu nhận được một câu trả lời thỏa đáng.

“‘Ồ! Ông chỉ muốn biết thế thôi sao?’ vị phu nhân thông thái nói. ‘Vậy ta nghĩ ông sẽ hài lòng. Bởi ngay tại chỗ đang ngồi đây, ta có thể nói với ông rằng Östergötland sẽ như thế này: nơi đây mãi mãi có điều để tự hào hơn những tỉnh khác.’

“‘Phải, đó là một câu trả lời hay, thưa phu nhân,’ người nông dân nói, ‘và giờ tôi sẽ hoàn toàn yên lòng giá như có thể hiểu một chuyện như thế xảy ra bằng cách nào.’

“‘Sao lại không thể?’ phu nhân Ulvåsa nói. ‘Ông không biết Östergötland đã nổi danh rồi sao? Hay ông nghĩ ở Thụy Điển có nơi nào khác có thể tự hào đồng thời sở hữu hai tu viện như Alvastra và Vreta, cùng một nhà thờ chính tòa đẹp như ở Linköping?’

“‘Có lẽ đúng như vậy,’ người nông dân nói. ‘Nhưng tôi là một ông già và biết lòng người hay thay đổi. Tôi e sẽ đến lúc họ không còn muốn ngợi ca chúng ta vì Alvastra, Vreta hay nhà thờ chính tòa nữa.’

“‘Điều này có thể ông nói đúng,’ phu nhân Ulvåsa đáp, ‘nhưng vì thế mà ông không cần nghi ngờ lời tiên tri. Giờ ta sẽ xây một tu viện mới ở Vadstena, và nó sẽ trở thành tu viện nổi tiếng nhất miền Bắc. Cả người quyền quý lẫn kẻ thấp hèn đều sẽ hành hương tới đó; mọi người sẽ ca ngợi tỉnh này vì có một chốn linh thiêng như thế trong cương vực.’

“Người nông dân đáp rằng ông rất vui khi biết điều này. Nhưng dĩ nhiên ông cũng hiểu mọi thứ đều sẽ tiêu vong; ông rất muốn biết điều gì sẽ mang lại danh tiếng cho tỉnh nếu một ngày tu viện Vadstena không còn được trọng vọng.

“‘Ông thật không dễ thỏa mãn,’ phu nhân Ulvåsa nói, ‘nhưng chắc chắn ta có thể nhìn xa đủ để nói với ông rằng trước khi tu viện Vadstena mất đi vẻ huy hoàng, một lâu đài sẽ được dựng lên gần đó, tráng lệ nhất trong thời đại của nó. Vua chúa và công tước sẽ là khách tại đó, và cả tỉnh sẽ được xem là vinh dự vì sở hữu một vật trang hoàng như thế.’

“‘Tôi cũng vui khi nghe điều này,’ người nông dân nói. ‘Nhưng tôi là một ông già, biết những vinh quang trên đời thường kết thúc ra sao. Nếu lâu đài trở thành phế tích, tôi rất muốn biết nơi đây còn gì để thu hút sự chú ý của mọi người tới tỉnh này.’

“‘Điều ông muốn biết không hề ít,’ phu nhân Ulvåsa nói, ‘nhưng chắc chắn ta có thể nhìn đủ xa vào tương lai để thấy rừng quanh Finspång sẽ tràn đầy sức sống và hoạt động. Ta thấy nhà nhỏ và lò rèn mọc lên ở đó; ta tin cả tỉnh sẽ nổi danh vì sắt được rèn đúc trong cương vực này.’

“Người nông dân không phủ nhận rằng ông vui sướng khi nghe vậy. ‘Nhưng nếu mọi việc tệ đến mức ngay cả xưởng đúc Finspång cũng mất đi tầm quan trọng, vậy hẳn khó có thể xuất hiện điều gì mới để Östergötland tự hào.’

“‘Ông thật chẳng dễ chiều,’ phu nhân Ulvåsa nói, ‘nhưng ta có thể nhìn xa đến mức thấy dọc bờ hồ, những trang viên lớn như lâu đài được dựng lên bởi các quý ông từng chinh chiến ở xứ lạ. Ta tin những trang viên sẽ mang lại cho tỉnh này vinh dự chẳng kém bất kỳ điều gì ta đã kể.’

“‘Nhưng nếu đến một thời chẳng còn ai ca tụng những trang viên lớn nữa?’ người nông dân vẫn khăng khăng hỏi.

“‘Dù sao ông cũng không cần bất an,’ phu nhân Ulvåsa nói. ‘Ta thấy những suối khoáng chữa bệnh sủi bọt trên đồng cỏ Medevi, bên bờ Vätter. Ta tin những giếng nước ở Medevi sẽ mang lại cho vùng đất này mọi lời ca ngợi ông có thể mong muốn.’

“‘Biết điều ấy thật tốt,’ người nông dân nói. ‘Nhưng nếu tới một thời người ta đi tìm sức khỏe ở những dòng suối khác thì sao?’

“‘Ông không cần lo âu vì chuyện ấy,’ phu nhân Ulvåsa đáp. ‘Ta thấy người ta đào bới và lao động từ Motala tới Mem. Họ đào một con kênh xuyên thẳng qua xứ sở, và rồi lời ca ngợi Östergötland lại ở trên môi mọi người.’

“Nhưng người nông dân vẫn có vẻ bối rối.

“‘Ta thấy những ghềnh nước trên sông Motala bắt đầu kéo các bánh xe,’ phu nhân Ulvåsa nói — và giờ hai đốm đỏ tươi hiện trên má bà, bởi bà bắt đầu mất kiên nhẫn — ‘Ta nghe tiếng búa vang dội ở Motala và tiếng khung cửi lách cách tại Norrköping.’

“‘Phải, biết điều ấy thật tốt,’ người nông dân nói, ‘nhưng mọi thứ đều sẽ tiêu vong, và tôi e rằng ngay cả chuyện này cũng có thể bị quên lãng, chìm vào dĩ vãng.’

“Đến lúc này mà người nông dân vẫn chưa hài lòng, lòng kiên nhẫn của phu nhân đã cạn. ‘Ông nói mọi thứ đều sẽ tiêu vong,’ bà nói, ‘nhưng giờ ta sẽ kể một điều mãi mãi vẫn như thế; đó là những nông dân ngạo mạn và cứng đầu như ông sẽ luôn được tìm thấy ở tỉnh này — cho tới ngày tận thế.’

“Phu nhân Ulvåsa vừa nói xong, người nông dân đã đứng lên — vui vẻ và mãn nguyện — rồi cảm ơn bà vì câu trả lời hay. Ông nói cuối cùng mình đã hài lòng.

“‘Quả thật, giờ ta đã hiểu cách ông nhìn nhận chuyện này,’ phu nhân Ulvåsa nói.

“‘Thưa phu nhân, tôi nhìn nhận như thế này,’ người nông dân nói, ‘mọi thứ vua chúa, linh mục, quý tộc và thương nhân xây dựng, tạo nên chỉ có thể tồn tại vài năm. Nhưng khi phu nhân nói ở Östergötland sẽ luôn có những nông dân trọng danh dự và bền chí, tôi cũng biết vùng đất ấy sẽ giữ được vinh quang xưa. Bởi chỉ những người còng lưng dưới công việc đồng áng không bao giờ dứt mới có thể giữ thanh danh và danh dự cho mảnh đất này — hết đời này sang đời khác.’”