Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils — Chương 19: Hồ Chim Lớn
Chương 19 / 43 · Bài review Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils
JARRO, CHÚ VỊT TRỜI
Trên bờ phía đông hồ Vettern là núi Omberg; phía đông Omberg là Dagmosse; phía đông Dagmosse là hồ Takern. Bao quanh toàn bộ Takern là đồng bằng Östergöta rộng lớn, bằng phẳng.
Takern là một hồ khá lớn, và thuở xưa hẳn còn lớn hơn nữa. Nhưng rồi người ta cho rằng hồ chiếm mất quá nhiều đất đai màu mỡ của đồng bằng, nên đã tìm cách tháo nước để có thể gieo trồng và gặt hái trên đáy hồ. Song họ không thể làm cạn toàn bộ hồ — điều rõ ràng họ từng có ý định thực hiện — nên hồ vẫn che phủ một vùng đất rộng. Từ sau lần tháo nước ấy, hồ trở nên nông đến mức hầu như chẳng nơi nào sâu quá vài mét. Bờ hồ hóa thành đầm lầy lầy lội; ngoài mặt hồ, những cù lao bùn nhỏ nhô lên khỏi mặt nước.
Có một loài rất thích đứng ngâm chân dưới nước, miễn sao thân mình và đầu vẫn ở trên không, đó là lau sậy. Với nó, chẳng nơi nào thích hợp để mọc hơn những bờ hồ Takern dài và nông, cùng khoảng quanh các cù lao bùn nhỏ. Lau sậy phát triển tốt đến nỗi cao quá đầu người và dày tới mức gần như không thể đẩy thuyền xuyên qua. Chúng tạo thành một vành đai xanh rộng lớn bao quanh cả hồ, khiến người ta chỉ có thể xuống hồ ở vài nơi đã được phát quang lau sậy.
Nhưng nếu lau sậy ngăn bước con người thì bù lại, chúng lại che chở và bảo vệ cho nhiều sinh vật khác. Giữa những đám sậy có vô số đập nước và kênh nhỏ, nước xanh lặng lờ, nơi bèo tấm và rong nước kết hạt, còn trứng muỗi, cá nhỏ màu đen và giun nở ra nhiều vô kể. Dọc bờ các đập nước và kênh nhỏ ấy lại có rất nhiều nơi ẩn kín, để chim nước ấp trứng và nuôi con mà không bị kẻ thù quấy nhiễu hay phải lo thiếu thức ăn.
Một số lượng chim không sao tưởng nổi sống trong những bãi sậy ở Takern; mỗi năm lại có thêm nhiều loài tụ về, khi tiếng lành về chốn cư ngụ tuyệt vời này ngày một lan xa. Những cư dân đầu tiên đến đây là vịt trời, và đến nay chúng vẫn sống tại đó hàng nghìn con. Nhưng chúng không còn làm chủ cả hồ, bởi đã phải chia sẻ nơi này với thiên nga, chim lặn mào, sâm cầm, chim lặn, vịt đầm và nhiều loài khác.
Takern quả thật là hồ chim lớn nhất và quý giá nhất trong cả nước; lũ chim có thể tự coi mình là may mắn chừng nào chúng còn sở hữu một nơi trú ẩn như vậy. Nhưng chúng còn làm chủ các bãi sậy và bờ bùn được bao lâu thì chưa ai biết, bởi con người không thể quên rằng hồ trải rộng trên một vùng đất tốt tươi, màu mỡ đáng kể; hết lần này đến lần khác, người ta lại nêu đề nghị tháo cạn hồ. Nếu những đề nghị ấy được thực hiện, hàng vạn chim nước sẽ buộc phải rời khỏi vùng này.
Vào thời Nils Holgersson chu du cùng đàn ngỗng trời, tại Takern có một chú vịt trời tên Jarro. Chú còn trẻ, mới chỉ sống qua một mùa hè, một mùa thu và một mùa đông; giờ đây là mùa xuân đầu tiên của chú. Chú vừa từ Nam Phi trở về và tới Takern sớm đến mức mặt hồ vẫn còn đóng băng.
Một buổi tối, khi chú cùng những con vịt trời trẻ khác thi nhau bay đi bay lại trên hồ, một thợ săn nổ hai phát súng về phía chúng, và Jarro bị thương ở ngực. Chú nghĩ mình sẽ chết; nhưng để khỏi rơi vào tay kẻ đã bắn mình, chú vẫn cố bay lâu hết mức có thể. Chú chẳng nghĩ mình đang bay về đâu, chỉ vật lộn để đi thật xa. Khi sức lực cạn kiệt, không thể bay thêm nữa, chú đã rời khỏi hồ. Chú bay sâu vào đất liền một quãng rồi rơi xuống trước lối vào một trong những trang trại lớn nằm dọc bờ Takern.
Một lát sau, tình cờ có anh tá điền trẻ đi ngang qua. Anh trông thấy Jarro, bèn tới nhấc chú lên. Nhưng Jarro chẳng mong gì ngoài việc được để yên mà chết, liền dồn chút sức lực cuối cùng mổ vào ngón tay anh tá điền để anh buông mình ra.
Jarro không thoát ra được. Dẫu sao cuộc chống cự ấy cũng đem lại một điều tốt: anh tá điền nhận ra chú chim vẫn còn sống. Anh hết sức nhẹ nhàng bế chú vào nhà và đưa cho bà chủ — một phụ nữ trẻ có gương mặt hiền hậu. Bà lập tức đón Jarro từ tay anh, vuốt lưng chú rồi lau dòng máu đang rỉ xuống qua lớp lông cổ. Bà xem xét chú thật kỹ; khi thấy chú đẹp biết bao, với cái đầu xanh sẫm óng ánh, vòng cổ trắng, tấm lưng hung đỏ và mảng cánh xanh lam, hẳn bà nghĩ để chú chết thì thật đáng tiếc. Bà lập tức sửa soạn một chiếc giỏ rồi đặt chú chim vào đó.
Suốt lúc ấy, Jarro vẫn vỗ cánh, giãy giụa hòng thoát thân; nhưng khi hiểu rằng con người không định giết mình, chú yên lòng nằm xuống trong giỏ. Giờ mới thấy rõ chú đã kiệt sức đến nhường nào vì đau đớn và mất máu. Bà chủ mang chiếc giỏ qua sàn nhà để đặt vào góc bên lò sưởi; nhưng trước khi bà kịp đặt xuống, Jarro đã ngủ say.
Chẳng bao lâu sau, Jarro bị đánh thức bởi một kẻ đang nhẹ nhàng hích vào mình. Vừa mở mắt, chú kinh hoàng đến mức suýt mất hết thần trí. Thế là hết; bởi trước mặt chú chính là kẻ nguy hiểm hơn cả loài người lẫn chim săn mồi. Không ai khác ngoài đích thân Caesar — con chó lông dài — đang tò mò dí mũi đánh hơi quanh chú.
Mùa hè năm ngoái, khi vẫn còn là một chú vịt con phủ lông tơ vàng, mỗi lần nghe tiếng kêu vọng trên các ngọn sậy: “Caesar tới! Caesar tới!” chú đã hoảng sợ đáng thương biết bao! Khi trông thấy con chó đốm nâu trắng với hai hàm đầy răng lội qua bãi sậy, chú cứ ngỡ mình đang nhìn thấy chính cái chết. Chú vẫn luôn hy vọng sẽ không bao giờ phải trải qua giây phút giáp mặt Caesar.
Nhưng bất hạnh thay, hẳn chú đã rơi đúng vào sân nhà nơi Caesar sống, bởi lúc này nó đang đứng sừng sững ngay trên đầu chú. “Ngươi là ai?” nó gầm gừ. “Ngươi vào nhà bằng cách nào? Chẳng phải ngươi sống dưới những bãi sậy kia sao?”
Chú phải khó khăn lắm mới lấy đủ can đảm để trả lời. “Đừng giận tôi vì đã vào nhà, Caesar!” chú nói. “Đây không phải lỗi của tôi. Tôi bị đạn bắn bị thương. Chính con người đã đặt tôi vào chiếc giỏ này.”
“Ồ! Vậy chính người nhà đã đặt ngươi ở đây,” Caesar nói. “Thế thì hẳn họ định chữa cho ngươi; tuy theo ta, khôn ngoan hơn cả là ăn thịt ngươi, vì ngươi đã nằm trong tay họ. Nhưng dù sao ở trong nhà này ngươi cũng được bảo hộ. Không cần phải sợ đến thế. Giờ chúng ta đâu có ở dưới hồ Takern.”
Nói đoạn, Caesar nằm xuống ngủ trước ngọn lửa củi cháy rừng rực. Ngay khi Jarro hiểu rằng mối hiểm nguy khủng khiếp này đã qua, một cơn rã rời cùng cực ập đến và chú lại thiếp đi.
Lần tiếp theo tỉnh giấc, Jarro thấy trước mặt mình có một đĩa đựng hạt và nước. Chú vẫn còn khá yếu, nhưng dẫu vậy đã thấy đói nên bắt đầu ăn. Thấy chú chịu ăn, bà chủ bước tới vuốt ve chú với vẻ hài lòng. Sau đó Jarro lại ngủ. Trong nhiều ngày, chú chẳng làm gì ngoài ăn và ngủ.
Một buổi sáng, Jarro thấy mình khỏe đến mức bước ra khỏi giỏ và đi lang thang trên sàn nhà. Nhưng chưa đi được bao xa, chú đã lăn ra nằm bất động. Caesar liền tới, há rộng hàm và ngoạm lấy chú. Dĩ nhiên Jarro tưởng con chó sắp cắn mình chết; nhưng Caesar chỉ mang chú về giỏ mà không làm đau chút nào. Từ đó Jarro đặt niềm tin lớn lao vào Caesar, đến nỗi trong lần đi dạo tiếp theo trong nhà, chú tới bên con chó và nằm xuống cạnh nó. Về sau Caesar và chú trở thành bạn tốt; mỗi ngày, Jarro đều nằm ngủ nhiều giờ liền giữa hai chân trước của Caesar.
Nhưng tình cảm Jarro dành cho bà chủ còn lớn hơn cả tình cảm dành cho Caesar. Chú không hề sợ bà, mà dụi đầu vào bàn tay bà mỗi khi bà tới cho ăn. Hễ bà ra khỏi nhà, chú lại thở dài tiếc nuối; còn khi bà trở về, chú cất tiếng chào mừng bằng ngôn ngữ của loài mình.
Jarro hoàn toàn quên mất ngày trước mình từng sợ cả chó lẫn người đến nhường nào. Giờ chú nghĩ họ đều hiền lành, tử tế và đem lòng yêu mến họ. Chú mong mình chóng khỏe để có thể bay xuống Takern, kể cho vịt trời biết rằng kẻ thù của chúng không nguy hiểm và chúng chẳng cần phải sợ.
Chú nhận thấy loài người cũng như Caesar đều có đôi mắt điềm tĩnh, nhìn vào khiến người ta cảm thấy dễ chịu. Kẻ duy nhất trong nhà mà chú không muốn chạm ánh mắt là Clawina, con mèo nhà. Nó cũng không làm hại chú, nhưng chú chẳng thể đặt chút tin tưởng nào vào nó. Hơn nữa, nó còn thường xuyên gây gổ với chú chỉ vì chú yêu quý con người. “Ngươi tưởng họ bảo vệ ngươi vì yêu mến ngươi,” Clawina nói. “Cứ đợi đến lúc ngươi béo đủ xem! Rồi họ sẽ vặn cổ ngươi. Ta biết rõ họ mà.”
Cũng như mọi loài chim, Jarro có một trái tim dịu dàng, giàu tình cảm; nghe những lời ấy, chú đau khổ không sao kể xiết. Chú không thể tưởng tượng bà chủ muốn vặn cổ mình, cũng chẳng thể tin điều đó ở con trai bà, cậu bé thường ngồi hàng giờ bên chiếc giỏ, bi bô chuyện trò. Chú dường như tin rằng cả hai người đều yêu mình hệt như mình yêu họ.
Một hôm, khi Jarro và Caesar đang nằm ở chỗ quen thuộc trước lò sưởi, Clawina ngồi trên bệ lò rồi bắt đầu trêu chọc chú vịt trời.
“Ta tự hỏi sang năm lũ vịt trời các ngươi sẽ làm gì khi Takern bị tháo cạn và biến thành đồng lúa?” Clawina nói. “Ngươi nói gì thế, Clawina?” Jarro kêu lên, hoảng hốt bật dậy. “Ta luôn quên mất rằng ngươi không hiểu tiếng người như Caesar và ta,” con mèo đáp. “Nếu không, hẳn ngươi đã nghe những người đàn ông tới nhà hôm qua nói rằng người ta sẽ tháo hết nước khỏi Takern, và sang năm đáy hồ sẽ khô như sàn nhà. Giờ ta tự hỏi lũ vịt trời các ngươi sẽ đi đâu.” Nghe vậy, Jarro giận dữ đến nỗi rít lên như rắn. “Ngươi xấu bụng chẳng kém một con sâm cầm tầm thường!” chú thét vào mặt Clawina. “Ngươi chỉ muốn xúi ta chống lại con người. Ta không tin họ muốn làm chuyện như thế. Họ hẳn phải biết Takern thuộc về vịt trời. Tại sao họ lại khiến bao nhiêu chim chóc mất nhà cửa và khốn khổ? Chắc chắn ngươi bịa ra tất cả chỉ để dọa ta. Ta mong ngươi sẽ bị đại bàng Gorgo xé xác! Ta mong bà chủ sẽ cắt trụi ria ngươi!”
Nhưng cơn giận dữ ấy không khiến Clawina im miệng. “Vậy ngươi nghĩ ta nói dối,” nó bảo. “Thế thì hỏi Caesar đi! Tối qua nó cũng ở trong nhà. Caesar không bao giờ nói dối.”
“Caesar,” Jarro nói, “anh hiểu tiếng người hơn Clawina nhiều. Hãy nói rằng nó đã nghe nhầm đi! Hãy nghĩ xem chuyện gì sẽ xảy ra nếu con người tháo cạn Takern và biến đáy hồ thành ruộng đồng! Khi ấy sẽ không còn rong nước hay thức ăn cho vịt trời trưởng thành, không còn cá nhỏ, giun hay trứng muỗi cho vịt con. Những bãi sậy — nơi vịt con đang ẩn náu cho đến khi biết bay — cũng sẽ biến mất. Tất cả vịt trời sẽ buộc phải rời khỏi đây và đi tìm một mái nhà khác. Nhưng chúng biết tìm đâu ra một nơi trú ẩn như Takern? Caesar, hãy nói rằng Clawina đã nghe nhầm đi!”
Cách Caesar cư xử trong cuộc trò chuyện này thật lạ lùng. Suốt từ nãy đến giờ nó vẫn hoàn toàn tỉnh táo, nhưng khi Jarro quay sang, nó liền thở phì phò, gác chiếc mõm dài lên hai chân trước và ngủ say chỉ trong một cái chớp mắt.
Con mèo nhìn xuống Caesar với nụ cười đầy ẩn ý. “Ta tin Caesar không muốn trả lời ngươi,” nó nói với Jarro. “Nó cũng như mọi con chó khác; chúng chẳng bao giờ chịu thừa nhận rằng con người có thể làm điều sai trái. Nhưng dù sao ngươi cũng có thể tin lời ta. Ta sẽ cho ngươi biết vì sao họ muốn tháo cạn hồ ngay lúc này. Khi lũ vịt trời các ngươi còn làm chủ Takern, họ không muốn tháo cạn hồ, bởi ít ra các ngươi còn đem lại chút lợi ích; nhưng giờ chim lặn mào, sâm cầm và những loài chim không thể dùng làm thức ăn khác đã tràn ngập gần hết các bãi sậy, nên con người cho rằng chẳng cần giữ lại hồ vì chúng.”
Jarro chẳng buồn đáp lời Clawina, chỉ ngẩng đầu hét vào tai Caesar: “Caesar! Anh biết rằng Takern vẫn còn nhiều vịt trời đến mức chúng phủ kín bầu trời như mây. Hãy nói rằng chuyện con người định khiến tất cả chúng mất nhà cửa là không có thật đi!”
Bấy giờ Caesar bất ngờ bật dậy, lao vào Clawina dữ dội đến nỗi nó phải nhảy lên một chiếc kệ để thoát thân. “Ta sẽ dạy ngươi biết im miệng khi ta muốn ngủ,” Caesar quát. “Dĩ nhiên ta biết năm nay có người bàn chuyện tháo cạn hồ. Nhưng trước đây họ đã nói chuyện đó nhiều lần mà có bao giờ làm đâu. Còn việc tháo cạn hồ thì ta hoàn toàn chẳng tin chút nào. Nếu Takern bị làm cho hoang phế, thú săn sẽ ra sao? Ngươi đúng là đồ ngốc mới hả hê vì một chuyện như thế. Ngươi và ta sẽ lấy gì làm vui khi Takern chẳng còn chim chóc nữa?”
CHÚ VỊT MỒI
_Chủ nhật, ngày mười bảy tháng Tư_.
Vài ngày sau, Jarro đã khỏe đến mức có thể bay khắp nhà. Bà chủ hết sức cưng chiều chú, còn cậu bé chạy ra sân ngắt cho chú những ngọn cỏ đầu tiên vừa nhú lên. Mỗi khi được bà chủ vuốt ve, Jarro nghĩ rằng dẫu giờ đã đủ khỏe để bay xuống Takern bất cứ lúc nào, chú vẫn chẳng muốn rời xa con người. Chú không phản đối việc ở cùng họ suốt đời.
Nhưng sáng sớm nọ, bà chủ tròng lên Jarro một sợi dây buộc, hay thòng lọng, khiến chú không thể sử dụng đôi cánh, rồi giao chú cho anh tá điền từng tìm thấy chú ngoài sân. Anh kẹp chú dưới cánh tay và đi xuống Takern.
Trong thời gian Jarro lâm bệnh, băng đã tan hết. Những chiếc lá thu già nua, khô héo vẫn còn dọc bờ hồ và các cù lao, nhưng mọi loài cây thủy sinh dưới sâu đã bắt đầu bén rễ; những thân cây xanh đã vươn tới mặt nước. Giờ đây, gần như tất cả chim di trú đều đã trở về. Những chiếc mỏ cong của chim choắt ló ra khỏi đám sậy. Chim lặn mào lướt trên mặt nước với vòng lông mới quanh cổ; còn chim dẽ giun nhỏ đang tha rơm về làm tổ.
Anh tá điền bước xuống một chiếc xuồng đáy phẳng, đặt Jarro dưới lòng thuyền rồi bắt đầu chống sào ra hồ. Jarro, lúc này đã quen chỉ mong đợi điều tốt đẹp ở con người, nói với Caesar — cũng đi cùng chuyến — rằng chú vô cùng biết ơn anh tá điền đã đưa mình ra hồ. Nhưng không cần phải canh giữ chú nghiêm ngặt đến thế, bởi chú không hề định bay đi. Caesar chẳng đáp lại. Sáng hôm ấy, nó kín tiếng lạ thường.
Điều duy nhất khiến Jarro thấy hơi kỳ lạ là anh tá điền mang theo súng. Chú không thể tin những người tốt bụng trong nhà lại muốn bắn chim. Hơn nữa, Caesar từng bảo rằng vào mùa này con người không đi săn. “Đây là mùa cấm săn,” nó đã nói, “tuy dĩ nhiên chuyện ấy không liên quan đến ta.”
Anh tá điền chèo tới một trong những cù lao bùn nhỏ được lau sậy vây quanh. Tại đó, anh bước ra khỏi thuyền, gom một ít sậy già thành đống rồi nằm xuống phía sau. Jarro được phép đi lại trên mặt đất, nhưng trên cánh vẫn mang chiếc ách và còn bị buộc vào thuyền bằng một sợi dây dài.
Bỗng Jarro trông thấy vài con vịt trống mái trẻ từng cùng mình đua đi đua lại trên hồ. Chúng ở rất xa, nhưng Jarro cất hai tiếng gọi lớn. Chúng đáp lời, và một đàn đông đúc, xinh đẹp bay tới. Trước khi chúng đến nơi, Jarro bắt đầu kể về cuộc giải cứu kỳ diệu của mình và lòng tốt của con người. Đúng lúc ấy, hai phát súng vang lên phía sau chú. Ba con vịt rơi xuống đám sậy — không còn sự sống — và Caesar phóng ra tha chúng về.
Bấy giờ Jarro mới hiểu. Con người cứu chú chỉ để dùng chú làm vịt mồi. Và họ đã thành công. Ba con vịt đã chết vì chú. Jarro tưởng mình có thể chết vì hổ thẹn. Chú thấy dường như ngay cả Caesar, người bạn của mình, cũng nhìn mình đầy khinh miệt; khi trở về nhà, chú không dám nằm xuống ngủ bên con chó.
Sáng hôm sau, Jarro lại bị đưa ra vùng nước nông. Lần này chú cũng trông thấy vài con vịt. Nhưng khi thấy chúng bay về phía mình, chú gọi lớn: “Đi đi! Đi đi! Cẩn thận! Hãy bay sang hướng khác! Có một thợ săn đang nấp sau đống sậy. Tôi chỉ là vịt mồi!” Và quả thật chú đã ngăn được chúng bay vào tầm bắn.
Jarro bận canh chừng đến mức gần như chẳng có thời gian nếm lấy một ngọn cỏ. Hễ có con chim nào tới gần là chú lại cất tiếng cảnh báo. Chú thậm chí còn báo động cho chim lặn mào, dù rất ghét chúng vì chúng lấn mất những nơi ẩn náu tốt nhất của loài vịt. Nhưng chú không muốn bất cứ con chim nào gặp tai họa vì mình. Nhờ sự cảnh giác của Jarro, anh tá điền phải trở về mà không bắn nổi một phát súng.
Dẫu vậy, Caesar có vẻ bớt bất bình hơn ngày hôm trước; khi tối đến, nó ngậm Jarro trong miệng, mang chú tới bên lò sưởi và để chú ngủ giữa hai chân trước của mình.
Tuy nhiên, Jarro không còn thấy mãn nguyện trong căn nhà nữa mà vô cùng đau khổ. Trái tim chú nhức nhối khi nghĩ con người chưa bao giờ yêu quý mình. Mỗi khi bà chủ hay cậu bé tới vuốt ve, chú lại giấu mỏ dưới cánh và giả vờ ngủ.
Trong nhiều ngày, Jarro tiếp tục công việc canh chừng đầy khổ sở; chẳng bao lâu, cả vùng Takern đều biết đến chú. Rồi một buổi sáng, trong lúc chú cất lời như thường lệ: “Cẩn thận, các bạn chim! Đừng tới gần tôi! Tôi chỉ là vịt mồi,” một chiếc tổ chim lặn mào trôi về phía vùng nước nông nơi chú bị buộc. Chuyện này chẳng có gì đặc biệt lắm. Đó là chiếc tổ từ năm trước; tổ chim lặn mào được làm theo cách có thể di chuyển trên mặt nước như thuyền, nên thường trôi dạt ra hồ. Tuy vậy, Jarro vẫn đứng nhìn chằm chằm vào chiếc tổ, bởi nó tiến thẳng về phía cù lao đến mức tưởng như có ai đang điều khiển đường đi của nó trên mặt nước.
Khi chiếc tổ tới gần hơn, Jarro trông thấy một con người bé nhỏ — nhỏ nhất chú từng gặp — ngồi trong tổ, dùng một đôi que làm mái chèo. Con người bé tí ấy gọi chú: “Hãy đến gần mặt nước hết mức có thể, Jarro, và chuẩn bị bay đi. Chẳng bao lâu nữa chú sẽ được tự do.”
Vài giây sau, chiếc tổ chim lặn mào đã áp sát bờ, nhưng người chèo thuyền bé nhỏ không rời tổ mà ngồi thu mình giữa cành cây và rơm rạ. Jarro cũng gần như đứng bất động. Nỗi sợ người đến cứu mình bị phát hiện khiến chú cứng đờ.
Sau đó, một đàn ngỗng trời bay tới. Jarro liền bắt tay vào việc và hét lớn cảnh báo chúng; nhưng bất chấp lời chú, đàn ngỗng vẫn bay qua bay lại trên vùng nước nông nhiều lần. Chúng giữ độ cao ngoài tầm bắn, nhưng anh tá điền vẫn không cưỡng được cám dỗ mà bắn hai phát về phía chúng. Tiếng súng vừa dứt, sinh vật bé nhỏ đã chạy lên bờ, rút một con dao tí hon khỏi vỏ và chỉ bằng hai nhát cắt nhanh đã tháo được ách cho Jarro. “Bay đi, Jarro, trước khi người kia kịp nạp đạn!” cậu kêu lên, còn mình chạy xuống chiếc tổ chim lặn mào và chống sào rời bờ.
Người thợ săn mải dõi mắt theo đàn ngỗng nên không nhận ra Jarro đã được giải thoát; nhưng Caesar theo dõi chuyện xảy ra kỹ càng hơn, và đúng lúc Jarro giương cánh, nó lao tới ngoạm lấy cổ chú.
Jarro kêu lên thảm thiết; cậu bé đã giải thoát chú điềm tĩnh nói với Caesar: “Nếu anh quả thật đáng trọng như vẻ ngoài, hẳn anh không thể muốn ép một con chim tốt bụng ngồi đây dụ những con khác vào tai họa.”
Nghe những lời ấy, Caesar nhếch môi trên nhe răng dữ tợn, nhưng ngay giây tiếp theo nó thả Jarro ra. “Bay đi, Jarro!” nó nói. “Quả thật chú quá tốt bụng để làm vịt mồi. Ta muốn giữ chú ở đây không phải vì việc này, mà vì căn nhà sẽ cô quạnh biết bao khi không có chú.”
HẠ MỰC NƯỚC HỒ
_Thứ Tư, ngày hai mươi tháng Tư_.
Quả thật căn nhà trở nên vô cùng cô quạnh khi thiếu Jarro. Con chó và con mèo thấy thời gian trôi chậm chạp vì không còn chú để chúng tranh cãi; bà chủ nhớ tiếng quàng quạc vui vẻ chú thường cất lên mỗi khi bà bước vào nhà. Nhưng người nhớ Jarro nhất là cậu bé Per Ola. Cậu mới ba tuổi và là con một; suốt đời cậu chưa từng có người bạn chơi nào như Jarro. Khi nghe nói Jarro đã trở về Takern với vịt trời, cậu không thể bằng lòng mà cứ nghĩ mãi xem làm cách nào đưa chú trở lại.
Per Ola đã trò chuyện rất nhiều với Jarro khi chú còn nằm yên trong giỏ, và cậu chắc chắn chú vịt hiểu mình. Cậu nài nỉ mẹ đưa xuống hồ để tìm Jarro và thuyết phục chú trở về với họ. Mẹ không chịu nghe, nhưng vì thế mà cậu bé vẫn chẳng từ bỏ kế hoạch.
Ngày hôm sau khi Jarro biến mất, Per Ola chạy chơi ngoài sân. Cậu chơi một mình như thường lệ, còn Caesar nằm trên bậc hiên; khi mẹ để cậu ra ngoài, bà dặn: “Trông chừng Per Ola nhé, Caesar!”
Nếu mọi chuyện vẫn như thường lệ, Caesar hẳn đã vâng lời, và cậu bé sẽ được canh chừng cẩn mật đến mức chẳng thể gặp chút hiểm nguy nào. Nhưng những ngày này Caesar không còn là chính mình. Nó biết những nông dân sống quanh Takern đã nhiều lần họp bàn về việc hạ mực nước hồ và gần như đã quyết định xong. Lũ vịt sẽ phải bỏ đi, còn Caesar sẽ chẳng bao giờ được thấy một cuộc săn huy hoàng nữa. Nó mải chìm trong suy nghĩ về tai họa ấy đến mức quên mất phải trông chừng Per Ola.
Cậu bé mới ở một mình ngoài sân chưa đầy một phút đã nhận ra đây là thời cơ thích hợp để xuống Takern nói chuyện với Jarro. Cậu mở cổng, đi về phía hồ theo con đường hẹp chạy dọc bờ. Chừng nào ngôi nhà còn trông thấy, cậu bước thật chậm; nhưng sau đó liền rảo chân. Cậu rất sợ mẹ hay ai khác gọi lại, bảo rằng cậu không được đi. Cậu chẳng muốn làm điều gì hư, chỉ muốn thuyết phục Jarro về nhà; nhưng cậu cảm thấy người nhà sẽ không tán thành chuyến đi này.
Khi Per Ola xuống đến bờ hồ, cậu gọi Jarro nhiều lần. Sau đó cậu đứng đợi rất lâu, nhưng Jarro không xuất hiện. Cậu thấy vài con chim trông giống vịt trời, song chúng bay qua mà không để ý đến cậu, và cậu hiểu không con nào trong số đó là chú vịt mình tìm.
Khi Jarro không tới, cậu bé nghĩ rằng nếu ra ngoài hồ thì sẽ dễ tìm chú hơn. Có vài chiếc thuyền tốt nằm dọc bờ, nhưng tất cả đều bị buộc lại. Chiếc duy nhất không bị cột, có thể lấy đi tự do, là một chiếc xuồng đáy bằng cũ kỹ, rò nước, tồi tàn đến mức chẳng ai nghĩ tới chuyện sử dụng. Nhưng Per Ola vẫn trèo lên, chẳng bận tâm cả lòng xuồng đã đầy nước. Cậu không đủ sức dùng mái chèo, bèn ngồi xuống đung đưa làm chiếc xuồng chao qua chao lại. Chắc chắn không người lớn nào có thể đưa một chiếc xuồng ra hồ Takern theo cách ấy; nhưng khi nước dâng cao — và vận rủi dẫn đường — trẻ nhỏ lại có khả năng kỳ lạ đưa mình ra tận khơi. Chẳng bao lâu, Per Ola đã lênh đênh trên Takern và gọi Jarro.
Khi chiếc xuồng cũ bị chao lắc như thế trên đường ra xa, những vết nứt của nó càng lúc càng mở rộng, và nước thực sự tuôn vào. Per Ola chẳng để ý chút nào. Cậu ngồi trên chiếc ghế nhỏ phía trước, gọi mọi con chim nhìn thấy và tự hỏi vì sao Jarro không xuất hiện.
Cuối cùng Jarro trông thấy Per Ola. Chú nghe có người gọi mình bằng cái tên từng mang giữa loài người và hiểu rằng cậu bé đã ra hồ Takern tìm mình. Jarro sung sướng không sao kể xiết khi biết quả thật có một con người yêu quý chú. Chú lao xuống phía Per Ola như một mũi tên, đậu bên cạnh và để cậu vuốt ve. Cả hai đều vui sướng vô cùng khi gặp lại nhau. Nhưng đột nhiên Jarro nhận ra tình trạng chiếc xuồng. Nó đã ngập nửa lòng và sắp chìm. Jarro cố bảo Per Ola — người không biết bay cũng chẳng biết bơi — phải tìm cách lên bờ; nhưng cậu không hiểu. Jarro không chờ thêm một khắc nào, lập tức vội bay đi tìm người giúp.
Chẳng bao lâu sau, Jarro trở lại, trên lưng chở một sinh vật tí hon còn nhỏ hơn cả Per Ola. Nếu sinh vật ấy không biết nói và cử động, cậu bé hẳn đã tưởng đó là một con búp bê. Cậu bé tí hon lập tức bảo Per Ola nhặt cây sào dài, mảnh nằm dưới lòng xuồng và cố chống thuyền về phía một trong những cù lao sậy. Per Ola nghe lời, cùng sinh vật bé nhỏ điều khiển chiếc xuồng. Chỉ sau vài lần chống, họ đã tới một cù lao nhỏ được sậy vây quanh, và Per Ola được bảo phải bước lên bờ. Ngay đúng khoảnh khắc Per Ola đặt chân lên đất, chiếc xuồng đầy ắp nước rồi chìm xuống đáy. Thấy vậy, Per Ola tin chắc cha mẹ sẽ rất giận mình. Cậu đã sắp òa khóc nếu chẳng mau chóng tìm thấy một chuyện khác để nghĩ đến: một đàn chim lớn màu xám đáp xuống cù lao. Cậu bé tí hon dẫn Per Ola tới chỗ chúng, nói cho cậu biết tên từng con và chúng đang nói gì. Chuyện ấy vui đến nỗi Per Ola quên hết mọi điều khác.
Trong khi đó, người trong trang trại đã phát hiện cậu bé mất tích và bắt đầu tìm kiếm. Họ lục soát các nhà phụ, nhìn xuống giếng và tìm khắp hầm. Rồi họ đi ra những con đường cái và đường mòn; sang tận trang trại láng giềng xem cậu có đi lạc tới đó không, lại tìm cả dưới hồ Takern. Nhưng dù tìm kiếm bao nhiêu, họ vẫn chẳng thấy cậu.
Caesar hiểu rất rõ người trong trang trại đang tìm Per Ola, nhưng nó chẳng làm gì để dẫn họ đi đúng hướng; trái lại, nó cứ nằm im như thể chuyện ấy không liên quan đến mình.
Về sau trong ngày, người ta phát hiện dấu chân Per Ola dưới bến thuyền. Rồi họ nhớ ra chiếc xuồng cũ rò nước không còn nằm trên bờ. Khi ấy, mọi người bắt đầu hiểu toàn bộ câu chuyện đã xảy ra thế nào.
Người chủ trang trại và những người làm công lập tức đưa thuyền ra tìm cậu bé. Họ chèo khắp Takern tới tận khuya mà không thấy lấy một cái bóng của cậu. Họ không thể không tin rằng chiếc xuồng cũ đã chìm và cậu bé đang nằm chết dưới đáy hồ.
Buổi tối, mẹ Per Ola vẫn tìm kiếm dọc bờ hồ. Mọi người khác đều tin cậu đã chết đuối, nhưng bà không thể ép mình tin điều đó. Bà cứ tìm mãi. Bà tìm giữa lau sậy và cỏ lác; bước đi không ngừng trên bờ bùn, chẳng nghĩ đến việc chân lún sâu đến đâu hay người đã ướt đến thế nào. Bà tuyệt vọng không sao tả xiết. Trái tim trong lồng ngực đau nhói. Bà không khóc, chỉ vặn hai tay vào nhau và gọi con bằng giọng lớn, cao vút.
Chung quanh, bà nghe tiếng kêu của thiên nga, vịt và chim choắt. Bà ngỡ chúng đi theo mình, cũng rên rỉ, khóc than. “Hẳn chúng cũng đang gặp hoạn nạn nên mới than khóc đến vậy,” bà nghĩ. Rồi bà nhớ ra: bà chỉ nghe thấy tiếng những con chim kêu. Chắc chắn chúng chẳng có nỗi lo nào.
Thật lạ khi chúng vẫn không im tiếng sau lúc mặt trời lặn. Bà nghe vô số đàn chim sống quanh Takern liên tiếp cất tiếng kêu. Vài con đi theo bà khắp mọi nơi; những con khác nhẹ cánh xào xạc lướt qua. Cả bầu không khí tràn ngập tiếng rên rỉ và khóc than.
Nhưng chính nỗi thống khổ bà đang chịu đựng đã mở rộng trái tim bà. Bà nghĩ mình không cách biệt với mọi sinh vật sống khác đến thế như con người thường tưởng. Hơn bao giờ hết, bà hiểu rõ cuộc sống của loài chim. Chúng cũng không ngừng lo lắng cho mái nhà và con cái, hệt như bà. Chắc chắn giữa chúng và bà không có khác biệt lớn đến thế như bà vẫn tin trước đây.
Rồi bà chợt nghĩ, chuyện hàng nghìn con thiên nga, vịt và chim lặn sẽ mất mái nhà nơi Takern gần như đã được định đoạt. “Chúng sẽ khốn khổ biết bao,” bà nghĩ. “Giờ chúng sẽ nuôi con ở đâu?”
Bà đứng yên, trầm ngâm suy nghĩ. Biến một hồ nước thành ruộng đồng và đồng cỏ có vẻ là một thành tựu tốt đẹp, đáng hài lòng, nhưng hãy chọn một hồ nào khác ngoài Takern; một hồ nước khác, không phải mái nhà của hàng vạn sinh vật.
Bà nhớ ngày hôm sau người ta sẽ quyết định đề nghị hạ mực nước hồ, và tự hỏi có phải vì thế mà đứa con trai bé bỏng của bà lại mất tích — đúng ngày hôm nay.
Có phải ý Chúa là nỗi đau phải đến mở rộng trái tim bà — ngay ngày hôm nay — trước khi quá muộn để ngăn chặn hành động tàn nhẫn ấy?
Bà vội vã trở về nhà và bắt đầu nói chuyện này với chồng. Bà nói về hồ nước, về lũ chim, và bảo rằng bà tin đây là sự phán xét của Chúa dành cho cả hai vợ chồng. Chẳng bao lâu, bà nhận ra chồng mình cũng nghĩ như vậy.
Họ đã sở hữu một trang trại lớn, nhưng nếu việc tháo nước hồ được thực hiện, một phần đáy hồ rộng đến thế sẽ thuộc về họ, khiến diện tích đất đai gần như tăng gấp đôi. Vì lý do ấy, họ sốt sắng với công việc này hơn bất cứ chủ đất ven bờ nào khác. Những người khác vẫn lo lắng về phí tổn và e rằng lần tháo nước này cũng chẳng thành công hơn lần trước. Trong thâm tâm, cha Per Ola biết chính mình đã thuyết phục họ tiến hành công việc. Ông đã đem hết tài ăn nói ra vận động, để có thể để lại cho con trai một trang trại rộng gấp đôi phần cha mình từng để lại cho ông.
Ông đứng trầm ngâm, tự hỏi liệu có phải bàn tay Chúa đứng sau việc Takern cướp mất con trai mình đúng một ngày trước khi ông ký hợp đồng làm cạn hồ. Người vợ không phải nói thêm bao lời trước khi ông đáp: “Có lẽ Chúa không muốn chúng ta can thiệp vào trật tự Người đã sắp đặt. Ngày mai tôi sẽ nói chuyện này với những người khác, và tôi nghĩ chúng tôi sẽ kết luận rằng cứ để mọi thứ nguyên như thế.”
Trong lúc vợ chồng chủ trại bàn bạc, Caesar nằm trước lò sưởi. Nó ngẩng đầu và lắng nghe hết sức chăm chú. Khi tin chắc đã biết kết quả, nó bước tới bên bà chủ, ngậm gấu váy bà và dẫn ra cửa. “Nhưng Caesar!” bà nói, cố giằng ra. “Mày biết Per Ola ở đâu sao?” bà kêu lên. Caesar vui sướng sủa vang rồi lao mình vào cửa. Bà mở cửa, Caesar phóng xuống phía Takern. Bà chủ tin chắc nó biết Per Ola ở đâu nên vội chạy theo. Họ vừa tới bờ hồ đã nghe tiếng một đứa trẻ vọng lên từ ngoài hồ.
Per Ola đã trải qua ngày tuyệt vời nhất đời mình bên Tí Hon và đàn chim; nhưng giờ cậu bắt đầu khóc vì đói và sợ bóng tối. Cậu vui mừng biết bao khi cha mẹ cùng Caesar đến đón mình.