Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils — Chương 22: Chuyện Karr và Da Xám

Chương 22 / 43 · Bài review Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils

KARR

Khoảng mười hai năm trước khi Nils Holgersson bắt đầu chuyến phiêu lưu cùng đàn ngỗng trời, có một chủ xưởng ở Kolmården muốn tống khứ một con chó của mình. Ông cho gọi người quản khu săn tới và bảo không thể giữ con chó lại, bởi không cách nào sửa được thói quen đuổi bắt mọi con cừu và gia cầm lọt vào mắt nó; rồi ông yêu cầu người ấy dắt nó vào rừng bắn chết.

Người quản khu săn cài dây vào cổ chó để dẫn nó tới một nơi trong rừng, chỗ tất cả những con chó già yếu của trang viên đều bị bắn rồi chôn. Ông không phải người tàn nhẫn, nhưng lại rất vui lòng bắn con chó ấy, vì ông biết cừu và gà không phải những sinh vật duy nhất nó săn đuổi. Không biết bao nhiêu lần nó đã vào rừng, tự tiện bắt một con thỏ hay một chú gà gô non để ăn.

Đó là một chú chó săn setter nhỏ, lông đen pha nâu vàng. Chú tên Karr và khôn ngoan đến mức hiểu mọi lời người ta nói.

Khi người quản khu săn dẫn chú đi xuyên qua những bụi rậm, Karr biết quá rõ điều gì đang chờ mình. Nhưng nhìn cách chú cư xử thì không ai đoán nổi, bởi chú chẳng cúi đầu hay cụp đuôi mà vẫn có vẻ thản nhiên như thường.

Chính vì đang ở trong rừng nên chú chó càng cẩn thận, không để lộ dù chỉ một chút lo âu.

Xung quanh xưởng, những dải rừng rộng lớn trải dài tứ phía; khu rừng này nổi tiếng trong cả loài vật lẫn con người vì suốt bao nhiêu năm, các chủ nhân nâng niu nó đến mức ngay cả những thân cây cần làm củi, họ cũng tiếc không nỡ đốn. Họ cũng chẳng đành lòng tỉa thưa hay uốn sửa cây cối. Các cây được mặc sức lớn lên theo ý mình. Dĩ nhiên, khu rừng được bảo vệ như thế trở thành nơi trú ẩn yêu dấu của thú hoang, vốn tụ tập ở đây rất đông. Giữa họ với nhau, muôn thú gọi nơi này là Rừng Tự Do và xem đó là chốn náu mình tốt nhất trong cả nước.

Trong lúc bị dẫn đi xuyên rừng, chú chó nghĩ tới việc mình từng là nỗi kinh hoàng đối với tất cả thú nhỏ và chim chóc sống ở đây ra sao.

“Này Karr, nếu chúng biết chuyện gì đang chờ mày, hẳn chúng sẽ vui biết bao trong hang ổ của mình?” chú nghĩ, nhưng đồng thời vẫn vẫy đuôi, sủa vang vui vẻ để không ai cho rằng chú đang lo âu hay buồn bã.

“Nếu thỉnh thoảng không được đi săn thì sống còn có gì vui?” chú tự nhủ. “Ai muốn hối tiếc thì cứ việc, nhưng Karr này thì không!”

Nhưng ngay khi chú chó vừa tự nhủ như vậy, một thay đổi lạ lùng đã diễn ra trong chú. Chú vươn cổ như thể muốn tru lên. Chú không còn lon ton bên cạnh người quản khu săn mà bước theo sau ông. Rõ ràng chú đã bắt đầu nghĩ tới một chuyện chẳng dễ chịu gì.

Đó là đầu mùa hè; những con nai sừng tấm cái vừa sinh con, và đêm hôm trước, chú chó đã tách được một con nai con chưa đầy năm ngày tuổi khỏi mẹ rồi lùa nó xuống đầm lầy. Ở đó chú đuổi nó tới lui qua những doi đất—không phải vì muốn bắt, mà chỉ để mua vui bằng cách xem mình có thể làm nó hoảng sợ đến đâu. Nai mẹ biết đầm lầy không có đáy ngay sau mùa băng tan và chưa thể đỡ nổi một con vật to lớn như mình, nên đã đứng rất lâu trên nền đất chắc mà quan sát! Nhưng khi Karr cứ đuổi nai con ra xa hơn mãi, nó liền lao xuống đầm, xua chú chó đi, đưa con theo rồi quay về phía đất liền vững chắc. Nai sừng tấm đi qua vùng đất đầm lầy nguy hiểm khéo léo hơn các loài vật khác, và xem ra nai mẹ sẽ bình an tới được đất chắc; nhưng khi chỉ còn cách bờ một quãng ngắn, doi đất nó vừa đặt chân lên bỗng lún xuống bùn, kéo nó chìm theo. Nó cố đứng dậy nhưng không tìm được chỗ đặt chân vững, nên cứ lún xuống, lún xuống mãi. Karr đứng nhìn, không dám nhúc nhích. Khi thấy nai mẹ không thể tự cứu, chú chạy đi nhanh hết sức, bởi đã bắt đầu nghĩ tới trận đòn mình sẽ phải chịu nếu người ta phát hiện chú gây ra tai họa cho nai mẹ. Chú khiếp sợ đến mức không dám dừng lấy hơi cho tới khi về đến nhà.

Chú chó vừa nhớ lại chính chuyện ấy, và nó khiến chú day dứt theo một cách hoàn toàn khác với ký ức về mọi hành vi xấu xa trước đây. Hẳn là vì chú không thật sự định giết nai mẹ hay nai con, mà lại vô tình cướp đi mạng sống của chúng.

“Nhưng có lẽ chúng vẫn còn sống!” chú chó nghĩ. “Khi mình chạy đi, chúng chưa chết; biết đâu chúng đã tự cứu được mình.”

Một khát khao không sao cưỡng nổi xâm chiếm lấy chú: phải biết cho chắc sự thật khi vẫn còn thời gian tìm hiểu. Chú nhận thấy người quản khu săn không nắm chắc dây dắt, bèn bất ngờ phóng vọt lên, giật mình thoát ra rồi lao xuyên rừng xuống đầm lầy nhanh đến mức đã mất hút trước khi người quản khu săn kịp giương súng.

Người quản khu săn chẳng còn cách nào khác ngoài vội vã đuổi theo. Khi tới đầm lầy, ông thấy chú chó đứng trên một doi đất, dốc hết sức tru lên.

Người đàn ông nghĩ tốt hơn hết nên tìm hiểu chuyện này có ý nghĩa gì, vì thế ông bỏ súng xuống rồi bò vào đầm bằng cả hai tay lẫn hai đầu gối. Chưa đi được bao xa, ông đã thấy một con nai sừng tấm cái nằm chết trong vũng lầy. Sát bên nó là một chú nai con. Nó vẫn còn sống, nhưng kiệt sức đến mức không thể cử động. Karr đứng cạnh nai con, lúc cúi xuống liếm nó, lúc lại tru lanh lảnh cầu cứu.

Người quản khu săn nâng nai con lên và bắt đầu kéo nó về phía bờ. Khi hiểu rằng nai con sẽ được cứu, chú chó vui mừng đến phát cuồng. Chú nhảy vòng quanh người quản khu săn, liếm tay ông và sủa lên sung sướng.

Người đàn ông mang nai con về nhà, nhốt nó vào một ô chuồng bê trong chuồng bò. Sau đó, ông gọi người tới giúp kéo nai mẹ khỏi đầm lầy. Chỉ khi làm xong những việc ấy, ông mới nhớ ra mình phải bắn Karr. Ông gọi chú chó lại và một lần nữa dẫn chú vào rừng.

Người quản khu săn đi thẳng về phía nấm mồ dành cho chú chó; nhưng suốt đường ông có vẻ trầm ngâm suy nghĩ. Đột nhiên, ông quay lại và bước về phía trang viên.

Karr vẫn lặng lẽ lon ton đi theo; nhưng khi người quản khu săn quay lại, bắt đầu trở về nhà, chú bỗng lo âu. Hẳn người đàn ông đã phát hiện chính chú gây ra cái chết của nai mẹ, và giờ ông trở lại trang viên để người ta đánh chú một trận trước khi bắn chết!

Bị đánh đòn còn tệ hơn mọi chuyện khác! Trước viễn cảnh ấy, Karr không thể giữ vững tinh thần thêm nữa mà cúi gằm đầu. Khi tới trang viên, chú không nhìn lên, chỉ giả vờ như chẳng quen biết ai ở đó.

Ông chủ đang đứng trên bậc thềm dẫn vào đại sảnh khi người quản khu săn bước tới.

“Con chó ấy từ đâu ra thế?” ông kinh ngạc kêu lên. “Chắc chắn không thể là Karr! Nó phải chết từ lâu rồi chứ!”

Bấy giờ người quản khu săn bắt đầu kể cho ông chủ nghe mọi chuyện về nai mẹ, còn Karr cố thu mình nhỏ hết mức, nép sau chân ông.

Trước sự kinh ngạc của chú, người đàn ông chỉ toàn khen ngợi. Ông nói rõ ràng chú chó biết hai mẹ con nai đang gặp nạn và muốn cứu chúng.

“Ông muốn làm gì thì làm, chứ tôi không thể bắn con chó này!” người quản khu săn tuyên bố.

Karr đứng thẳng lên, vểnh tai. Chú hầu như không thể tin mình nghe đúng. Dù không muốn để lộ bản thân đã lo sợ đến mức nào, chú vẫn không kìm được tiếng ư ử khe khẽ. Có thể nào mạng sống của chú được tha chỉ vì chú đã thấy bất an cho hai mẹ con nai?

Ông chủ cho rằng Karr đã cư xử tốt, nhưng vì không muốn giữ chú chó nên ông chưa thể quyết định ngay sẽ xử trí với chú ra sao.

“Nếu anh chịu trông nom nó và bảo đảm từ nay nó cư xử đúng mực, vậy thì cứ để nó sống,” cuối cùng ông nói.

Người quản khu săn vui mừng nhận lời, và đó là lý do Karr chuyển tới sống tại căn nhà của ông.

CUỘC TRỐN CHẠY CỦA DA XÁM

Từ ngày tới sống cùng người quản khu săn, Karr hoàn toàn từ bỏ những cuộc săn bị cấm trong rừng. Không chỉ vì chú đã được một phen khiếp vía, mà còn vì chú không muốn khiến người quản khu săn nổi giận với mình. Kể từ khi người chủ mới cứu mạng, chú chó yêu quý ông hơn tất thảy. Chú chỉ nghĩ tới việc theo chân và canh chừng cho ông. Nếu ông rời nhà, Karr sẽ chạy trước để chắc chắn đường đi an toàn; còn nếu ông ngồi nhà, Karr sẽ nằm trước cửa, chăm chú quan sát từng người ra kẻ vào.

Khi căn nhà yên tĩnh, không có tiếng chân nào vọng trên đường và người quản khu săn đang làm việc ngoài vườn, Karr lại tiêu khiển bằng cách chơi với chú nai con.

Ban đầu, chú chó không muốn rời chủ dù chỉ một thoáng. Vì theo ông khắp nơi, chú cũng đi cùng vào chuồng bò. Khi ông cho nai con uống sữa, chú chó ngồi ngoài ô chuồng nhìn nó chăm chăm. Người quản khu săn đặt tên nai con là Da Xám vì nghĩ nó không xứng với một cái tên đẹp hơn, và về điểm này Karr đồng ý với ông.

Mỗi lần nhìn nai con, chú chó đều nghĩ mình chưa từng thấy thứ gì xấu xí, dị hình đến thế. Những chiếc chân dài lóng ngóng buông dưới thân nó như đôi cà kheo lỏng lẻo. Cái đầu to, già nua, nhăn nheo và lúc nào cũng rũ sang một bên. Da nó chùng thành nếp, như thể con vật khoác một chiếc áo không được may cho mình. Nó luôn rầu rĩ, bất mãn; vậy mà lạ thay, hễ Karr xuất hiện, nó lại bật dậy như vui mừng được gặp chú.

Nai con ngày một mất hy vọng, chẳng lớn lên chút nào, cuối cùng ngay cả khi thấy Karr nó cũng không thể đứng dậy. Bấy giờ chú chó nhảy vào ô chuồng để chào nó, và một tia sáng liền bừng lên trong mắt sinh vật tội nghiệp—như thể niềm mong mỏi thiết tha vừa được thỏa nguyện.

Từ đó, ngày nào Karr cũng tới thăm nai con, ở bên nó nhiều giờ, liếm bộ lông, chơi đùa và chạy thi cùng nó, cho tới khi dạy được nó đôi chút về mọi điều một con thú rừng cần biết.

Thật lạ lùng, kể từ khi Karr bắt đầu thăm nai con trong ô chuồng, nó dường như mãn nguyện hơn và bắt đầu lớn. Một khi đã đà phát triển, nó lớn nhanh đến mức chỉ vài tuần sau, ô chuồng không còn chứa nổi và nó phải được chuyển ra một lùm cây.

Sau hai tháng ở trong lùm cây, chân nó đã dài đến mức có thể bước qua hàng rào bất cứ lúc nào muốn. Bấy giờ chủ trang viên cho phép người quản khu săn dựng hàng rào cao hơn và dành cho nó khoảng đất rộng hơn. Nai sừng tấm sống ở đây vài năm, lớn lên thành một con vật mạnh mẽ, đẹp đẽ. Karr bầu bạn với nó mỗi khi có thể; nhưng giờ chú không còn làm vậy vì thương hại nữa, bởi giữa đôi bên đã nảy sinh một tình bạn sâu sắc. Nai sừng tấm luôn có khuynh hướng u sầu, uể oải và thờ ơ, nhưng Karr biết cách khiến nó vui đùa, hạnh phúc.

Da Xám đã sống năm mùa hè tại nhà người quản khu săn thì chủ nhân của nó nhận được thư từ một vườn thú ở nước ngoài, hỏi mua con nai sừng tấm.

Ông chủ hài lòng với đề nghị ấy; người quản khu săn đau buồn nhưng không có quyền từ chối, nên cuối cùng họ quyết định bán con nai. Karr sớm phát hiện chuyện gì đang được trù tính và chạy sang trò chuyện với nai sừng tấm. Chú chó vô cùng đau khổ khi nghĩ tới việc mất đi người bạn, nhưng con nai đón nhận chuyện ấy bình thản, dường như chẳng vui cũng chẳng buồn.

“Cậu định để họ đưa đi mà không chống cự sao?” Karr hỏi.

“Chống cự thì có ích gì?” Da Xám hỏi. “Dĩ nhiên tôi thích ở lại đây hơn; nhưng nếu đã bị bán, đương nhiên tôi phải đi thôi.”

Karr nhìn Da Xám, lấy mắt ước lượng vóc dáng bạn. Rõ ràng con nai chưa trưởng thành hoàn toàn. Nó chưa có bộ gạc rộng, cái u vai cao và bờm dài của nai trưởng thành; nhưng chắc chắn đã đủ sức chiến đấu cho tự do của mình.

“Ai cũng nhìn ra cậu ấy bị nuôi nhốt suốt đời,” Karr nghĩ, nhưng không nói gì.

Karr bỏ đi và mãi quá nửa đêm mới trở lại lùm cây. Chú biết vào giờ ấy Da Xám sẽ thức và đang dùng bữa sáng.

“Dĩ nhiên cậu làm đúng, Da Xám ạ, khi để họ đưa cậu đi,” Karr nói; lúc này chú có vẻ bình thản, mãn nguyện. “Cậu sẽ là tù nhân trong một công viên rộng lớn và chẳng phải gánh trách nhiệm gì. Chỉ tiếc cậu phải rời nơi đây khi chưa được nhìn thấy rừng. Cậu biết tổ tiên mình có câu: ‘Nai sừng tấm với rừng là một.’ Nhưng cậu còn chưa từng bước vào rừng!”

Da Xám ngẩng lên khỏi đám cỏ ba lá đang nhai.

“Quả thật tôi rất muốn nhìn thấy rừng, nhưng phải vượt hàng rào bằng cách nào?” nó nói với vẻ thờ ơ thường lệ.

“Ồ, với một kẻ có đôi chân ngắn đến thế thì khó thật!” Karr nói.

Nai sừng tấm liếc chú chó đầy ẩn ý; dù nhỏ bé, ngày nào chú cũng nhảy qua hàng rào không biết bao nhiêu lần.

Nó bước tới hàng rào, và chỉ một cú nhảy đã sang phía bên kia mà chính mình cũng chẳng hiểu việc ấy xảy ra thế nào.

Rồi Karr và Da Xám đi vào rừng. Đó là một đêm cuối hè đẹp đẽ ngập ánh trăng; nhưng giữa cây cối trời vẫn tối, và con nai bước đi chậm chạp.

“Có lẽ chúng ta nên quay về,” Karr nói. “Cậu chưa từng giẫm bước trong rừng hoang, rất dễ gãy chân.” Da Xám liền bước nhanh và can đảm hơn.

Karr dẫn con nai tới một khu rừng nơi những cây thông mọc dày đến mức gió không thể lọt qua.

“Đồng loại của cậu thường tới đây tìm chỗ trú khỏi giá rét và bão tố,” Karr nói. “Họ đứng đây dưới bầu trời trống trải suốt mùa đông. Nhưng nơi cậu sắp đến sẽ dễ chịu hơn nhiều, vì cậu được đứng trong chuồng có mái che trên đầu, như một con bò.”

Da Xám không bình luận gì, chỉ đứng yên hít căng lồng ngực bầu không khí nồng nàn hương thông.

“Cậu còn gì cho tôi xem nữa không, hay tôi đã thấy hết cả khu rừng rồi?” nó hỏi.

Karr bèn dẫn bạn tới một đầm lầy rộng lớn, chỉ cho nó những mô đất và vũng bùn sâu.

“Nai sừng tấm vượt qua đầm lầy này để chạy trốn khi gặp nguy hiểm,” Karr nói. “Tôi không biết họ làm cách nào, nhưng dù to lớn, nặng nề đến thế, họ vẫn có thể đi trên đây mà không chìm. Dĩ nhiên cậu không thể đỡ nổi thân mình trên một vùng đất nguy hiểm như vậy; nhưng cậu cũng chẳng có dịp nào phải làm thế, bởi cậu sẽ không bao giờ bị thợ săn truy đuổi.”

Da Xám không đáp lại, nhưng chỉ một cú nhảy, nó đã lao ra đầm lầy; nó vui sướng khi cảm thấy những mô đất đung đưa dưới chân. Nó phóng qua đầm rồi trở lại bên Karr mà không hề sẩy chân vào một hố bùn.

“Giờ chúng ta đã xem hết khu rừng chưa?” nó hỏi.

“Chưa, vẫn chưa,” Karr đáp.

Tiếp đó, chú dẫn con nai tới rìa rừng, nơi mọc những cây sồi, cây đoạn và cây dương xinh đẹp.

“Ở đây, đồng loại của cậu ăn lá và vỏ cây, những thứ họ xem là món ngon quý nhất; nhưng ở nước ngoài, có lẽ cậu sẽ được ăn ngon hơn.”

Da Xám kinh ngạc khi thấy những cây lá rộng khổng lồ xòe trên đầu như một vòm che lớn. Nó ăn cả lá sồi lẫn vỏ cây dương.

“Vị đắng này mới ngon tuyệt làm sao!” nó nhận xét. “Ngon hơn cỏ ba lá!”

“Vậy chẳng phải thật may vì cậu được nếm chúng một lần sao?” chú chó nói.

Sau đó, chú đưa con nai xuống một hồ nhỏ trong rừng. Mặt nước phẳng như gương, phản chiếu đôi bờ phủ màn sương mỏng nhẹ. Vừa trông thấy hồ, Da Xám đã đứng sững, mê mẩn.

“Đây là gì vậy, Karr?” nó hỏi.

Đó là lần đầu tiên nó nhìn thấy một cái hồ.

“Đây là một vùng nước rộng—một cái hồ,” Karr nói. “Đồng loại của cậu bơi qua hồ từ bờ này sang bờ kia. Khó mà mong cậu biết việc này; nhưng ít nhất cậu cũng nên xuống tắm một lượt!”

Chính Karr lao xuống nước bơi trước. Da Xám còn nấn ná trên bờ một lúc, nhưng cuối cùng cũng theo xuống. Nó gần như nghẹt thở vì thích thú khi làn nước mát dịu dàng ôm lấy thân mình. Nó còn muốn nước phủ qua lưng nên bước ra xa hơn. Rồi nó cảm thấy nước có thể nâng mình lên và bắt đầu bơi. Nó bơi vòng quanh Karr, lúc lặn xuống, lúc phì hơi, hoàn toàn tự tại trong nước.

Khi cả hai trở lại trên bờ, chú chó hỏi chẳng phải giờ họ nên về nhà rồi sao.

“Còn lâu trời mới sáng,” Da Xám nhận xét, “vì thế chúng ta có thể đi quanh rừng thêm một lúc nữa.”

Họ lại vào rừng thông. Chẳng bao lâu, họ tới một khoảng rừng thưa ngập ánh trăng, nơi cỏ hoa lấp lánh dưới sương đêm. Vài con vật lớn đang gặm cỏ trên đồng cỏ giữa rừng—một con nai sừng tấm đực, vài con nai cái cùng một đàn nai con. Vừa trông thấy họ, Da Xám đã khựng lại. Nó gần như chẳng liếc nhìn nai cái hay nai non mà chỉ chăm chăm ngắm con nai đực già, kẻ có bộ gạc rộng với nhiều nhánh nhỏ, cái u vai cao và một mảng lông dài rủ xuống từ cổ họng.

“Đó là loài vật gì vậy?” Da Xám kinh ngạc hỏi.

“Ông ấy tên Vương Miện Gạc,” Karr nói, “và là họ hàng của cậu. Một ngày kia, cậu cũng sẽ có bộ gạc rộng như thế cùng một chiếc bờm hệt vậy; nếu ở lại trong rừng, rất có thể cậu cũng sẽ có cả một đàn để dẫn dắt.”

“Nếu là họ hàng, tôi phải tới gần nhìn ông ấy,” Da Xám nói. “Tôi chưa từng mơ một con vật có thể uy nghi đến thế!”

Da Xám bước tới chỗ đàn nai, nhưng gần như ngay lập tức đã trở lại bên Karr, chú vẫn đứng ở rìa khoảng rừng thưa.

“Họ không đón tiếp cậu tử tế lắm, phải không?” Karr hỏi.

“Tôi nói đây là lần đầu tiên mình gặp đồng loại và hỏi liệu có thể đi cùng họ trên đồng cỏ hay không. Nhưng họ đã chĩa gạc đe dọa, đuổi tôi về.”

“Cậu rút lui là phải,” Karr nói. “Một con nai đực trẻ mới chỉ có bộ gạc vài nhánh phải thận trọng khi giao chiến với nai già. Nếu là kẻ khác, việc rút lui không chống cự sẽ khiến tên tuổi nó ô nhục khắp khu rừng; nhưng những chuyện như thế chẳng cần làm cậu bận tâm, vì cậu sắp dời tới một xứ xa lạ.”

Karr vừa dứt lời, Da Xám đã quay mình bước xuống đồng cỏ. Con nai già tiến về phía nó, và đôi bên lập tức giao chiến. Hai bộ gạc va nhau chan chát, còn Da Xám bị đẩy lùi qua suốt đồng cỏ. Rõ ràng nó không biết cách vận dụng sức mạnh; nhưng khi tới rìa rừng, nó ghì chắc chân xuống đất, lấy gạc đẩy thật mạnh rồi bắt đầu ép Vương Miện Gạc lùi lại.

Da Xám chiến đấu lặng lẽ, còn Vương Miện Gạc thở phì phò, khịt mũi. Đến lượt con nai già bị đẩy lùi qua đồng cỏ. Đột nhiên, một tiếng rắc lớn vang lên! Một nhánh trên bộ gạc của nai già đã gãy. Nó giật mình thoát ra rồi lao vào rừng.

Karr vẫn đứng ở bìa rừng khi Da Xám bước tới.

“Giờ cậu đã thấy những gì có trong rừng,” Karr nói, “cậu sẽ cùng tôi về nhà chứ?”

“Phải, cũng đến lúc rồi,” con nai nhận xét.

Suốt đường về, cả hai đều im lặng. Karr thở dài vài lần như thể thất vọng vì chuyện gì đó; còn Da Xám ngẩng cao đầu bước đi, có vẻ rất vui thích với cuộc phiêu lưu. Nó không chút do dự đi trước cho tới khi họ tới khu rào nuôi. Tại đó nó dừng lại. Nó nhìn vào khoảnh chuồng chật hẹp nơi mình sống từ trước tới giờ; nhìn nền đất bị giẫm cứng, mớ cỏ khô cũ, chiếc máng nhỏ nó từng uống nước và gian chuồng tối nơi nó ngủ.

“Nai sừng tấm với rừng là một!” nó kêu lên. Rồi nó ngửa đầu ra sau đến mức gáy tựa lên lưng và cuồng nhiệt lao vào rừng.

BẤT LỰC, CON RẮN NƯỚC

Trong một bụi thông giữa lòng Rừng Tự Do, cứ đến tháng Tám hằng năm lại xuất hiện vài con ngài trắng xám thuộc giống ngài nữ tu. Chúng vừa nhỏ vừa ít đến mức hầu như chẳng ai để ý. Sau khi chấp chới trong rừng sâu vài đêm, chúng đẻ vài nghìn quả trứng lên cành cây, rồi chẳng bao lâu sau rơi xuống đất, không còn sự sống.

Khi mùa xuân tới, những con sâu bướm nhỏ đầy lông nhọn bò ra khỏi trứng và bắt đầu ăn lá kim. Chúng ăn rất khỏe, nhưng dường như chưa bao giờ gây hại nghiêm trọng cho cây vì bị chim chóc ráo riết săn đuổi. Hiếm khi có quá vài trăm con sâu thoát khỏi những kẻ truy bắt.

Những sinh vật tội nghiệp sống được tới lúc trưởng thành bò lên cành, nhả tơ trắng bọc quanh mình rồi nằm thành nhộng bất động suốt vài tuần. Thông thường, hơn một nửa trong số chúng bị bắt đi trong giai đoạn này. Nếu đến tháng Tám có một trăm con ngài nữ tu đủ cánh, hoàn thiện chui ra, thế đã được xem là một năm thuận lợi đối với chúng.

Suốt nhiều năm, đại tộc ngài sống một cuộc đời âm thầm, bấp bênh như thế trong Rừng Tự Do. Khắp cả nước không có tộc côn trùng nào ít ỏi hơn chúng, và chúng hẳn sẽ mãi hoàn toàn vô hại, bất lực nếu không bất ngờ nhận được một kẻ giúp sức.

Chuyện này có liên quan phần nào tới việc Da Xám trốn khỏi bãi rào của người quản khu săn. Da Xám lang thang trong rừng để làm quen hơn với nơi ấy. Cuối buổi chiều, nó tình cờ len qua vài bụi rậm phía sau một khoảng trống có nền đất bùn nhão, trơn nhớt và một vũng nước đục ở chính giữa. Bao quanh khoảng trống là những cây thông cao, gần như trụi lá vì tuổi tác và hơi độc. Da Xám không thích nơi ấy và hẳn đã bỏ đi ngay nếu không trông thấy vài chiếc lá ráy xanh tươi mọc gần vũng nước.

Khi cúi đầu về phía những thân cây ráy, nó vô tình quấy rầy một con rắn đen lớn đang ngủ bên dưới. Da Xám từng nghe Karr kể về những con rắn lục có nọc độc trong rừng. Vì thế, khi con rắn ngẩng đầu, thè lưỡi và rít vào mặt mình, nó tưởng đã chạm trán một loài bò sát nguy hiểm khủng khiếp. Nó kinh hãi, nhấc chân lên rồi giáng móng mạnh đến mức nghiền nát đầu con rắn. Sau đó, nó hốt hoảng chạy biến!

Ngay khi Da Xám đi khỏi, một con rắn khác dài và đen hệt con đầu tiên trồi lên từ vũng nước. Nó bò tới bên con đã chết, liếm cái đầu tội nghiệp bị nghiền nát.

“Có thật bà đã chết rồi không, Vô Hại già?” con rắn rít lên. “Hai ta đã sống bên nhau bao nhiêu năm; hai ta hạnh phúc với nhau, sống tốt đến thế trong đầm lầy này, đến mức thọ hơn mọi con rắn nước khác trong rừng! Đây là nỗi đau khổ tồi tệ nhất có thể giáng xuống tôi!”

Con rắn đau lòng đến mức thân mình dài ngoằn ngoèo như thể đã bị thương. Ngay cả những con ếch vốn sống trong nỗi sợ hãi thường trực trước nó cũng thấy thương cảm.

“Phải là một kẻ độc ác đến đâu mới giết một con rắn nước tội nghiệp không thể tự vệ!” con rắn rít lên. “Hắn nhất định đáng chịu sự trừng phạt nặng nề. Ta thề trên cái tên Bất Lực của mình và trên tuổi tác cao nhất trong mọi con rắn nước ở khu rừng này, ta sẽ báo thù! Ta sẽ không nghỉ cho tới khi con nai sừng tấm ấy nằm chết trên mặt đất như người vợ rắn già tội nghiệp của ta.”

Sau khi lập lời thề, con rắn cuộn thân thành một vòng tròn rồi bắt đầu suy tính. Khó mà tưởng tượng được việc gì gian nan hơn chuyện một con rắn nước đáng thương báo thù một con nai sừng tấm to khỏe; Bất Lực già suy nghĩ ngày đêm mà chẳng tìm ra giải pháp.

Một đêm, khi đang nằm đó với những ý nghĩ báo thù, lão nghe tiếng xào xạc khe khẽ trên đầu. Lão ngước lên, thấy vài con ngài nữ tu sáng màu nô đùa giữa những thân cây.

Lão dõi mắt theo chúng hồi lâu, rồi bắt đầu rít lớn một mình, có vẻ hài lòng với ý nghĩ vừa nảy ra—sau đó lão thiếp đi.

Sáng hôm sau, rắn nước tới gặp Bò Trườn, con rắn lục sống trong một vùng đồi núi lổn nhổn đá của Rừng Tự Do. Lão kể cho nó nghe tất cả về cái chết của con rắn nước già và van xin kẻ có thể tung những cú đớp chết người hãy đảm nhận việc báo thù. Nhưng Bò Trườn không mấy sẵn lòng giao chiến với một con nai sừng tấm.

“Nếu tấn công một con nai sừng tấm,” rắn lục nói, “hắn sẽ giết tôi ngay tức khắc. Vô Hại già đã chết, chúng ta không thể khiến bà sống lại, vậy sao tôi phải vì bà mà lao vào nguy hiểm?”

Nhận được câu trả lời ấy, rắn nước nhấc đầu cao hẳn một thước Anh khỏi mặt đất và rít lên giận dữ:

“Xì xà! Xì xà!” lão nói. “Thật đáng tiếc khi ngươi được ban cho vũ khí tự vệ lợi hại đến thế mà lại hèn nhát, không dám sử dụng!”

Nghe vậy, rắn lục cũng nổi giận.

“Bò đi cho khuất mắt ta, Bất Lực già!” nó rít. “Nọc độc nằm trong răng ta, nhưng ta thà tha cho kẻ được cho là họ hàng của mình.”

Nhưng rắn nước không rời khỏi chỗ ấy, và suốt một hồi lâu hai con rắn nằm đó rít vào nhau đủ lời nhục mạ.

Khi Bò Trườn giận đến mức không rít được nữa mà chỉ còn biết thè lưỡi, rắn nước đổi đề tài và bắt đầu nói bằng một giọng hoàn toàn khác.

“Ta còn một việc khác muốn nhờ, Bò Trườn,” lão nói, hạ giọng thành tiếng thì thầm dịu dàng. “Nhưng giờ có lẽ ngươi giận đến mức chẳng muốn giúp ta?”

“Nếu ông không đòi tôi làm chuyện ngu ngốc, dĩ nhiên tôi sẵn lòng giúp.”

“Trên những cây thông dưới đầm lầy có một đại tộc ngài sống ở đó, đêm nào cũng bay lượn.”

“Tôi biết rõ chúng,” Bò Trườn nhận xét. “Giờ chúng có chuyện gì?”

“Chúng là tộc côn trùng nhỏ bé nhất trong rừng,” Bất Lực nói, “và cũng vô hại nhất, vì lũ sâu bướm chỉ bằng lòng gặm lá thông.”

“Phải, tôi biết,” Bò Trườn nói.

“Ta e những con ngài ấy sẽ sớm bị diệt sạch,” rắn nước thở dài. “Mùa xuân có quá nhiều kẻ bắt lũ sâu bướm.”

Giờ Bò Trườn bắt đầu hiểu rắn nước muốn giữ lũ sâu bướm lại để phục vụ mục đích riêng, nên vui vẻ đáp:

“Ông muốn tôi bảo loài cú hãy để yên cho lũ sâu ăn thông ấy sao?”

“Phải, sẽ rất tốt nếu ngươi, kẻ có chút quyền thế trong rừng, chịu làm vậy,” Bất Lực nói.

“Tôi cũng có thể nói giúp vài lời với loài chim hoét để chúng tha cho lũ sâu ăn lá thông?” rắn lục tự nguyện đề nghị. “Tôi rất vui lòng giúp ông khi ông không đòi hỏi điều gì vô lý.”

“Giờ ngươi đã cho ta một lời hứa tốt đẹp, Bò Trườn,” Bất Lực nói, “và ta mừng vì đã tới gặp ngươi.”

NHỮNG CON NGÀI NỮ TU

Một buổi sáng—vài năm sau—Karr nằm ngủ trên hiên nhà. Khi ấy là đầu mùa hè, mùa của những đêm sáng; dù mặt trời chưa mọc, trời vẫn sáng như ban ngày. Karr bị đánh thức bởi tiếng ai đó gọi tên mình.

“Có phải cậu không, Da Xám?” chú hỏi, vì đã quen với những chuyến ghé thăm ban đêm của con nai. Chú lại nghe tiếng gọi; rồi nhận ra giọng Da Xám và vội chạy về phía âm thanh ấy.

Karr nghe tiếng chân nai từ đằng xa; nó đang phóng vào khu rừng thông rậm rạp nhất, lao thẳng qua bụi rậm mà không theo bất kỳ lối mòn nào. Karr không sao đuổi kịp, thậm chí phải rất vất vả mới bám được dấu vết của nó. “Karr, Karr!” tiếng gọi vọng lại; giọng ấy chắc chắn là của Da Xám, dù giờ đây mang một âm sắc chú chó chưa từng nghe thấy.

“Tôi tới đây, tôi tới đây!” chú chó đáp. “Cậu ở đâu?”

“Karr, Karr! Cậu không thấy chúng rơi mãi, rơi mãi sao?” Da Xám nói.

Bấy giờ Karr nhận thấy lá thông không ngừng rơi khỏi cây như một trận mưa dai dẳng.

“Có, tôi thấy chúng đang rơi,” chú gọi lớn rồi chạy sâu vào rừng tìm con nai.

Da Xám vẫn chạy xuyên qua các bụi rậm, còn Karr lại sắp mất dấu.

“Karr, Karr!” Da Xám rống lên. “Cậu không ngửi thấy mùi khác thường trong rừng sao?”

Karr dừng lại hít ngửi.

Trước đó chú không nghĩ tới chuyện này, nhưng giờ chú nhận thấy những cây thông tỏa mùi nồng hơn thường lệ rất nhiều.

“Có, tôi ngửi thấy rồi,” chú nói. Chú không dừng đủ lâu để tìm ra nguyên nhân mà vội vã tiếp tục đuổi theo Da Xám.

Con nai chạy trước nhanh đến mức chú chó không sao bắt kịp.

“Karr, Karr!” nó gọi. “Cậu không nghe tiếng nhai rau ráu trên những cây thông sao?” Giờ giọng nó ai oán đến mức có thể làm đá cũng phải mềm lòng.

Karr dừng lại lắng nghe. Chú nghe thấy trên cây những tiếng “tách, tách” khe khẽ nhưng rõ ràng. Âm thanh giống như tiếng tích tắc của đồng hồ.

“Có, tôi nghe tiếng tích tắc rồi,” Karr gọi lớn và không chạy tiếp nữa. Chú hiểu con nai không muốn mình đi theo mà muốn mình chú ý tới một chuyện đang xảy ra trong rừng.

Karr đang đứng dưới những cành rủ xuống của một cây thông lớn. Chú nhìn kỹ và thấy lá kim lay động. Chú tới gần, trông thấy một khối sâu bướm trắng xám đang bò dọc các cành, gặm trụi lá kim. Cành nào cũng phủ kín sâu. Tiếng rào rạo trong cây phát ra từ những chiếc hàm nhỏ bận rộn của chúng. Lá kim bị gặm đứt liên tục rơi xuống thành mưa, còn những cây thông tội nghiệp tỏa mùi nồng nặc khiến chú chó khó chịu.

“Chuyện này có nghĩa là gì?” Karr tự hỏi. “Những thân cây xinh đẹp thật tội nghiệp! Chẳng bao lâu nữa, vẻ đẹp của chúng sẽ mất sạch.”

Chú đi từ cây này sang cây khác, cố dùng đôi mắt kém cỏi của mình để xem chúng có còn ổn không.

“Có một cây thông chúng chưa đụng tới,” chú nghĩ. Nhưng chúng cũng đã chiếm cả cây ấy. “Còn đây là một cây bạch dương—không, cây này cũng bị rồi! Người quản khu săn sẽ không vui khi thấy chuyện này,” Karr nhận xét.

Chú chạy sâu hơn vào bụi rậm để tìm hiểu sự tàn phá đã lan tới đâu. Bất kể đi tới chỗ nào, chú cũng nghe cùng tiếng tích tắc ấy, ngửi cùng mùi ấy, nhìn thấy cùng trận mưa lá kim ấy. Chú không cần dừng lại xem xét. Những dấu hiệu này đã cho chú hiểu tất cả. Lũ sâu bướm nhỏ có mặt khắp nơi. Cả khu rừng đang bị chúng tàn phá!

Đột nhiên, chú tới một vùng không có mùi và mọi thứ đều lặng im.

“Lãnh địa của chúng kết thúc ở đây,” chú chó nghĩ, vừa dừng lại nhìn quanh.

Nhưng ở đây tình hình còn tệ hơn; lũ sâu bướm đã làm xong việc, cây cối không còn một chiếc lá kim. Chúng trông như đã chết. Thứ duy nhất phủ trên cây là một mạng lưới tơ rách rưới do lũ sâu giăng để làm đường và cầu.

Trong ấy, giữa những thân cây đang chết dần, Da Xám đứng chờ Karr.

Nó không ở một mình. Đi cùng nó là bốn con nai sừng tấm già—những bậc được kính trọng nhất trong rừng. Karr biết họ: Lưng Cong, một con nai nhỏ nhưng có cái u vai lớn hơn những con khác; Vương Miện Gạc, kẻ uy nghi nhất trong loài nai; Bờm Xù với bộ lông dày; và một con nai già chân dài, kẻ cho tới mùa thu năm trước—khi trúng một viên đạn vào đùi—vẫn còn nóng nảy và hiếu chiến khủng khiếp.

“Chuyện quái gì đang xảy ra với khu rừng vậy?” Karr hỏi khi tới bên đàn nai. Họ đứng cúi đầu, môi trên dài nhô ra, vẻ mặt hoang mang.

“Không ai nói được,” Da Xám đáp. “Đại tộc côn trùng này trước kia ít gây hại hơn bất kỳ loài nào trong rừng và chưa bao giờ tàn phá thứ gì. Nhưng mấy năm gần đây chúng sinh sôi nhanh đến mức giờ xem ra cả khu rừng sẽ bị hủy diệt.”

“Phải, tình hình có vẻ tồi tệ,” Karr đồng tình, “nhưng tôi thấy những con vật thông thái nhất trong rừng đã tụ họp để bàn bạc. Có lẽ các vị đã tìm ra phương cách nào rồi chăng?”

Khi chú chó nói vậy, Lưng Cong trang nghiêm ngẩng cái đầu nặng nề, vểnh đôi tai dài rồi lên tiếng:

“Chúng ta triệu cậu tới đây, Karr, để biết liệu con người đã hay tin về cảnh tàn phá này chưa.”

“Chưa,” Karr đáp. “Ngoài mùa săn, không người nào vào sâu tới mức này trong rừng. Họ chẳng biết gì về tai họa ấy.”

Bấy giờ Vương Miện Gạc nói:

“Những kẻ đã sống lâu trong rừng như chúng ta không nghĩ mình có thể tự sức chống lại nạn côn trùng này.”

“Từ nay trong rừng sẽ không còn bình yên!” Bờm Xù xen vào.

“Nhưng chúng ta không thể để cả Rừng Tự Do tan hoang!” To Khỏe phản đối. “Chúng ta sẽ phải hỏi ý con người; không còn cách nào khác.”

Karr hiểu đàn nai khó lòng bày tỏ điều họ muốn nói, nên chú cố giúp.

“Có lẽ các vị muốn tôi báo cho con người biết tình hình nơi đây?” chú gợi ý.

Tất cả những con nai già đều gật đầu.

“Thật bất hạnh khi chúng ta buộc phải cầu cứu con người, nhưng không còn lựa chọn nào khác.”

Một lát sau, Karr lên đường trở về nhà. Trong lúc chú chạy đi, lòng vô cùng đau buồn vì mọi điều vừa nghe thấy, một con rắn nước đen lớn tiến lại gần.

“Rất vui được gặp trong rừng!” rắn nước rít lên.

“Ta cũng thế!” Karr gầm gừ rồi lao vụt qua không dừng lại.

Con rắn quay lại, cố bắt kịp chú.

“Có lẽ sinh vật này cũng lo lắng cho khu rừng,” Karr nghĩ rồi đứng chờ.

Con rắn lập tức bắt đầu nói về đại họa.

“Một khi con người được gọi tới đây, bình yên và tĩnh lặng trong rừng sẽ chấm dứt,” con rắn nói.

“Ta e là vậy,” chú chó đồng tình, “nhưng những cư dân già nhất khu rừng biết mình đang làm gì!” chú nói thêm.

“Ta nghĩ mình biết một kế hay hơn,” con rắn nói, “nếu ta nhận được phần thưởng mong muốn.”

“Chẳng phải ngươi là kẻ bị mọi người quanh đây gọi là Bất Lực già sao?” chú chó nói đầy giễu cợt.

“Ta là cư dân lâu năm của khu rừng,” con rắn nói, “và ta biết cách trừ bỏ những tai họa như thế.”

“Nếu ngươi quét sạch được nạn dịch này khỏi rừng, ta tin chắc ngươi có thể được ban cho bất cứ thứ gì mình yêu cầu,” Karr nói.

Con rắn không đáp lại cho tới khi đã bò xuống dưới một gốc cây, nơi lão được che chắn kỹ càng. Bấy giờ lão mới nói:

“Hãy nói với Da Xám rằng nếu nó chịu rời Rừng Tự Do mãi mãi và đi thật xa lên phía bắc, tới nơi không có cây sồi nào mọc được, ta sẽ gieo bệnh tật và cái chết xuống mọi loài bò trườn đang gặm thông cùng vân sam!”

“Ngươi nói gì vậy?” Karr hỏi, lông dựng đứng. “Da Xám từng làm hại gì ngươi?”

“Nó đã giết kẻ ta yêu quý nhất,” con rắn tuyên bố, “và ta muốn báo thù.”

Con rắn còn chưa dứt lời, Karr đã lao vào; nhưng loài bò sát ấy nằm ẩn an toàn dưới gốc cây.

“Cứ ở yên đó!” Karr kết luận. “Chúng ta sẽ tìm cách đuổi lũ sâu bướm mà không cần ngươi giúp.”

ĐẠI CHIẾN VỚI LOÀI NGÀI

Mùa xuân năm sau, một buổi sáng khi Karr đang phóng xuyên rừng, chú nghe có kẻ phía sau gọi: “Karr! Karr!”

Chú quay lại, thấy một con cáo già đứng ngoài hang.

“Cậu phải nói cho ta biết liệu con người có đang làm gì để cứu khu rừng không,” con cáo nói.

“Có, ông có thể tin chắc họ đang làm!” Karr đáp. “Họ dốc hết sức làm việc.”

“Họ đã giết sạch họ hàng của ta, và kế tiếp sẽ giết ta,” con cáo phản đối. “Nhưng họ sẽ được tha thứ chuyện ấy, miễn là cứu được khu rừng.”

Năm ấy, Karr không lần nào chạy vào rừng mà không bị một con vật nào đó hỏi liệu con người có thể cứu khu rừng hay không. Chú chó không dễ trả lời; chính con người cũng không chắc mình có thể đánh bại loài ngài. Nhưng xét việc Kolmården già nua xưa nay vẫn luôn bị khiếp sợ và căm ghét đến mức nào, chuyện ngày nào cũng có hơn một trăm người tới đây làm việc thật đáng kinh ngạc. Họ dọn sạch bụi rậm. Họ đốn những cây chết, chặt bớt cành trên cây sống để lũ sâu bướm không dễ bò từ cây này sang cây khác; họ còn đào những con hào rộng quanh vùng bị tàn phá và dựng hàng rào quét vôi để ngăn sâu xâm nhập lãnh địa mới. Sau đó, họ quét những vòng vôi quanh thân cây để sâu bướm không thể rời khỏi những cây đã bị chúng ăn trụi. Mục đích là buộc chúng ở nguyên tại đó cho tới khi chết đói.

Con người làm việc với khu rừng cho tới tận cuối mùa xuân. Họ tràn đầy hy vọng và nóng lòng chờ lũ sâu bướm chui khỏi trứng, tin chắc mình đã giam chúng kín đến mức phần lớn sẽ chết đói.

Nhưng vào đầu mùa hè, sâu bướm bò ra, đông hơn bao giờ hết.

Chúng ở khắp nơi! Chúng bò trên đường quê, trên hàng rào, trên vách các túp nhà. Chúng tràn khỏi ranh giới Rừng Tự Do sang những vùng khác của Kolmården.

“Chúng sẽ không dừng lại cho tới khi mọi khu rừng của chúng ta bị hủy diệt!” con người tuyệt vọng thở dài; họ không thể bước vào rừng mà không rơi lệ.

Karr chán ngấy cảnh mọi sinh vật bò trườn, gặm nhấm ấy đến mức hầu như không chịu nổi việc bước ra khỏi cửa. Nhưng một ngày nọ, chú cảm thấy mình phải đi xem Da Xám sống ra sao. Chú chọn đường tắt ngắn nhất tới nơi đàn nai thường lui tới, vội vã bước đi với mũi sát mặt đất. Khi chú tới gốc cây nơi mình gặp Bất Lực năm trước, con rắn vẫn còn đó và gọi chú lại:

“Ngươi đã nói cho Da Xám nghe lời ta dặn trong lần gặp trước chưa?” rắn nước hỏi.

Karr chỉ gầm gừ và tìm cách lao vào lão.

“Nếu chưa nói thì nhất định phải nói!” con rắn khăng khăng. “Ngươi phải thấy con người không biết cách chữa nạn dịch này.”

“Ngươi cũng đâu biết!” chú chó vặc lại rồi chạy tiếp.

Karr tìm thấy Da Xám, nhưng con nai buồn bã đến mức hầu như không chào chú. Nó lập tức bắt đầu nói về khu rừng.

“Tôi sẵn sàng đánh đổi mọi thứ, miễn sao nỗi khốn khổ này chấm dứt!” nó nói.

“Giờ tôi phải nói cho cậu biết, người ta bảo cậu có thể cứu khu rừng.” Rồi Karr chuyển lời của rắn nước.

“Nếu là bất kỳ ai khác ngoài Bất Lực hứa chuyện ấy, tôi sẽ lập tức tự lưu đày,” con nai tuyên bố. “Nhưng một con rắn nước tội nghiệp làm sao có quyền năng tạo nên phép màu như vậy?”

“Dĩ nhiên đó chỉ là lời khoác lác,” Karr nói. “Rắn nước lúc nào cũng thích giả vờ mình hiểu biết hơn các sinh vật khác.”

Khi Karr chuẩn bị về nhà, Da Xám tiễn chú một quãng. Chẳng bao lâu, Karr nghe một con chim hoét đậu trên ngọn thông kêu lên:

“Da Xám, kẻ hủy diệt khu rừng, đang đi kia! Da Xám, kẻ hủy diệt khu rừng, đang đi kia!”

Karr nghĩ mình đã nghe nhầm, nhưng ngay sau đó, một con thỏ phóng ngang lối đi. Khi thấy họ, nó dừng lại, đập đôi tai và hét lên:

“Da Xám kia rồi, kẻ đã phá hủy khu rừng!” Rồi nó chạy nhanh hết sức.

“Họ nói vậy là có ý gì?” Karr hỏi.

“Tôi thật sự không biết,” Da Xám nói. “Tôi nghĩ những con vật nhỏ trong rừng bất bình với tôi vì chính tôi đã đề nghị chúng ta cầu cứu con người. Khi bụi rậm bị chặt hết, tất cả hang ổ và chỗ ẩn náu của chúng cũng bị phá hủy.”

Họ cùng nhau đi thêm một quãng, và Karr nghe tiếng kêu ấy vọng đến từ khắp mọi hướng:

“Da Xám kia rồi, kẻ đã phá hủy khu rừng!”

Da Xám vờ như không nghe thấy; nhưng Karr hiểu vì sao nai sừng tấm lại buồn bã đến thế.

“Này, Da Xám, rắn nước có ý gì khi nói anh đã giết người nó yêu quý nhất?”

“Làm sao tôi biết được?” Da Xám đáp. “Anh thừa biết tôi không bao giờ giết hại bất cứ sinh vật nào.”

Ít lâu sau, họ gặp bốn con nai sừng tấm già — Lưng Cong, Vương Miện Gạc, Bờm Xù và To Khỏe — đang chậm rãi nối đuôi nhau đi tới.

“Thật vui được gặp các bác trong rừng!” Da Xám cất tiếng chào.

“Chúng ta cũng rất vui được gặp cậu!” những con nai sừng tấm đáp.

“Chúng ta đang tìm cậu đấy, Da Xám, để bàn với cậu về khu rừng.”

“Sự thật là,” Lưng Cong mở lời, “chúng ta được báo rằng ở đây đã xảy ra một tội ác, và cả khu rừng đang bị hủy hoại vì kẻ phạm tội chưa bị trừng phạt.”

“Đó là tội ác gì?”

“Có kẻ đã giết một sinh vật vô hại mà hắn không thể ăn thịt. Ở Rừng Tự Do, một hành động như thế bị xem là tội ác.”

“Ai có thể làm một việc hèn nhát đến vậy?” Da Xám kinh ngạc.

“Người ta nói một con nai sừng tấm đã làm, và chúng ta đang định hỏi xem cậu có biết đó là ai không.”

“Không,” Da Xám đáp, “tôi chưa từng nghe chuyện nai sừng tấm giết một sinh vật vô hại.”

Da Xám từ biệt bốn con nai sừng tấm già rồi tiếp tục lên đường cùng Karr. Nó im lặng, cúi đầu bước đi. Họ tình cờ đi ngang qua Bò Trườn, con rắn lục đang nằm trên gờ đá của mình.

“Da Xám kia rồi, kẻ đã phá hủy cả khu rừng!” Bò Trườn rít lên như tất cả những con vật khác.

Đến lúc ấy, sự kiên nhẫn của Da Xám đã cạn. Nó bước tới bên con rắn và nhấc một chân trước lên.

“Ngươi định giẫm nát ta như đã giẫm nát con rắn nước già ấy sao?” Bò Trườn rít.

“Ta đã giết một con rắn nước ư?” Da Xám kinh ngạc hỏi.

“Ngay ngày đầu tiên vào rừng, ngươi đã giết vợ của Bất Lực già tội nghiệp,” Bò Trườn nói.

Da Xám vội quay lưng lại với con rắn lục và tiếp tục đi cùng Karr. Đột nhiên nó dừng bước.

“Karr, chính tôi đã phạm tội ác ấy! Tôi đã giết một sinh vật vô hại; vì vậy mà khu rừng bị hủy diệt cũng là do tôi.”

“Anh đang nói gì vậy?” Karr ngắt lời.

“Anh có thể nói với rắn nước Bất Lực rằng đêm nay Da Xám sẽ đi đày!”

“Tôi sẽ không bao giờ nói điều đó với hắn!” Karr phản đối. “Miền Cực Bắc là một vùng đất nguy hiểm đối với nai sừng tấm.”

“Anh nghĩ tôi muốn ở lại đây sau khi đã gây ra một tai họa như thế sao?” Da Xám phản đối.

“Đừng hành động nông nổi! Hãy ngủ một đêm rồi hẵng làm bất cứ chuyện gì!”

“Chính anh đã dạy tôi rằng nai sừng tấm và khu rừng là một,” Da Xám nói rồi từ biệt Karr.

Chú chó một mình trở về nhà; nhưng cuộc trò chuyện với Da Xám khiến nó băn khoăn, và sáng hôm sau nó quay lại rừng tìm bạn. Da Xám không thấy đâu, còn chú chó cũng chẳng tìm lâu. Nó hiểu nai sừng tấm đã nghe theo lời con rắn và tự đi đày.

Trên đường về, Karr khổ sở đến không lời nào tả nổi! Nó không hiểu sao Da Xám lại để con rắn nước khốn kiếp ấy lừa mình bỏ đi. Nó chưa bao giờ nghe chuyện gì ngu ngốc đến thế! “Bất Lực già ấy có quyền năng gì chứ?”

Trong lúc Karr bước đi với đầu óc đầy những ý nghĩ ấy, nó tình cờ thấy người giữ rừng đang chỉ lên một cái cây.

“Ông đang nhìn gì vậy?” người đàn ông đứng bên cạnh hỏi.

“Dịch bệnh đã xuất hiện trong đàn sâu bướm,” người giữ rừng nhận xét.

Karr vô cùng kinh ngạc, nhưng nó còn giận dữ hơn vì con rắn có quyền năng giữ đúng lời hứa. Da Xám sẽ phải đi xa thật lâu, bởi dĩ nhiên con rắn nước ấy sẽ không bao giờ chết.

Ngay giữa lúc đau buồn tột độ, Karr chợt nảy ra một ý nghĩ khiến nó được an ủi đôi chút.

“Rốt cuộc, có lẽ con rắn nước ấy chẳng sống được lâu đến thế!” nó nghĩ. “Chắc chắn hắn không thể mãi nằm dưới rễ cây mà được che chở. Ngay khi hắn diệt sạch lũ sâu bướm, ta biết có kẻ sẽ cắn đứt đầu hắn!”

Quả thật một căn bệnh đã xuất hiện trong đàn sâu bướm. Mùa hè đầu tiên, bệnh không lan rộng lắm. Nó chỉ vừa bùng phát thì đã tới lúc ấu trùng hóa nhộng. Từ những chiếc nhộng ấy chui ra hàng triệu con bướm đêm. Chúng bay quanh cây cối như một trận bão tuyết làm mờ mắt và đẻ vô số trứng. Người ta dự đoán năm sau sự tàn phá còn khủng khiếp hơn.

Sự hủy diệt không chỉ giáng xuống khu rừng mà còn cả đàn sâu bướm. Dịch bệnh nhanh chóng lan từ khu rừng này sang khu rừng khác. Những con sâu mắc bệnh ngừng ăn, bò lên cành cây rồi chết ở đó.

Khi thấy chúng chết, con người vui mừng khôn xiết, nhưng các loài vật trong rừng còn vui mừng hơn nữa.

Ngày qua ngày, chú chó Karr đi lại với niềm hả hê dữ dội, nghĩ đến thời khắc mình có thể liều giết Bất Lực.

Nhưng trong lúc ấy, sâu bướm đã lan khắp hàng dặm rừng thông. Căn bệnh không thể lan tới tất cả chúng chỉ trong một mùa hè. Nhiều con vẫn sống để hóa nhộng rồi thành bướm đêm.

Da Xám nhờ những đàn chim di trú gửi tin cho người bạn Karr rằng nó vẫn sống và mọi việc đều ổn. Nhưng những con chim kín đáo kể với Karr rằng Da Xám đã vài lần bị bọn săn trộm truy đuổi và chỉ thoát được sau muôn vàn khó khăn.

Karr sống trong nỗi đau buồn, nhớ mong và lo lắng không dứt. Thế mà nó vẫn phải đợi thêm trọn hai mùa hè nữa lũ sâu bướm mới bị diệt sạch!

Vừa nghe người giữ rừng nói khu rừng đã thoát hiểm, Karr liền lên đường săn tìm Bất Lực. Nhưng khi vào giữa rừng sâu, nó phát hiện một điều khủng khiếp: nó không còn săn được nữa, không thể chạy, không thể lần theo dấu kẻ thù, và cũng chẳng còn nhìn thấy gì!

Trong những năm dài chờ đợi, tuổi già đã bắt kịp Karr. Nó già đi mà chính mình không hay biết. Nó thậm chí chẳng còn sức giết một con rắn nước. Nó không thể cứu người bạn Da Xám khỏi kẻ thù.

BÁO ỨNG

Một buổi chiều, Akka từ Kebnekaise cùng đàn ngỗng đáp xuống bờ một hồ nước trong rừng.

Mùa xuân đến muộn — như vẫn luôn thế ở những vùng núi. Băng phủ khắp mặt hồ, chỉ trừ một dải hẹp sát bờ. Đàn ngỗng lập tức lao xuống nước tắm và tìm thức ăn. Buổi sáng, Nils Holgersson đã đánh rơi một chiếc guốc gỗ, nên cậu đi xuống chỗ những cây du và bạch dương mọc dọc bờ hồ để tìm thứ gì đó quấn quanh chân.

Cậu bé đi khá xa mới tìm thấy thứ dùng được. Cậu lo lắng nhìn quanh, bởi cậu không thích ở trong rừng.

“Cho ta đồng bằng và hồ nước còn hơn!” cậu nghĩ. “Ở đó, người ta có thể trông thấy những gì mình sắp gặp. Giá đây là một lùm bạch dương nhỏ thì còn được, bởi khi ấy mặt đất gần như trống trải; nhưng thật không hiểu nổi vì sao con người có thể thích những khu rừng hoang vu không đường đi lối lại này. Nếu ta sở hữu vùng đất này, ta sẽ chặt hết mọi cây.”

Cuối cùng, cậu trông thấy một mảnh vỏ cây bạch dương; vừa lúc cậu đang ướm nó vào chân thì nghe tiếng sột soạt phía sau. Cậu quay phắt lại. Một con rắn từ trong bụi rậm lao thẳng về phía cậu!

Con rắn dài và to khác thường, nhưng cậu bé nhanh chóng nhận ra trên mỗi bên má nó có một đốm trắng.

“Ồ, chỉ là rắn nước thôi,” cậu cười; “nó không thể làm hại mình.”

Nhưng ngay giây tiếp theo, con rắn giáng một cú cực mạnh vào ngực, hất cậu ngã xuống. Chỉ một giây sau cậu bé đã bật dậy bỏ chạy, nhưng con rắn bám sát phía sau! Mặt đất lổn nhổn đá và cây bụi; cậu bé không thể chạy thật nhanh, còn con rắn đã áp sát gót.

Bấy giờ, cậu bé nhìn thấy một tảng đá lớn phía trước và bắt đầu trèo lên.

“Mong là con rắn không thể theo mình lên đây!” cậu nghĩ, nhưng vừa lên tới đỉnh tảng đá, cậu đã thấy con rắn đang bò theo.

Ngay gần cậu bé, trên một gờ hẹp ở đỉnh tảng đá, có một hòn đá tròn lớn bằng đầu người. Khi con rắn tới gần hơn, cậu bé chạy ra sau hòn đá và đẩy mạnh. Nó lăn thẳng xuống con rắn, cuốn con vật theo xuống mặt đất rồi đập trúng đầu nó.

“Hòn đá ấy làm việc thật tốt!” cậu bé thở phào nghĩ khi thấy con rắn quằn quại đôi chút rồi nằm im bất động.

“Mình không nghĩ suốt cả hành trình đã có lần nào lâm nguy hơn thế,” cậu nói.

Cậu vừa mới hoàn hồn thì nghe tiếng xào xạc phía trên và thấy một con chim lượn vòng trong không trung rồi đáp xuống đất ngay cạnh con rắn. Con chim có kích thước và dáng dấp giống quạ, nhưng khoác một bộ lông đen bóng tuyệt đẹp.

Cậu bé thận trọng lùi vào một khe đá. Chuyện bị đàn quạ bắt cóc vẫn còn in đậm trong trí nhớ, và cậu chẳng muốn lộ diện khi không cần thiết.

Con chim sải bước tới lui bên xác rắn, dùng mỏ lật nó qua lại. Cuối cùng, nó dang cánh và bắt đầu kêu lên bằng giọng chói tai đến đinh tai nhức óc:

“Chắc chắn con rắn nước nằm chết ở đây là Bất Lực!” Một lần nữa, nó đi dọc theo chiều dài con rắn; rồi đứng lại trầm ngâm suy nghĩ và đưa chân gãi cổ.

“Không thể nào có hai con rắn to đến thế trong khu rừng,” nó ngẫm nghĩ. “Đây chắc chắn phải là Bất Lực!”

Nó vừa định cắm mỏ vào con rắn thì đột ngột dừng lại.

“Đừng có ngốc thế, Bataki!” nó tự nhủ. “Chắc mày không định ăn con rắn trước khi gọi Karr tới chứ! Karr sẽ không tin Bất Lực đã chết nếu không được tận mắt nhìn thấy.”

Cậu bé cố giữ im lặng, nhưng con chim trông nghiêm trang đến tức cười khi sải bước tới lui, tự mình lẩm bẩm, khiến cậu không nhịn được cười.

Con chim nghe thấy, chỉ vỗ cánh một cái đã bay lên tảng đá. Cậu bé nhanh chóng đứng dậy và bước về phía nó.

“Ông có phải là chú quạ mang tên Bataki và là bạn của Akka từ Kebnekaise không?” cậu bé hỏi.

Con chim chăm chú nhìn cậu rồi gật đầu ba lần.

“Hẳn cậu chính là anh chàng tí hon bay khắp nơi cùng đàn ngỗng trời, được họ gọi là Tí Hon phải không?”

“Ồ, ông đoán cũng không sai bao nhiêu,” cậu bé nói.

“Thật may mắn khi ta tình cờ gặp cậu! Có lẽ cậu có thể cho ta biết ai đã giết con rắn nước này chăng?”

“Hòn đá cháu lăn xuống đã giết nó,” cậu bé đáp, rồi kể lại toàn bộ sự việc.

“Đối với một người bé nhỏ như cậu, việc ấy quả thật khéo léo!” chú quạ nói. “Ta có một người bạn ở vùng này sẽ rất vui khi biết con rắn đã bị giết, và để đáp lại, ta muốn giúp cậu một việc.”

“Vậy hãy cho cháu biết vì sao ông mừng khi con rắn nước chết,” cậu bé đáp.

“Đó là một câu chuyện dài,” chú quạ nói; “cậu sẽ không đủ kiên nhẫn để nghe đâu.”

Nhưng cậu bé quả quyết mình đủ kiên nhẫn, thế là chú quạ kể cho cậu nghe toàn bộ câu chuyện về Karr, Da Xám và rắn nước Bất Lực. Khi chú kể xong, cậu bé im lặng ngồi nhìn thẳng phía trước một lúc. Rồi cậu lên tiếng:

“Sau khi nghe câu chuyện này, cháu dường như thích khu rừng hơn. Cháu tự hỏi liệu Rừng Tự Do xưa còn sót lại chút gì không.”

“Phần lớn khu rừng đã bị hủy diệt,” Bataki nói. “Cây cối trông như vừa trải qua một trận hỏa hoạn. Người ta sẽ phải dọn sạch chúng, và phải mất nhiều năm khu rừng mới trở lại như xưa.”

“Con rắn ấy đáng phải chết!” cậu bé tuyên bố. “Nhưng cháu tự hỏi liệu có thể nào nó thông thái đến mức khiến bệnh dịch lan sang sâu bướm không?”

“Có lẽ nó biết sâu bướm thường mắc thứ bệnh ấy,” Bataki gợi ý.

“Vâng, có thể là vậy; nhưng dù sao cháu vẫn phải nói rằng nó là một con rắn vô cùng xảo quyệt.”

Cậu bé ngừng nói vì nhận ra chú quạ không lắng nghe mình mà đang ngồi ngoảnh mặt sang hướng khác. “Nghe kìa!” chú nói. “Karr đang ở gần đây. Nó sẽ vui biết bao khi thấy Bất Lực đã chết!”

Cậu bé quay đầu về phía có âm thanh.

“Ông ấy đang trò chuyện với đàn ngỗng trời,” cậu nói.

“Ồ, chắc chắn nó đã lê mình xuống bờ hồ để nghe tin mới nhất về Da Xám!”

Cả cậu bé lẫn chú quạ đều nhảy xuống đất và vội vã tới bờ hồ. Tất cả đàn ngỗng đã lên khỏi mặt nước, đang trò chuyện với một chú chó già yếu ớt, hom hem đến mức tưởng chừng có thể ngã ra chết bất cứ lúc nào.

“Karr kia rồi,” Bataki nói với cậu bé. “Hãy để nó nghe đàn ngỗng trời nói gì trước; sau đó chúng ta sẽ cho nó biết rắn nước đã chết.”

Chẳng bao lâu, họ nghe thấy Akka trò chuyện với Karr.

“Chuyện xảy ra vào năm ngoái, trong chuyến bay mùa xuân thường lệ của chúng ta,” ngỗng đầu đàn kể. “Một buổi sáng, ta cùng Yksi và Kaksi lên đường, bay qua những cánh rừng biên giới rộng lớn giữa Dalecarlia và Hälsingland. Bên dưới chúng ta chỉ có những rừng thông rậm rạp. Tuyết giữa các hàng cây vẫn còn dày, còn phần lớn suối đều đóng băng.

“Đột nhiên, chúng ta phát hiện ba tên săn trộm dưới rừng! Chúng đi ván trượt tuyết, dắt theo chó săn, đeo dao bên thắt lưng nhưng không mang súng.

“Vì trên mặt tuyết có một lớp vỏ băng cứng, chúng chẳng cần bám theo những lối mòn quanh co trong rừng mà cứ trượt thẳng về phía trước. Rõ ràng chúng biết rất rõ phải đi đâu để tìm thứ mình đang săn.

“Đàn ngỗng trời chúng ta bay tiếp trên cao, từ đó có thể nhìn thấy cả khu rừng phía dưới. Khi trông thấy bọn săn trộm, chúng ta muốn tìm xem con thú bị săn đang ở đâu, bèn lượn lên lượn xuống và nhìn xuyên qua các hàng cây. Rồi trong một bụi rậm dày đặc, chúng ta thấy những vật nom như các tảng đá lớn phủ rêu, nhưng không thể là đá, bởi trên đó không có tuyết.

“Chúng ta đột ngột lao xuống, đáp vào giữa bụi rậm. Ba tảng đá cử động. Đó là ba con nai sừng tấm — một con đực và hai con cái — đang nghỉ trong khu rừng lạnh lẽo.

“Khi chúng ta đáp xuống, nai đực đứng dậy và bước lại gần. Đó là con vật tuyệt đẹp, oai vệ nhất chúng ta từng thấy. Nhận ra chỉ có mấy con ngỗng trời tội nghiệp đánh thức mình, nó lại nằm xuống.

“‘Không đâu, ông bạn già, ông không được ngủ tiếp!’ ta kêu lên. ‘Hãy chạy nhanh hết sức! Trong rừng có bọn săn trộm, và chúng đang tiến thẳng tới bãi trú của nai này.’

“‘Cảm ơn mẹ ngỗng!’ nai sừng tấm nói. Nó dường như sắp ngủ gật ngay trong lúc cất lời. ‘Nhưng hẳn bà phải biết vào thời điểm này trong năm, loài nai sừng tấm chúng tôi được pháp luật bảo vệ. Bọn săn trộm kia có lẽ đang đi tìm cáo thôi,’ nó vừa ngáp vừa nói.

“‘Trong rừng có rất nhiều dấu chân cáo, nhưng bọn săn trộm không tìm chúng. Hãy tin ta, ông bạn già! Chúng biết ông đang nằm đây và đang tới tấn công ông. Chúng không mang súng — chỉ có giáo và dao — bởi vào mùa này chúng không dám nổ súng.’

“Nai đực vẫn bình thản nằm đó, nhưng hai con nai cái có vẻ bất an.

“‘Có lẽ sự tình đúng như đàn ngỗng nói,’ chúng lên tiếng rồi bắt đầu đứng dậy.

“‘Cứ nằm xuống đi!’ nai đực nói. ‘Không có tên săn trộm nào tới đây cả; các cô có thể tin chắc điều đó.’

“Chẳng còn cách nào khác, đàn ngỗng trời chúng ta lại bay lên không trung. Nhưng chúng ta vẫn tiếp tục lượn quanh nơi ấy để xem số phận những con nai sừng tấm sẽ ra sao.

“Chúng ta vừa lên tới độ cao bay thường lệ thì thấy nai đực bước ra khỏi bụi rậm. Nó hít ngửi không khí một lát rồi đi thẳng về phía bọn săn trộm. Trong lúc sải bước, nó giẫm lên những cành cây khô, khiến chúng gãy răng rắc ầm ĩ. Ngay phía trước nó là một đầm lầy cằn cỗi rộng lớn. Nó đi tới đó và đứng giữa đầm, nơi không có gì che khuất nó khỏi tầm mắt.

“Nó đứng đó cho tới khi bọn săn trộm ló ra khỏi rừng. Rồi nó quay người, chạy trốn theo hướng ngược lại. Bọn săn trộm thả chó và tự mình hết tốc lực trượt tuyết đuổi theo.

“Nai sừng tấm ngửa đầu ra sau và chạy nước kiệu nhanh hết sức. Móng nó tung tuyết bay quanh mình như bão. Cả chó lẫn người đều bị bỏ xa phía sau. Rồi nai dừng lại như thể chờ chúng đuổi tới. Khi chúng vừa xuất hiện trong tầm mắt, nó lại phóng đi. Chúng ta hiểu rằng nó cố ý nhử đám thợ săn rời xa nơi hai con nai cái đang ở. Chúng ta thấy nó thật dũng cảm khi tự mình đối mặt hiểm nguy để những người thân yêu được an toàn. Không ai trong chúng ta muốn rời đi trước khi nhìn thấy tất cả chuyện này kết thúc ra sao.

“Cuộc săn đuổi cứ thế kéo dài hai giờ hoặc hơn. Chúng ta kinh ngạc vì bọn săn trộm đã cất công đuổi theo nai sừng tấm khi không mang súng trường. Chúng không thể nào nghĩ mình sẽ khiến một kẻ chạy khỏe như nó kiệt sức!

“Rồi chúng ta nhận ra nai sừng tấm không còn chạy nhanh như trước. Nó thận trọng hơn khi bước trên tuyết, và mỗi lần nhấc chân lên, người ta đều có thể nhìn thấy máu trong dấu chân.

“Chúng ta hiểu vì sao bọn săn trộm lại kiên trì đến thế! Chúng trông chờ tuyết giúp sức. Nai sừng tấm rất nặng, mỗi bước đều lún xuống tận đáy lớp tuyết dồn. Lớp vỏ băng cứng trên mặt tuyết cào xước chân nó. Lớp băng cứa sạch lông và xé từng mảng thịt, khiến mỗi lần đặt chân xuống là một lần nó chịu đau đớn khủng khiếp.

“Bọn săn trộm và đàn chó nhẹ đến mức lớp vỏ băng có thể đỡ được trọng lượng của chúng, nên cứ thế đuổi theo không ngừng. Nai sừng tấm chạy mãi, chạy mãi — bước chân mỗi lúc một chao đảo, ngập ngừng. Nó thở hổn hển. Không chỉ phải chịu đau đớn dữ dội, nó còn kiệt sức vì lội qua những ụ tuyết sâu.

“Cuối cùng, nó mất hết kiên nhẫn. Nó dừng lại để bọn săn trộm và đàn chó đuổi tới, sẵn sàng giao chiến. Trong lúc đứng chờ, nó ngước nhìn lên. Thấy đàn ngỗng trời chúng ta đang lượn vòng phía trên, nó cất tiếng gọi:

“‘Đàn ngỗng trời, hãy ở lại đây cho tới khi mọi chuyện kết thúc! Và lần tới khi bay qua Kolmården, hãy tìm Karr và hỏi xem nó có nghĩ người bạn Da Xám của mình đã gặp một kết cục tốt đẹp không nhé?’”

Khi Akka kể tới đó, chú chó già đứng dậy và bước lại gần bà hơn.

“Da Xám đã sống một cuộc đời tốt đẹp,” nó nói. “Nó hiểu tôi. Nó biết tôi là một chú chó dũng cảm và sẽ vui khi nghe nó có một kết cục tốt đẹp. Giờ hãy kể tôi nghe chuyện ấy đã —”

Nó dựng đuôi, ngửa đầu ra sau như muốn tạo cho mình dáng vẻ can trường và kiêu hãnh — rồi ngã quỵ.

“Karr! Karr!” tiếng một người đàn ông gọi từ trong rừng.

Chú chó già ngoan ngoãn đứng dậy.

“Chủ tôi đang gọi,” nó nói, “và tôi không được chậm trễ thêm nữa. Tôi vừa thấy ông lên đạn cho khẩu súng. Giờ hai chúng tôi sẽ cùng vào rừng lần cuối.

“Cảm ơn bà rất nhiều, ngỗng trời! Tôi đã biết tất cả những gì mình cần để có thể thanh thản ra đi!”