Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils — Chương 23: Phù thủy Gió

Chương 23 / 43 · Bài review Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils

Ở NÄRKE

Thuở xa xưa, ở Närke có một nhân vật mà chẳng nơi nào khác có được: đó là một mụ phù thủy tên Ysätter-Kaisa.

Bà ta được gọi là Kaisa vì có liên quan nhiều đến gió và bão — mà những mụ phù thủy gió bao giờ cũng mang tên ấy. Còn họ Ysätter được thêm vào vì người ta cho rằng bà ta đến từ đầm lầy Ysätter thuộc giáo xứ Asker.

Có vẻ nơi cư ngụ thực sự của bà ta phải ở Asker; nhưng bà cũng thường xuất hiện tại những nơi khác. Khắp Närke, chẳng nơi nào người ta có thể chắc mình sẽ không gặp bà.

Bà không phải một mụ phù thủy u tối, sầu thảm, mà vui vẻ và tinh nghịch; bà yêu thích nhất là những cơn gió dữ. Hễ gió đủ mạnh, bà liền bay ra đồng bằng Närke nhảy múa thỏa thuê. Những ngày lốc xoáy quét qua đồng bằng là lúc Ysätter-Kaisa vui thú biết bao! Bà đứng ngay giữa luồng gió và xoay tròn, mái tóc dài tung lên giữa mây, tà áo dài quét trên mặt đất như một đám mây bụi, còn cả đồng bằng trải rộng dưới chân tựa sàn khiêu vũ.

Mỗi buổi sáng, Ysätter-Kaisa thường ngồi trên một cây thông cao nơi đỉnh vách đá, phóng mắt khắp đồng bằng. Nếu khi ấy là mùa đông và trông thấy nhiều đoàn xe trên đường, bà vội thổi lên một trận bão tuyết, chất những đụn tuyết cao đến mức người ta khó lòng trở về nhà trước tối. Nếu tình cờ là mùa hè với tiết trời thuận lợi cho thu hoạch, Ysätter-Kaisa sẽ ngồi yên cho tới khi những xe cỏ khô đầu tiên chất đầy, rồi bà lao xuống cùng vài trận mưa rào nặng hạt, chấm dứt công việc của ngày hôm ấy.

Quả thật bà hiếm khi nghĩ đến việc gì khác ngoài gây rắc rối. Những người đốt than trên dãy Kil hầu như chẳng dám chợp mắt, bởi hễ thấy một lò than không người trông coi, bà liền lẻn tới, thổi vào đó cho đến khi ngọn lửa bùng lên dữ dội. Nếu những phu xe chở sắt từ Laxå và Svartå còn ở ngoài đường lúc tối muộn, Ysätter-Kaisa sẽ phủ lên đường sá và vùng quê chung quanh những đám mây tối đen, khiến cả người lẫn ngựa lạc lối, đánh những cỗ xe nặng xuống đầm lầy và bãi lún.

Nếu vào một ngày hè, bà vợ vị trưởng giáo hạt ở Glanshammar bày bàn trà trong vườn, rồi một luồng gió chợt tới cuốn tấm khăn bàn lên và hất đổ tách đĩa, mọi người đều biết kẻ nào đã gây rắc rối! Nếu chiếc mũ của thị trưởng Örebro bị gió thổi bay, khiến ông phải chạy khắp quảng trường đuổi theo; nếu quần áo phơi trên dây bay mất rồi lấm đầy bùn đất, hoặc nếu khói tràn vào các căn nhà nhỏ, dường như không sao tìm được đường thoát qua ống khói, thì chẳng khó gì đoán ra kẻ nào đang vui chơi ngoài kia!

Mặc dù Ysätter-Kaisa thích đủ mọi trò trêu ngươi, bà ta không thật sự độc ác. Có thể thấy bà khắc nghiệt nhất với những kẻ hay gây gổ, keo kiệt hoặc xấu xa; còn người lương thiện và trẻ nhỏ đáng thương thì bà lại dang cánh chở che. Người già kể rằng một lần, khi nhà thờ Asker bốc cháy, Ysätter-Kaisa vun vút lao qua không trung, đáp xuống mái nhà thờ giữa lửa và khói rồi ngăn được tai họa.

Dẫu vậy, dân Närke thường khá mệt mỏi vì Ysätter-Kaisa, nhưng bà chẳng bao giờ chán bày trò với họ. Khi ngồi trên rìa một đám mây, nhìn xuống Närke đang yên bình, dễ chịu bên dưới, hẳn bà nghĩ: “Nếu không có ta, dân chúng ở đây sẽ sống quá sung sướng. Họ sẽ trở nên buồn ngủ và tẻ nhạt. Phải có một kẻ như ta đánh thức và giúp họ giữ tinh thần vui vẻ.”

Rồi bà cười vang hoang dại, miệng ríu rít như chim ác là, lao vút đi, vừa nhảy múa vừa xoay tròn từ đầu này đến đầu kia đồng bằng. Khi một người Närke trông thấy bà kéo theo dải bụi dài băng qua đồng bằng, anh ta không thể không mỉm cười. Bà quả thật vừa đáng bực vừa phiền toái, nhưng lại có một tinh thần vui nhộn. Đối với nông dân, gặp Ysätter-Kaisa cũng sảng khoái như đồng bằng được trận cuồng phong quất qua.

Ngày nay, người ta nói Ysätter-Kaisa đã chết và biến mất như mọi phù thủy khác, nhưng chuyện này thật khó tin. Nó chẳng khác nào có người tới bảo rằng từ nay không khí trên đồng bằng sẽ mãi lặng yên, và gió sẽ không bao giờ còn nhảy múa trên đó cùng những luồng cuồng phong và trận mưa xối xả.

Ai tưởng Ysätter-Kaisa đã chết và biến mất thì nên nghe chuyện xảy ra ở Närke vào năm Nils Holgersson đi qua vùng ấy. Sau đó, người ấy hãy tự nói xem mình nghĩ thế nào.

ĐÊM TRƯỚC PHIÊN CHỢ

_Thứ Tư, ngày hai mươi bảy tháng Tư_.

Hôm ấy là ngày trước phiên chợ gia súc lớn ở Örebro; mưa trút như thác và người ta nghĩ: “Thời tiết này hệt như thời Ysätter-Kaisa! Vào những dịp hội chợ, bà thường tinh nghịch hơn ngày thường. Sắp đặt một trận mưa lớn thế này vào đêm trước phiên chợ đúng là trò của bà.”

Càng về sau, mưa càng nặng hạt, và tới gần tối thì từng trận mưa như thác liên tiếp đổ xuống. Đường sá hóa thành những đầm lầy không đáy. Những nông dân dắt gia súc rời nhà từ sáng sớm để đến nơi đúng giờ gặp cảnh khốn đốn. Bò cái và bò đực mệt đến mức hầu như không thể bước đi, nhiều con vật đáng thương quỵ ngay giữa đường như muốn cho biết chúng đã kiệt sức, chẳng thể đi xa hơn. Mọi người sống dọc đường đều phải mở cửa đón những lữ khách đi chợ và cho họ trú ngụ hết sức có thể. Nhà ở, chuồng trại và nhà kho chẳng bao lâu đều chật kín.

Trong khi đó, những ai còn có thể vật lộn tiến tới quán trọ vẫn tiếp tục đi; nhưng khi đến nơi, họ lại ước mình đã dừng ở một căn nhà nhỏ nào đó dọc đường. Mọi máng ăn trong chuồng và mọi ô trong tàu ngựa đều đã có chủ. Họ chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài để ngựa và gia súc đứng ngoài mưa. Ngay cả chủ nhân của chúng cũng khó khăn lắm mới tìm được chỗ có mái che.

Cảnh chen chúc, bùn lầy và nước nhão trong sân chuồng thật khủng khiếp! Vài con vật phải đứng trong những vũng nước, thậm chí không thể nằm xuống. Dĩ nhiên có những người chủ biết nghĩ, đi kiếm rơm cho vật nuôi nằm và phủ chăn lên chúng; nhưng cũng có những kẻ ngồi trong quán trọ uống rượu, đánh bạc, hoàn toàn quên mất những sinh vật không biết nói mà mình lẽ ra phải bảo vệ.

Tối hôm ấy, cậu bé và đàn ngỗng trời tới một cù lao nhỏ có cây cối trên hồ Hjälmar. Cù lao bị ngăn cách với đất liền bởi một dòng nước hẹp và nông; khi nước cạn, người ta có thể bước qua mà chân vẫn khô.

Trên cù lao, mưa cũng dữ dội như mọi nơi khác. Cậu bé không thể ngủ vì nước cứ nhỏ xuống người. Cuối cùng, cậu đứng dậy và bắt đầu đi lại. Cậu tưởng khi di chuyển thì mình ít cảm thấy mưa hơn.

Cậu vừa đi gần hết một vòng cù lao thì nghe tiếng nước bì bõm dưới dòng chảy. Lát sau, cậu trông thấy một con ngựa đơn độc nặng nhọc bước giữa những thân cây. Cả đời cậu chưa từng thấy một con ngựa tàn tạ đến thế! Nó thở dốc, cứng khớp gối và gầy tới mức từng chiếc xương sườn hiện rõ dưới da. Nó không mang dây kéo hay yên, chỉ đeo một bộ dây cương cũ với đoạn dây thừng mục một nửa lủng lẳng bên dưới. Rõ ràng nó chẳng khó khăn gì khi giật đứt dây trốn thoát.

Con ngựa đi thẳng về phía đàn ngỗng trời đang ngủ. Cậu bé sợ nó sẽ giẫm lên chúng.

“Ông đi đâu thế? Nhìn đường dưới chân chứ!” cậu bé hét lên.

“Ồ, cậu đây rồi!” con ngựa kêu lên. “Tôi đã đi hàng dặm để tìm gặp cậu!”

“Ông đã nghe nói về tôi sao?” cậu bé kinh ngạc hỏi.

“Dù già, tôi vẫn còn đôi tai! Dạo này có nhiều kẻ nhắc đến cậu lắm.”

Trong lúc nói, con ngựa cúi đầu để nhìn rõ hơn, và cậu bé nhận thấy nó có chiếc đầu nhỏ, đôi mắt đẹp cùng cái mũi mềm mại, nhạy cảm.

“Hẳn thuở ban đầu nó từng là một con ngựa tốt, dù về già lại rơi vào cảnh khốn cùng,” cậu nghĩ.

“Tôi mong cậu đi cùng và giúp tôi một việc,” con ngựa khẩn khoản.

Cậu bé nghĩ sẽ thật khó xử nếu đi cùng một sinh vật trông thảm hại đến thế, bèn lấy cớ thời tiết xấu để thoái thác.

“Ngồi trên lưng tôi cũng chẳng khiến cậu khổ sở hơn nằm ở đây,” con ngựa nói. “Nhưng có lẽ cậu không dám đi cùng một con ngựa già lang thang như tôi.”

“Dĩ nhiên tôi dám!” cậu bé nói.

“Vậy hãy đánh thức đàn ngỗng để chúng ta sắp xếp nơi ngày mai chúng sẽ đến đón cậu,” con ngựa nói.

Chẳng bao lâu, cậu bé đã ngồi trên lưng con vật. Con ngựa già còm cõi chạy nước kiệu khá hơn nhiều so với điều cậu tưởng. Họ đi một quãng đường dài trong mưa và bóng tối rồi mới dừng gần một quán trọ lớn, nơi mọi thứ trông hết sức thê lương! Vệt bánh xe trên đường sâu đến mức cậu bé sợ mình sẽ chết đuối nếu ngã xuống. Dọc hàng rào bao quanh sân có khoảng ba bốn chục con ngựa và gia súc bị buộc ngoài mưa, chẳng được che chắn; trong sân là những cỗ xe chất đầy thùng, nhốt cừu, bê, lợn và gà.

Con ngựa bước tới bên hàng rào rồi đứng lại. Cậu bé vẫn ngồi trên lưng nó, và nhờ đôi mắt nhìn đêm tinh tường, cậu thấy rõ những con vật đang khổ sở đến mức nào.

“Sao các ông lại phải đứng ngoài mưa thế này?” cậu hỏi.

“Chúng tôi đang trên đường tới phiên chợ ở Örebro, nhưng vì trời mưa nên buộc phải trú lại đây. Đây là một quán trọ; song quá nhiều lữ khách đã tới trước, chuồng trại không còn chỗ cho chúng tôi.”

Cậu bé không đáp, chỉ ngồi yên nhìn quanh. Không nhiều con vật ngủ được, và khắp nơi cậu đều nghe tiếng than phiền, phản đối phẫn nộ. Chúng có thừa lý do để càu nhàu, bởi thời tiết còn tệ hơn lúc đầu ngày. Một luồng gió buốt giá bắt đầu thổi, và trận mưa quất xuống chúng đang chuyển thành tuyết. Chẳng khó gì hiểu con ngựa muốn cậu bé giúp việc gì.

“Cậu có thấy trang trại khang trang ngay đối diện quán trọ không?” con ngựa hỏi.

“Có, tôi thấy,” cậu bé đáp, “và tôi không hiểu sao họ không thử tìm chỗ trú cho tất cả các ông ở đó. Hay nơi ấy cũng đã đầy rồi?”

“Không, ở đó chẳng có người lạ nào,” con ngựa nói. “Những người sống tại trang trại ấy keo kiệt và ích kỷ đến mức có xin họ cho trú cũng vô ích.”

“Nếu vậy, tôi e rằng các ông phải đứng nguyên ở đây thôi.”

“Tôi sinh ra và lớn lên tại trang trại ấy,” con ngựa nói. “Tôi biết nơi đó có một kho thóc lớn và một chuồng bò rộng, với nhiều ô chuồng cùng máng ăn còn bỏ trống. Tôi tự hỏi liệu cậu có thể nghĩ cách nào đó đưa chúng tôi vào hay không.”

“Tôi không nghĩ mình dám…” cậu bé ngập ngừng. Nhưng cậu quá thương những con vật tội nghiệp nên ít ra cũng muốn thử.

Cậu chạy vào sân trại xa lạ và lập tức thấy mọi nhà phụ đều bị khóa, chìa khóa cũng đã được mang đi. Cậu đang đứng đó, bối rối và bất lực, thì sự trợ giúp đến từ một nguồn không ngờ. Một luồng gió khủng khiếp quét tới, hất tung cánh cửa nhà kho ngay trước mặt cậu.

Cậu bé lập tức chạy trở lại chỗ con ngựa.

“Không thể vào kho thóc hay chuồng bò,” cậu nói, “nhưng có một kho cỏ khô lớn, trống không mà họ quên cài then. Tôi có thể dẫn các ông vào đó.”

“Cảm ơn cậu!” con ngựa nói. “Được ngủ thêm một lần trên mảnh đất thân thuộc hẳn sẽ dễ chịu biết bao. Đó là niềm hạnh phúc duy nhất tôi còn có thể mong đợi trong kiếp này.”

Trong khi đó, tại trang trại thịnh vượng đối diện quán trọ, tối hôm ấy cả gia đình thức muộn hơn thường lệ rất nhiều.

Chủ trang trại là một người đàn ông ba mươi lăm tuổi, cao lớn, đường bệ, có gương mặt tuấn tú nhưng u buồn. Ban ngày ông đã ở ngoài mưa và bị ướt như mọi người khác, nên trong bữa tối, ông nhờ bà mẹ già — vẫn là người quán xuyến trang trại — nhóm lửa trong lò sưởi để hong khô quần áo. Bà mẹ nhóm một ngọn lửa leo lét — bởi trong nhà ấy người ta không bao giờ phung phí củi — rồi người chủ vắt áo khoác lên lưng ghế và đặt trước lửa. Một chân gác lên giá đỡ củi, một tay đặt trên đầu gối, ông đứng nhìn đăm đăm vào than hồng. Ông cứ đứng như vậy suốt hai giờ, chỉ thỉnh thoảng mới cử động để ném thêm một khúc củi vào lửa.

Bà chủ dọn đồ ăn tối, sửa soạn giường cho ông rồi mới về phòng mình ngồi xuống. Thi thoảng bà lại bước ra cửa, ngạc nhiên nhìn con trai.

“Không có gì đâu, mẹ. Con chỉ đang suy nghĩ,” ông nói.

Ông đang nghĩ về một chuyện mới xảy ra không lâu trước đó: khi ông đi ngang quán trọ, một lái buôn ngựa hỏi ông có muốn mua một con ngựa không, rồi chỉ cho ông một con già nua, dãi dầu đến mức ông phải hỏi gã lái buôn có coi mình là kẻ ngốc hay không mà định gán cho mình một con vật kiệt quệ như thế.

“Ồ, không!” gã lái buôn ngựa nói. “Tôi chỉ nghĩ rằng vì con ngựa này từng thuộc về ông, có lẽ ông sẽ muốn cho nó một mái nhà dễ chịu lúc tuổi già; nó đang rất cần.”

Bấy giờ ông nhìn con ngựa và nhận ra đó là con vật chính mình từng nuôi lớn và thuần luyện; nhưng ông chẳng vì thế mà nghĩ đến chuyện mua một sinh vật già nua, vô dụng như vậy. Nhất định không! Ông đâu phải kẻ phung phí tiền bạc.

Dẫu vậy, hình ảnh con ngựa đã đánh thức biết bao kỷ niệm — và chính những kỷ niệm ấy khiến ông chưa thể ngủ.

Con ngựa ấy từng là một con vật tuyệt đẹp. Ngay từ đầu, cha đã để ông chăm sóc nó. Ông thuần luyện nó và yêu nó hơn mọi thứ trên đời. Cha thường phàn nàn rằng ông cho nó ăn quá đầy đủ, nên ông nhiều lần phải lén ra ngoài, vụng trộm mang yến mạch cho nó.

Một lần, khi ông đánh bạo thưa với cha chuyện mua một bộ lễ phục bằng dạ mịn hoặc sơn lại cỗ xe, cha ông đứng sững như hóa đá, khiến ông tưởng cụ sắp lên cơn đột quỵ. Ông cố làm cha hiểu rằng khi đánh một con ngựa đẹp, bản thân mình cũng nên có vẻ ngoài tươm tất.

Người cha không đáp, nhưng hai ngày sau, cụ đưa con ngựa tới Örebro bán đi.

Việc cụ làm thật tàn nhẫn. Nhưng rõ ràng cha ông sợ con ngựa này sẽ khiến ông trở nên phù phiếm và hoang phí. Giờ đây, sau ngần ấy năm, ông phải thừa nhận cha mình đã đúng. Một con ngựa như vậy chắc chắn sẽ là sự cám dỗ. Ban đầu, ông đau khổ ghê gớm vì mất nó. Biết bao lần ông xuống Örebro chỉ để đứng ở một góc phố nhìn con ngựa đi qua, hoặc lẻn vào chuồng cho nó một viên đường. Ông từng nghĩ: “Nếu một ngày nào đó được thừa hưởng trang trại, việc đầu tiên mình làm sẽ là mua lại con ngựa.”

Giờ cha đã mất, bản thân ông cũng làm chủ được hai năm, nhưng vẫn chưa hề có hành động nào để mua lại con ngựa. Suốt một thời gian dài ông chẳng nghĩ đến nó, mãi cho đến tối nay.

Thật lạ khi ông có thể quên bẵng con vật hoàn toàn đến thế!

Cha ông là người vô cùng cứng đầu và chuyên quyền. Khi người con trưởng thành, hai cha con cùng làm việc, người cha đã giành quyền chi phối tuyệt đối đối với ông. Ông dần tin rằng mọi điều cha làm đều đúng, và sau khi trở thành chủ trại, ông chỉ cố làm mọi việc hệt như cha mình hẳn sẽ làm.

Dĩ nhiên ông biết người ta bảo cha mình keo kiệt; nhưng thắt chặt hầu bao và không ném tiền đi một cách vô ích là điều tốt. Của cải được trao lại không nên bị phung phí. Sống trên một trang trại không mắc nợ rồi bị gọi là keo kiệt vẫn tốt hơn mang những khoản thế chấp nặng nề như các chủ trại khác.

Dòng suy nghĩ của ông vừa tới đó thì bị một âm thanh lạ kéo trở về. Dường như có một giọng cao the thé, giễu cợt đang lặp lại ý nghĩ của ông: “Thắt chặt hầu bao rồi bị gọi là keo kiệt vẫn tốt hơn mắc nợ như các chủ trại khác.”

Nghe như có kẻ đang chế nhạo sự khôn ngoan của ông, và ông sắp nổi giận thì nhận ra tất cả chỉ là nhầm lẫn. Gió bắt đầu gào thét; ông đã đứng đó, cơn buồn ngủ dần kéo tới, nên nhầm tiếng gió rít trong ống khói với tiếng người.

Ông ngước nhìn chiếc đồng hồ treo tường, đúng lúc nó điểm mười một giờ.

“Đến giờ đi ngủ rồi,” ông tự nhủ. Nhưng rồi ông nhớ mình vẫn chưa đi một vòng sân trại như thói quen mỗi tối, để chắc chắn mọi cánh cửa đều đã đóng và mọi ngọn đèn đều đã tắt. Từ khi trở thành chủ trại, ông chưa bao giờ xao nhãng việc này. Ông mặc áo khoác rồi bước ra giữa cơn bão.

Ông thấy mọi thứ đều đúng như phải thế, chỉ trừ cánh cửa kho cỏ khô trống không đã bị gió thổi tung. Ông bước vào lấy chìa khóa, khóa cửa kho rồi bỏ chìa vào túi áo khoác. Sau đó ông trở vào nhà, cởi áo và treo trước lửa. Ngay lúc này ông vẫn chưa đi ngủ mà bắt đầu đi đi lại lại trên sàn. Cơn bão ngoài kia với gió cắt da và mưa trộn tuyết thật khủng khiếp, còn con ngựa già của ông đang đứng giữa bão mà chẳng có lấy một tấm chăn che chở! Ít ra ông cũng nên cho người bạn cũ một mái che trên đầu, bởi nó đã từ rất xa tới đây.

Tại quán trọ bên kia đường, cậu bé nghe một chiếc đồng hồ treo tường cũ điểm mười một tiếng. Đúng lúc ấy, cậu đang cởi dây buộc các con vật để dẫn chúng sang nhà kho trong sân trại đối diện. Cậu phải mất một lúc mới đánh thức và xếp chúng thành hàng. Khi tất cả đã sẵn sàng, chúng nối thành một đoàn dài tiến vào sân của người nông dân keo kiệt, cậu bé đi đầu dẫn đường. Trong lúc cậu tập hợp đàn vật, chủ trang trại đã đi một vòng quanh sân và khóa kho cỏ khô, nên khi chúng tới nơi, cánh cửa đã đóng kín. Cậu bé đứng đó, thất kinh. Cậu không thể để những sinh vật này đứng ngoài trời! Cậu phải vào nhà tìm chìa khóa.

“Hãy giữ cho mọi người yên lặng ngoài này trong khi tôi vào lấy chìa khóa!” cậu bảo con ngựa già rồi chạy đi.

Trên lối đi ngay trước ngôi nhà, cậu dừng lại để nghĩ cách vào trong. Đang đứng đó, cậu nhận ra hai lữ khách bé nhỏ từ ngoài đường đi tới rồi dừng trước quán trọ.

Cậu bé lập tức thấy đó là hai bé gái và chạy về phía chúng.

“Thôi nào, Britta Maja!” một đứa nói. “Em đừng khóc nữa. Chúng ta đã tới quán trọ rồi. Ở đây chắc chắn họ sẽ cho chúng ta vào.”

Cô bé vừa dứt lời thì cậu bé gọi lớn:

“Không, các em đừng tìm cách vào đó. Hoàn toàn không thể được đâu. Nhưng trang trại đối diện không có khách. Hãy sang đó thay vì vào đây.”

Hai cô bé nghe rõ từng lời, dù không trông thấy người nói với mình. Tuy nhiên, chúng không lấy làm lạ lắm, vì đêm tối đen như mực. Cô bé lớn hơn lập tức đáp:

“Chúng em không muốn vào nơi ấy, bởi những người sống ở đó keo kiệt và độc ác. Chính vì họ mà hai chị em em phải ra đường ăn xin.”

“Có thể là thế,” cậu bé nói, “nhưng dù sao các em cũng nên tới đó. Rồi các em sẽ thấy mọi chuyện sẽ tốt đẹp thôi.”

“Chúng em có thể thử, nhưng không biết họ có chịu cho vào hay không,” hai cô bé nói trong lúc bước tới ngôi nhà và gõ cửa.

Người chủ vẫn đứng bên lửa nghĩ về con ngựa thì nghe tiếng gõ. Ông bước ra cửa xem có chuyện gì, trong bụng vẫn nhất quyết không để mình bị lay động mà đón bất kỳ lữ khách nào. Khi ông đang loay hoay với ổ khóa, một luồng gió lao tới, giật cánh cửa khỏi tay ông và hất tung ra. Muốn đóng lại, ông phải bước ra hiên; đến khi quay vào nhà, hai cô bé đã đứng bên trong.

Đó là hai cô bé ăn xin đáng thương, rách rưới, bẩn thỉu và đói lả — hai đứa trẻ bé xíu còng lưng dưới những chiếc bị ăn xin to bằng chính người chúng.

“Các người là ai mà rình mò ngoài đường vào giờ này?” người chủ cộc cằn hỏi.

Hai đứa trẻ không đáp ngay mà trước hết bỏ những chiếc bị xuống. Sau đó, chúng bước tới gần người đàn ông và đưa hai bàn tay nhỏ xíu ra chào.

“Chúng cháu là Anna và Britta Maja ở Engärd,” cô bé lớn hơn nói, “và chúng cháu muốn xin ngủ nhờ một đêm.”

Ông không nắm lấy những bàn tay chìa ra và vừa định đuổi hai đứa trẻ ăn xin đi thì một ký ức khác hiện lên. Engärd — chẳng phải đó là căn nhà nhỏ nơi một góa phụ nghèo cùng năm đứa con từng sinh sống sao? Người góa phụ nợ cha ông vài trăm krona, và để lấy lại tiền, cha ông đã bán căn nhà của bà. Sau đó, người góa phụ cùng ba đứa con lớn nhất lên Norrland tìm việc làm, còn hai đứa nhỏ nhất trở thành gánh nặng của giáo xứ.

Khi nhớ lại chuyện này, ông trở nên cay nghiệt. Ông biết cha mình từng bị lên án gay gắt vì đã siết lấy khoản tiền mà theo lẽ phải vốn thuộc về cụ.

“Dạo này các người làm gì?” ông gắt gỏng hỏi. “Chẳng phải ban cứu tế đã nhận chăm sóc các người sao? Tại sao lại đi lang thang ăn xin?”

“Không phải lỗi của chúng cháu,” cô bé lớn hơn đáp. “Những người chúng cháu đang sống cùng bắt chúng cháu đi ăn xin.”

“Chà, bị của các người đã đầy,” người nông dân nhận xét, “nên cũng chẳng thể phàn nàn. Giờ tốt hơn hết hãy lấy chút thức ăn mang theo ra mà ăn cho no, bởi ở đây sẽ chẳng có gì cho các người đâu, phụ nữ trong nhà đều đã đi ngủ. Sau đó các người có thể nằm ở góc bên lò sưởi để khỏi chết rét.”

Ông phẩy tay như muốn xua chúng đi, ánh mắt trở nên lạnh lùng. Ông biết ơn vì mình có một người cha cẩn thận giữ gìn gia sản. Nếu không, có lẽ thuở nhỏ ông đã buộc phải chạy rông ăn xin như những đứa trẻ này.

Ông vừa nghĩ hết câu ấy thì giọng the thé, giễu cợt đã nghe một lần trước đó trong buổi tối lập tức lặp lại từng lời.

Ông lắng nghe rồi hiểu ngay chẳng có gì cả — chỉ là tiếng gió gào trong ống khói. Nhưng điều kỳ lạ là khi gió lặp lại những ý nghĩ ấy, chúng bỗng nghe ngu ngốc, tàn nhẫn và sai trái một cách lạ thường!

Trong lúc đó, hai đứa trẻ đã nằm duỗi người cạnh nhau trên sàn. Chúng không yên lặng mà cứ nằm lẩm bẩm.

“Im đi có được không?” ông gầm gừ, bởi tâm trạng cáu kỉnh đến mức ông có thể đánh chúng.

Nhưng tiếng lẩm bẩm vẫn tiếp tục, và ông lại quát chúng im lặng.

“Khi mẹ đi xa,” một giọng trẻ thơ trong trẻo cất lên, “mẹ bắt cháu hứa rằng tối nào cũng đọc lời cầu nguyện trước khi ngủ. Cháu phải làm vậy, và Britta Maja cũng thế. Ngay khi chúng cháu đọc xong ‘Lạy Chúa, Đấng chăm nom trẻ nhỏ…’, chúng cháu sẽ im lặng.”

Người chủ ngồi bất động trong lúc hai đứa trẻ cầu nguyện, rồi ông đứng lên, bắt đầu đi tới đi lui, đi tới đi lui, hai tay không ngừng siết vào nhau như thể vừa gặp một nỗi đau lớn.

“Con ngựa bị bán đi rồi trở nên tàn tạ, hai đứa trẻ này bị biến thành kẻ ăn xin ngoài đường — tất cả đều do cha! Có lẽ suy cho cùng cha đã không làm đúng?” ông nghĩ.

Ông lại ngồi xuống, vùi đầu vào hai bàn tay. Đột nhiên môi ông bắt đầu run rẩy, nước mắt dâng lên rồi bị ông vội lau đi. Những giọt nước mắt mới lại tới, và ông cũng mau chóng gạt chúng đi; nhưng vô ích, vì càng lúc càng có nhiều giọt khác.

Khi mẹ ông bước vào phòng, ông vội xoay ghế, quay lưng lại phía bà. Hẳn bà nhận thấy điều khác thường, bởi cứ lặng lẽ đứng sau ông rất lâu như chờ ông lên tiếng. Bà hiểu đàn ông bao giờ cũng khó nói ra những điều họ cảm nhận sâu sắc nhất. Dĩ nhiên bà phải giúp con.

Từ phòng ngủ, bà đã quan sát mọi chuyện diễn ra trong phòng khách nên không cần đặt câu hỏi. Bà bước thật khẽ tới chỗ hai đứa trẻ đang ngủ, bế chúng lên và mang vào giường mình. Sau đó bà trở lại bên con trai.

“Lars,” bà nói, như thể không trông thấy ông đang khóc, “tốt hơn hết con hãy để mẹ giữ hai đứa trẻ này lại.”

“Sao cơ, mẹ?” ông nghẹn lời, cố kìm tiếng nức nở.

“Mẹ đã đau khổ nhiều năm — từ khi cha con lấy căn nhà khỏi tay mẹ chúng, và con cũng vậy.”

“Vâng, nhưng…”

“Mẹ muốn giữ chúng lại đây và nuôi dạy nên người; chúng ngoan ngoãn thế này, không đáng phải đi ăn xin.”

Ông không thể nói, bởi giờ nước mắt đã vượt khỏi tầm kiểm soát; nhưng ông nắm bàn tay khô héo của người mẹ già và nhẹ nhàng vỗ về.

Rồi ông bật dậy như vừa bị điều gì làm cho kinh hãi.

“Cha sẽ nói gì về chuyện này?”

“Cha con đã có thời của ông ấy để cai quản,” người mẹ đáp lại. “Giờ là thời của con. Khi cha con còn sống, chúng ta phải nghe lời ông ấy. Giờ đã đến lúc cho thấy con là người thế nào.”

Người con kinh ngạc đến mức ngừng khóc.

“Nhưng con vừa cho thấy mình là người thế nào rồi!” ông đáp.

“Không, con chưa làm thế,” người mẹ phản đối. “Con chỉ cố giống như ông ấy. Cha con đã trải qua những thời khắc khó khăn khiến ông sợ cảnh nghèo túng. Ông tin mình phải nghĩ cho bản thân trước tiên. Nhưng con chưa từng gặp gian khó nào đủ để khiến lòng mình chai sạn. Con có nhiều hơn mức cần thiết, và nếu con không nghĩ đến người khác thì mới là trái với bản tính.”

Khi hai cô bé bước vào nhà, cậu bé lẻn theo phía sau rồi ẩn mình trong một góc tối. Cậu ở đó chưa lâu đã thoáng thấy chìa khóa nhà kho mà người nông dân nhét vào túi áo khoác.

“Khi chủ nhà đuổi hai đứa trẻ đi, mình sẽ lấy chìa khóa rồi chạy,” cậu nghĩ.

Nhưng hai đứa trẻ không bị đuổi, còn cậu bé cứ thu mình trong góc, không biết tiếp theo phải làm gì.

Người mẹ trò chuyện rất lâu với con trai; trong lúc bà nói, ông dần ngừng khóc. Gương mặt ông từ từ trở nên hiền hòa; trông ông như một người khác. Suốt lúc ấy, ông vẫn vuốt ve bàn tay già nua, gầy guộc.

“Giờ chúng ta nên đi ngủ thôi,” bà lão nói khi thấy ông đã bình tâm.

“Không,” ông nói và đột ngột đứng lên, “con chưa thể đi ngủ. Ngoài kia có một kẻ lạ mặt mà đêm nay con phải cho trú!”

Ông không nói gì thêm, chỉ vội mặc áo khoác, thắp đèn lồng rồi bước ra ngoài. Gió và giá lạnh ngoài kia vẫn như cũ, nhưng khi bước ra hiên, ông bắt đầu khe khẽ hát. Ông tự hỏi con ngựa có nhận ra mình không và liệu nó có vui khi được trở về chuồng cũ.

Khi băng qua sân nhà, ông nghe tiếng một cánh cửa đóng sầm.

“Cửa nhà kho lại bị gió thổi tung rồi,” ông nghĩ và bước tới đóng lại.

Một lát sau, ông đứng bên nhà kho, vừa định đóng cửa thì nghe tiếng sột soạt bên trong.

Cậu bé chờ đúng thời cơ rồi chạy thẳng đến nhà kho, nơi cậu để đàn vật lại; nhưng chúng không còn đứng ngoài mưa: từ lâu một cơn gió mạnh đã hất tung cánh cửa, giúp chúng có được mái che trên đầu. Tiếng lộp cộp mà người chủ nghe thấy là do cậu bé chạy vào kho.

Nhờ ánh đèn lồng, người đàn ông có thể nhìn vào trong kho. Cả sàn phủ đầy gia súc đang ngủ. Không thấy một bóng người; đàn vật không bị buộc mà nằm đây đó trên rơm.

Ông nổi giận vì sự xâm nhập ấy, bắt đầu gào thét ầm ĩ để đánh thức những con vật đang ngủ và đuổi chúng ra. Nhưng chúng cứ nằm yên, không chịu để mình bị quấy rầy. Con duy nhất đứng dậy là một con ngựa già đang chậm rãi bước về phía ông.

Đột nhiên người đàn ông im bặt. Ông nhận ra con vật qua dáng đi. Ông nâng cao đèn lồng, con ngựa bước tới đặt đầu lên vai ông. Người chủ vỗ về, vuốt ve nó.

“Ngựa già của ta, ngựa già của ta!” ông nói. “Người ta đã làm gì mày thế này? Phải, bạn yêu quý, ta sẽ mua mày về. Mày sẽ không bao giờ phải rời khỏi nơi này nữa. Mày muốn làm gì cũng được, ngựa của ta! Những con vật mày đưa tới có thể ở lại đây, nhưng mày sẽ theo ta vào chuồng. Giờ ta có thể cho mày ăn bao nhiêu yến mạch tùy thích mà không phải lén lút nữa. Mày cũng chưa hề kiệt quệ đâu! Con ngựa đẹp nhất trên gò nhà thờ — mày sẽ lại trở thành như thế! Ngoan nào! Ngoan nào!”