Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils — Chương 43: Cuộc chia tay với đàn ngỗng trời
Chương 43 / 43 · Bài review Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils
Thứ Tư, ngày chín tháng Mười một.
Cậu bé thức dậy trước bình minh và đi xuống bờ biển. Trước khi mặt trời mọc, cậu đứng một mình trên bãi phía đông làng chài Smyge. Cậu đã vào chuồng cố đánh thức ngỗng đực Mårten, nhưng ngỗng đực trắng lớn không muốn rời nhà. Chú chẳng nói lời nào, chỉ rúc mỏ dưới cánh rồi ngủ tiếp.
Xem ra thời tiết hứa hẹn sẽ gần như tuyệt đẹp, chẳng kém ngày xuân đàn ngỗng trời tới Skåne. Mặt nước hầu như không gợn, không khí lặng; cậu bé nghĩ đàn ngỗng sẽ có chuyến vượt biển thuận lợi. Chính cậu vẫn còn hơi ngơ ngẩn—lúc nghĩ mình là thần lùn, lúc lại là con người. Thấy một bờ tường đá ven đường, cậu sợ không dám đi tiếp trước khi chắc chắn chẳng thú hoang hay chim kền kền nào nấp sau đó. Nhưng ngay sau đó, cậu tự cười và vui mừng vì mình to lớn, mạnh mẽ, không cần sợ gì nữa.
Tới bờ biển, dù đã to lớn, cậu vẫn đứng ngay sát mép bãi để đàn ngỗng trời nhìn thấy.
Đó là một ngày bận rộn của chim di cư. Tiếng gọi của chim liên tục vang trong không trung. Cậu bé mỉm cười khi nghĩ chẳng ai ngoài mình hiểu chúng nói gì với nhau. Chẳng bao lâu, ngỗng trời bay tới, hết đàn lớn này theo sau đàn lớn khác.
“Miễn sao không phải đàn ngỗng của mình bỏ đi mà không từ biệt,” cậu nghĩ. Cậu rất muốn kể mọi chuyện đã kết thúc ra sao và cho họ thấy mình không còn là thần lùn mà đã thành người.
Một đàn bay tới nhanh hơn, quàng quạc to hơn những đàn khác; có điều gì đó mách cậu đây phải là chính đàn ấy, nhưng giờ cậu không còn chắc như ngày hôm trước.
Đàn giảm tốc, bay vòng lên xuống dọc bờ biển.
Cậu bé biết đúng là họ, nhưng không hiểu sao đàn ngỗng không bay thẳng xuống. Họ không thể không thấy cậu đứng đó. Cậu thử cất tiếng gọi để khiến họ hạ xuống, nhưng lạ thay! Lưỡi cậu không nghe lời. Cậu không thể phát đúng âm! Cậu nghe tiếng Akka gọi nhưng không hiểu bà nói gì.
“Chuyện này nghĩa là sao? Ngỗng trời đã đổi ngôn ngữ ư?” cậu tự hỏi.
Cậu vẫy mũ về phía họ, vừa chạy dọc bờ vừa gọi.
“Tôi ở đây, các bạn ở đâu?”
Nhưng việc ấy dường như chỉ làm đàn ngỗng sợ. Họ bay lên cao, ra xa ngoài biển. Cuối cùng cậu hiểu. Họ không biết cậu là con người, không nhận ra cậu. Cậu không thể gọi họ tới vì con người không nói được ngôn ngữ loài chim. Cậu không thể nói cũng chẳng thể hiểu tiếng họ.
Dù rất vui vì thoát khỏi phép yêu, cậu bé vẫn thấy thật đau lòng khi vì thế phải chia lìa bạn bè cũ.
Cậu ngồi xuống cát, vùi mặt trong hai tay. Còn nhìn theo họ thì có ích gì?
Chẳng bao lâu, cậu nghe tiếng cánh xào xạc. Akka, bà mẹ già, thấy khó lòng bay khỏi Tí Hon nên quay lại; giờ cậu bé ngồi hoàn toàn bất động, bà liều bay tới gần. Đột nhiên có gì đó hẳn đã mách bà cậu là ai, vì bà đáp ngay bên cạnh.
Nils reo vui, ôm Akka già vào lòng. Những con ngỗng trời khác chen quanh, lấy mỏ vuốt ve cậu. Họ quàng quạc, ríu rít, chúc cậu đủ điều may mắn; cậu cũng trò chuyện, cảm ơn họ vì chuyến đi kỳ diệu mình được đặc ân thực hiện bên họ.
Đột nhiên, đàn ngỗng trời im lặng lạ thường, rời khỏi cậu như thể muốn nói:
“Than ôi! Cậu ấy là con người. Cậu ấy không hiểu chúng ta; chúng ta không hiểu cậu ấy!”
Rồi cậu bé đứng dậy, tới bên Akka, vuốt ve, âu yếm bà. Cậu cũng làm vậy với Yksi và Kaksi, Kolme và Neljä, Viisi và Kuusi—những con ngỗng già đã đồng hành cùng cậu ngay từ đầu.
Sau đó cậu đi xa hơn lên bãi. Cậu biết rất rõ nỗi buồn của loài chim không kéo dài; cậu muốn chia tay khi họ vẫn còn buồn vì mất cậu.
Khi băng qua đồng cỏ ven bờ, cậu quay lại nhìn nhiều đàn chim bay trên biển. Tất cả đều kêu những tiếng gọi mời mọc—chỉ một đàn ngỗng bay trong im lặng chừng nào mắt cậu còn theo được. Đội hình chữ V hoàn hảo, tốc độ tốt, những nhịp cánh mạnh mẽ, vững vàng.
Cậu bé khao khát những người bạn đang rời xa đến mức gần như ước mình lại là Tí Hon, có thể cùng đàn ngỗng trời chu du qua đất liền và biển cả.
BẢNG HƯỚNG DẪN PHÁT ÂM
Chữ _e_ cuối được phát âm trong Skåne, Sirle, Gripe, v.v.
Chữ _å_ trong Skåne và Småland được phát âm như _o_ trong từ tiếng Anh ore.
Chữ _j_ giống âm _y_ trong tiếng Anh. Nuolja, Oviksfjällen, Sjangeli, Jarro, v.v. nên được đọc như thể viết thế này: Nuolya, Oviksfyellen, Syang [một âm tiết] elee, Yarro, v.v.
Chữ _g_, khi đứng trước _e, i, y, ä, ö_, cũng giống âm _y_. Ví dụ, Göta được đọc là Yöta.
Khi _g_ đứng trước _a, o, u_ hoặc _å_, nó được phát âm cứng như trong từ tiếng Anh go.
Chữ _k_ trong Norrköping, Linköping, Kivik (đọc là Cheeveek), v.v. giống âm _ch_ trong từ tiếng Anh cheer.
Chữ _k_ được phát âm cứng khi đứng trước _a, o, u_ hoặc _å_. Ví dụ: Kaksi, Kolmi, v.v.
Chữ _ä_ được phát âm như _a_ trong từ tiếng Anh fare. Ví dụ: Färs.
Tiếng Anh không có âm nào tương ứng với chữ _ö_ của tiếng Thụy Điển. Nó giống âm _eu_ trong từ tiếng Pháp jeu.
Gripe được đọc là Greep-e.
Trong Sirle, âm tiết đầu có cùng âm với _sir_ trong từ tiếng Anh sirup.
Những tên cô Lagerlöf đặt cho các con vật đều mang ý nghĩa miêu tả.
Cáo Smirre nghĩa là con cáo xảo quyệt.
Sóc Sirle nghĩa là con sóc duyên dáng hoặc nhanh nhẹn.
Rái cá Gripe nghĩa là con rái cá hay chộp, hay quắp.
Mons là tên âu yếm dành cho mèo, giống như cách gọi tommy hoặc pussy trong tiếng Anh. Mèo nhà Monsie tương đương với “mèo nhà Tommy”.
Mårten gåskarl (ngỗng đực Mårten) là tên âu yếm dành cho một con ngỗng đực nhà, cũng như tiếng Anh dùng Dickie-bird để gọi một chú chim cưng.
Fru là từ tiếng Thụy Điển tương đương với Mrs. Danh xưng này thường chỉ dùng cho phụ nữ thuộc tầng lớp danh giá. Tác giả đã dùng “fru” theo nghĩa ấy.
Goa-Nisse là một vị vua thần lùn, tương ứng với Puck hoặc Robin Goodfellow trong tiếng Anh.
VELMA SWANSTON HOWARD.