Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 38

Chương 38 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây

Hành lý của ông đã thu xếp xong. Việc ấy hết sức đơn giản, bởi tư trang chỉ gồm đồ vệ sinh cá nhân, một bộ quần áo để thay và tập đầu bộ Sự suy tàn của phương Tây của Spengler. Ông đang ngồi trong sảnh khách sạn, chờ đến giờ ra ga đáp tàu đi Winnipeg. Ông chú ý khi một quý bà bước vào, lộng lẫy hơn hẳn những người đàn bà thường thấy trong quán trọ khiêm nhường này: một ấn bản quý bà đề tặng, chạm trổ thủ công, bìa da dê ép vân, lót sa tanh; một quý bà với hàng mi chuốt mascara, mái tóc uốn vĩnh viễn và chiếc váy mỏng như tơ nhện. Nàng đủng đỉnh đi qua sảnh rồi tựa vào một cây cột giả cẩm thạch, tay múa may chiếc tẩu thuốc lá dài và mắt nhìn chằm chằm Doremus. Chẳng rõ vì sao, nàng dường như thấy ông thật thú vị.

Hay nàng là một loại gián điệp Corpo nào đó?

Nàng uể oải tiến về phía ông, và ông nhận ra đó là Lorinda Pike.

Trong lúc ông vẫn còn há hốc thở, nàng khúc khích: “Ồ không, anh yêu, trong nghệ thuật em đâu có quá câu nệ hiện thực đến mức nhập vai này cho thật trọn vẹn! Chẳng qua đây là cách cải trang dễ lấy lòng lính Corpo gác biên giới nhất—nếu anh chịu công nhận rằng đây quả thực là cải trang!”

Ông hôn nàng cuồng nhiệt đến nỗi làm cả khách sạn đứng đắn ấy phải kinh động.

Qua các nhân viên Tân Địa hạ, nàng biết ông sắp dấn thân vào một chuyến đi mà nguy cơ bị quất roi đến chết là rất thật. Nàng đến chỉ để từ biệt và mang cho ông mớ tin tức có thể là cuối cùng ông được nghe.

Buck đang ở trại tập trung—người ta sợ và canh giữ anh nghiêm ngặt hơn cả Doremus trước kia, còn Linda thì không thể mua chuộc để cứu anh ra. Julian, Karl và John Pollikop vẫn còn sống, vẫn bị giam cầm. Cha Perefixe đang điều hành chi bộ Tân Địa hạ tại Fort Beulah, nhưng hơi bối rối vì ông muốn tán thành cuộc chiến với Mexico, một quốc gia ông căm ghét vì cách họ đối xử với các linh mục Công giáo. Xem ra Lorinda và ông đã đấu khẩu đẫm máu suốt cả một buổi tối về sự cai trị của Công giáo tại Mỹ Latinh. Đúng như phẩm tính muôn thuở của phái Tự do, Lorinda xoay xở để nói về Cha Perefixe vừa bằng lòng ghê tởm đầy chính nghĩa, vừa bằng tình thương mến sâu sắc nhất. Có tin Emma và David sống khá mãn nguyện ở Worcester, dù nghe rì rầm rằng vợ Philip không lấy gì làm biết ơn khi nhận những lời chỉ bảo nấu nướng của mẹ chồng. Sissy đang trở thành một người cổ động khéo léo, nhưng vẫn nhớ mình sinh ra để làm kiến trúc sư, nên vẫn vẽ sơ đồ những ngôi nhà mà một ngày kia nàng và Julian sẽ trang hoàng. Nàng sung sướng kết hợp những đòn công kích toàn thể chủ nghĩa tư bản với một quan niệm hoàn toàn tư bản về những tuần trăng mật dài cả năm mà nàng và Julian sẽ hưởng.

Ít gây ngạc nhiên hơn mọi tin trên là tin Francis Tasbrough, đẹp đẽ vô cùng trong cảnh ăn năn, đã được thả khỏi nhà tù Corpo—nơi ông ta bị tống vào vì biển thủ quá tay—và lại làm ủy viên khu vực, rất được trọng vọng; còn người quản gia của ông ta giờ là bà Candy, người có những bản báo cáo hằng ngày về các bố trí tuyệt mật của ông ta, được viết ngay ngắn nhất và đúng ngữ pháp một cách nghiêm khắc nhất trong số mọi tài liệu gửi về tổng hành dinh Tân Địa hạ tại Vermont.

Rồi Lorinda ngước nhìn ông khi ông đứng trong khoang tiền sảnh của chuyến tàu đi miền Tây, vừa khóc vừa nói: “Trông anh lại khỏe mạnh quá! Anh có hạnh phúc không? Ôi, hãy hạnh phúc nhé!”

Ngay cả lúc này, ông cũng không thể nhìn người đàn bà cấp tiến đã gạt bỏ nữ tính ấy khóc... Nàng quay đi, chạy dọc sân ga quá nhanh. Toàn bộ vẻ ung dung thanh lịch pha chút bỡn cợt đầy tự tin đã biến mất. Từ khoang tiền sảnh nghiêng người nhìn ra, ông thấy nàng dừng bên cổng, rụt rè giơ tay như muốn vẫy hàng cửa sổ tàu dài dằng dặc, vô danh, rồi bước đi run rẩy qua cổng. Và ông nhận ra nàng thậm chí không có địa chỉ của ông; rằng từ nay chẳng một ai yêu thương ông còn có được một địa chỉ ổn định nào để tìm ông nữa.

Ông William Barton Dobbs, một người chào hàng máy móc thu hoạch, vóc nhỏ, lưng thẳng, có bộ râu xám ngắn và giọng Vermont, bước xuống giường trong một khách sạn thuộc vùng Minnesota có quá nhiều nông dân Mỹ gốc Bavaria và hậu duệ Yankee, lại quá ít người Scandinavia “cấp tiến”, đến nỗi nơi ấy vẫn trung thành với Tổng thống Haik.

Ông xuống ăn sáng, vui vẻ xoa hai tay. Ông dùng bưởi và cháo yến mạch—nhưng không đường: đường đang bị cấm vận. Ông cúi xuống ngắm nghía mình rồi thở dài: “Mình càng ngày càng phệ, làm việc ngoài trời nhiều thế này mà lại lúc nào cũng đói; phải bớt ăn mới được”; rồi ông ăn trứng rán, thịt muối, bánh mì nướng, cà phê làm từ quả sồi và mứt làm từ cà rốt—quân của Coon đã chặn hết hạt cà phê và cam.

Trong lúc ấy, ông đọc tờ Minneapolis Daily Corporate. Báo loan tin một Đại Thắng lợi tại Mexico—ông nhận thấy là ở chính nơi đã diễn ra ba Đại Thắng lợi trong hai tuần vừa qua. Ngoài ra, một “cuộc nổi loạn đáng hổ thẹn” đã bị dẹp tan tại Andalusia, Alabama; có tin Tướng Göring sắp sang làm thượng khách của Tổng thống Haik; và “một nguồn tin đáng tin cậy” cho hay kẻ tiếm xưng Trowbridge đã bị ám sát, bắt cóc và buộc phải từ chức.

“Sáng nay chẳng có tin gì,” ông William Barton Dobbs tiếc nuối.

Khi ông ra khỏi khách sạn, một tiểu đội Minute Men đang diễu qua. Họ là những trai quê mới được tuyển đi phục vụ tại Mexico; trông họ sợ sệt, non nớt và chân tay lóng ngóng như một đàn thỏ tan tác. Họ cố cất giọng the thé hát bài ca chiến tranh mới nhất mà cũng cổ xưa nhất, theo điệu khúc ca thời Nội chiến “Khi Johnny lại hành quân trở về”:

Khi Johnny từ Xứ Bọn Mễ trở về, Hoan hô, hoan hô, Tai cậu đầy cát sa mạc ê chề, Hoan hô, hoan hô, Nhưng tiếng Bọn Mễ cậu nói ngọt ghê, Súng mang về, gái señorita cũng kè kè, Và khi Johnny hành quân trở về, ta sẽ cùng say túy lúy!

Giọng họ run rẩy. Họ lấm lét nhìn đám đông dọc lối đi, hoặc cau có cúi xuống đôi chân lê bước; còn đám đông, những người trước kia hẳn đã gào “Haik muôn năm!”, giờ lại cười khẩy: “Lũ khố rách các người chẳng bao giờ tới nổi Xứ Bọn Mễ đâu!” và thậm chí, từ nơi an toàn trên cửa sổ tầng hai, còn có tiếng: “Hoan hô, hoan hô Trowbridge!”

“Khốn khổ cho lũ quỷ ấy!” ông William Barton Dobbs nghĩ khi nhìn những chú lính đồ chơi khiếp đảm... nhưng chẳng đồ chơi đến mức có thể tránh cho họ khỏi chết.

Tuy vậy, sự thật là trong đám đông ấy, ông có thể thấy nhiều người đã được những lý lẽ của ông và của hơn sáu mươi nhân viên bí mật Tân Địa hạ dưới quyền ông biến đổi, từ chỗ sợ hãi các Minute Men sang chế giễu chúng.

Trên chiếc Ford mui trần—mỗi lần khởi động xe, ông đều nhớ mình đã “qua mặt Sissy” thế nào để có được hẳn một chiếc Ford riêng—Doremus lái khỏi làng, tiến vào vùng thảo nguyên viền những ruộng gốc rạ. Từ những hàng rào dây thép gai, tiếng hót say sưa, óng ả của chim chiền chiện đồng cỏ chào đón ông. Dẫu nhớ những ngọn đồi hùng hậu phía sau Fort Beulah, ông vẫn phấn chấn trước bầu trời mênh mông, trước thảo nguyên rộng mở hứa hẹn rằng ông có thể đi mãi không cùng, trước vẻ vui tươi của những vũng đầm nhỏ thấp thoáng qua đường diềm liễu và dương bông; và có một lần, một đàn vịt trời đầu mùa vút bay đầy khát vọng trên cao.

Ông huýt sáo vang lừng khi chiếc xe nảy xóc chạy dọc con đường phân ranh các lô đất.

Ông tới một căn nhà nông trại màu vàng, trơ trọi—đáng lẽ nó phải có hàng hiên, nhưng bên dưới bức tường mặt tiền chỉ có một khoảng trống không sơn, đánh dấu nơi hàng hiên lẽ ra sẽ nằm. Với người nông dân đang tra dầu cho chiếc máy kéo giữa sân trại đầy lợn con, ông vui vẻ líu lo: “Tên tôi là William Barton Dobbs—đại diện Công ty Máy gặt Liên hợp Des Moines và Nông cụ Tân tiến.”

Người nông dân lao tới bắt tay, hổn hển: “Trời đất, thật là một vinh dự lớn, ông J—”

“Dobbs!”

“Phải rồi. Xin thứ lỗi.”

Trong một phòng ngủ trên lầu của căn nhà nông trại, bảy người đàn ông đang chờ, đậu trên ghế, trên bàn và mép giường, hoặc ngồi xổm ngay dưới sàn. Vài người nom có vẻ là nông dân; vài người là những chủ hiệu chẳng mấy tham vọng. Khi Doremus tất tả bước vào, họ đứng dậy cúi chào.

“Chào buổi sáng, các ông. Có chút tin mới,” ông nói. “Coon đã đánh bật các Corpo khỏi Yankton và Sioux Falls. Giờ tôi muốn biết các ông đã chuẩn bị báo cáo chưa?”

Với người nhân viên gặp khó khăn trong việc thuyết phục các chủ trại vì họ sợ phải trả đồng lương tử tế cho tá điền, Doremus cung cấp để sử dụng một luận điểm—vừa được trình bày bài bản vừa đầy nhiệt huyết như nhận xét của nhân viên bảo hiểm nhân thọ về cái chết do tai nạn xe hơi—rằng một người nghèo thì tất cả đều nghèo... Luận điểm ấy chẳng mới mẻ gì cho lắm, cũng chẳng hợp lý cho lắm, nhưng đã là một củ cà rốt hữu dụng với nhiều con la mang hình người.

Cho người nhân viên hoạt động giữa những di dân Mỹ gốc Phần Lan, vốn cứ khăng khăng rằng Trowbridge là một tên Bolshevik và cũng tồi tệ chẳng kém người Nga, Doremus có một bản trích dẫn in rônêô từ tờ Izvestia ở Moskva, lên án Trowbridge là một “lang băm phát xít xã hội”. Cho những nông dân gốc Bavaria ở phía bên kia, những người vẫn còn lờ mờ thân Quốc xã, Doremus có một tờ báo của dân Đức lưu vong xuất bản tại Praha, chứng minh—dù không có số liệu thống kê hay bất kỳ đoạn trích đáng kể nào từ tài liệu chính thức—rằng theo thỏa thuận với Hitler, nếu Tổng thống Haik tiếp tục cầm quyền, ông ta sẽ gửi trả về cho quân đội Đức tất cả người Mỹ gốc Đức chỉ cần có một ông bà nội ngoại sinh ra tại Tổ quốc.

“Ta có kết thúc bằng một bài thánh ca vui tươi và lời chúc phúc không, ông Dobbs?” người nhân viên trẻ nhất, xấc xược nhất—và cũng thành công nhất—hỏi.

“Tôi không phản đối! Có khi nó không đến nỗi không thích hợp như anh nghĩ đâu. Nhưng xét đến luân lý và kinh tế phóng túng của đa số các đồng chí, có lẽ tốt hơn hết là tôi kết thúc bằng một câu chuyện mới về Haik và Mae West mà tôi nghe được hôm kia... Cầu Chúa ban phước cho tất cả! Tạm biệt!”

Trên đường lái xe đến cuộc họp kế tiếp, Doremus băn khoăn: “Mình không tin câu chuyện từ Praha về Haik và Hitler là thật. Chắc mình sẽ thôi không dùng nữa. Ồ, tôi biết—tôi biết, ông Dobbs ạ; như ông nói, dù có nói sự thật với một tên Quốc xã, nó vẫn sẽ là lời dối trá. Nhưng dù sao mình cũng sẽ thôi không dùng nữa... Lorinda và mình, cứ tưởng có thể thoát khỏi chủ nghĩa Thanh giáo!... Những đám mây tích kia còn đẹp hơn một chiếc thuyền buồm lớn. Giá họ dời được núi Terror, Fort Beulah, Lorinda và Buck tới đây, nơi này sẽ thành Thiên đường... Ôi, lạy Chúa, mình không muốn, nhưng có lẽ giờ phải ra lệnh tấn công đồn Minute Men ở Osakis thôi; họ đã sẵn sàng rồi... Không biết phát đạn ghém hôm qua CÓ THẬT là nhằm vào mình không?... Thật tình mình chẳng thích chút nào kiểu tóc New York mà Lorinda làm!”

Đêm ấy ông ngủ trong một căn nhà nhỏ bên bờ hồ đáy cát, bao quanh bởi những cây bạch dương sáng màu. Ông bà chủ nhà, những người sùng bái Trowbridge, nhất quyết nhường phòng riêng của họ cho ông, với tấm chăn chắp vá cùng bộ bình và chậu rửa vẽ tay.

Ông nằm mơ—như ông vẫn mơ, mỗi tuần một hai lần—rằng mình đã trở lại phòng giam ở Trianon. Ông lại cảm thấy mùi hôi thối, chiếc giường tầng chật chội đầy u cục, nỗi sợ không bao giờ nguôi rằng mình có thể bị lôi ra ngoài và quất roi.

Ông nghe tiếng kèn thần diệu. Một người lính mở cửa, mời tất cả tù nhân ra ngoài. Ở đó, giữa sân tứ giác, Tướng Emmanuel Coon—trong trí tưởng tượng đang mơ của Doremus, ông trông giống Sherman như đúc—nói với họ:

“Thưa các ông, quân đội Khối Thịnh vượng chung đã chiến thắng! Haik đã bị bắt! Các ông được tự do!”

Thế là họ hành quân ra ngoài, những người tù, những con người còng lưng, đầy sẹo, tàn phế, những người mắt vô hồn, miệng chảy dãi, từng bước vào nơi này với thân hình thẳng đứng và lòng dạ can trường: Doremus, Dan Wilgus, Buck, Julian, ông Falck, Henry Veeder, Karl Pascal, John Pollikop, Truman Webb. Họ lê ra khỏi cổng sân tứ giác, đi giữa hai hàng lính đứng cứng đờ trong tư thế bồng súng chào, nhưng vẫn khóc khi nhìn những người tù tàn tạ bò qua.

Và phía sau những người lính, Doremus nhìn thấy phụ nữ và trẻ em. Họ đang đợi ông—những vòng tay nhân hậu của Lorinda, Emma, Sissy và Mary, với David đứng sau họ, bám lấy tay cha mình, và Cha Perefixe. Foolish cũng ở đó, đuôi vểnh lên như một chùm lông kiêu hãnh; từ đám đông nhòe đi trong giấc mộng, bà Candy bước ra, chìa cho ông một chiếc bánh dừa.

Rồi tất cả họ bỏ chạy, khiếp sợ Shad Ledue—

Ông chủ nhà đang vỗ vai Doremus, lẩm bẩm: “Vừa có điện thoại. Một đội truy bắt Corpo đang lùng ông.”

Thế là Doremus lên đường, được những con chiền chiện đồng cỏ cất tiếng chào, và ông đi suốt ngày, đến một căn lều bí mật trong Rừng Phương Bắc, nơi những người đàn ông trầm lặng đang chờ tin tự do.

Và Doremus vẫn đi mãi trong ánh bình minh đỏ thắm, bởi một Doremus Jessup không bao giờ có thể chết.