Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 37
Chương 37 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây
Râu ông đã mọc lại—ông và bộ râu ấy đã là bạn bè nhiều năm, và dạo gần đây ông vẫn nhớ nó. Tóc và ria mép ông cũng đã trở lại màu xám đứng đắn, thay cho thứ thuốc nhuộm tím nom giả tạo đến thế dưới ánh đèn điện. Ông không còn xúc động mãnh liệt khi trông thấy một miếng sườn cừu hay một bánh xà phòng nữa. Nhưng ông vẫn chưa hết niềm vui cùng chút kinh ngạc vì được tự do nói tùy thích, được nhấn mạnh đến đâu tùy ý, lại còn nói giữa chốn công khai.
Ông ngồi cùng hai người bạn thân thiết nhất của mình ở Montreal, hai đồng sự quản lý trong Ban Tuyên truyền và Xuất bản của Tân Địa hạ (Walt Trowbridge, Tổng Chủ tịch); hai người bạn ấy là ngài Perley Beecroft, người có lẽ đang là Tổng thống Hoa Kỳ, và Joe Elphrey, một chàng trai có mã ngoài, từng lấy tên “ông Cailey” và là một đặc vụ xuất sắc của Đảng Cộng sản Mỹ, cho đến khi bị đá khỏi cái đoàn thể gần như chẳng ai nhận thấy ấy vì đã lập một “mặt trận thống nhất” với những người Xã hội chủ nghĩa, Dân chủ, thậm chí cả các ca viên nhà thờ, trong lúc tổ chức một cuộc nổi dậy chống Corpo tại Texas.
Bên những cốc bia trong quán cà phê này, Beecroft và Elphrey lại tranh luận như thường lệ: Elphrey khăng khăng rằng “giải pháp” duy nhất cho cảnh khốn quẫn của nước Mỹ là một nền độc tài do những đại diện năng động hơn của quần chúng lao động nắm giữ, nghiêm khắc và, nếu cần, dùng bạo lực, nhưng (đây là tà thuyết mới của anh) không chịu sự chi phối của Moscow. Beecroft thì thao thao quả quyết rằng “tất cả những gì chúng ta cần” là quay lại đúng những đảng phái chính trị, việc vận động phiếu bầu rầm rộ và lối làm luật bằng diễn thuyết của Quốc hội trong những ngày mãn nguyện dưới thời William B. McKinley.
Còn Doremus thì ngả người ra sau, chẳng mấy bận tâm hai người kia nói nhảm những gì, miễn là họ được phép nói mà không phải phát hiện đám bồi bàn là mật thám M.M.; và ông hài lòng khi biết rằng, bất kể chuyện gì xảy ra, Trowbridge cùng các nhà lãnh đạo chân chính khác sẽ không bao giờ quay lại thỏa mãn với một chính quyền của lợi nhuận, do lợi nhuận và vì lợi nhuận. Ông khoan khoái nghĩ đến chuyện mới hôm qua thôi (ông nghe được từ thư ký của chủ tịch), Walt Trowbridge đã khước từ Wilson J. Shale, ông vua dầu mỏ đường bệ, người dường như thành tâm đến xin hiến gia sản cùng kinh nghiệm điều hành của mình cho Trowbridge và đại nghiệp.
“Không. Xin lỗi, Will. Nhưng chúng tôi không thể dùng ông. Bất kể chuyện gì xảy ra—ngay cả nếu Haik tiến sang đây và tàn sát hết chúng tôi cùng tất cả những người Canada đang cưu mang chúng tôi—ông và cái giống cướp biển tinh khôn của ông cũng hết thời rồi. Bất kể chuyện gì xảy ra, bất kể người ta quyết định ra sao về những chi tiết của một hệ thống chính quyền mới, dù ta gọi nó là ‘Khối Thịnh vượng Chung Hợp tác’, ‘Chủ nghĩa Xã hội Nhà nước’, ‘Chủ nghĩa Cộng sản’ hay ‘Nền Dân chủ Truyền thống Phục hưng’, nhất thiết phải có một tinh thần mới—rằng chính quyền không phải trò chơi dành cho vài vận động viên thông minh, cương quyết như ông, Will, mà là một sự cộng tác của toàn dân, trong đó Nhà nước phải sở hữu mọi nguồn tài nguyên lớn đến mức ảnh hưởng tới toàn thể thành viên của Nhà nước; và trong đó tội ác tồi tệ nhất sẽ không phải giết người hay bắt cóc, mà là lợi dụng Nhà nước—trong đó kẻ bán thuốc giả hay kẻ nói dối trong Quốc hội sẽ bị trừng phạt nặng hơn rất nhiều so với anh chàng vác rìu bổ kẻ đã cướp mất người yêu mình... Hử? Những ông trùm như ông rồi sẽ ra sao, Will? Có Chúa mới biết! Lũ khủng long đã ra sao?”
Bởi thế, Doremus rất mãn nguyện với công việc của mình.
Thế nhưng trong đời sống giao du, ông gần như vẫn cô độc chẳng kém khi ở trong xà lim tại Trianon; ông khao khát gần như đến phát cuồng cái niềm vui chẳng lấy gì làm quá đáng là được ở bên Lorinda, Buck, Emma, Sissy, Steve Perefixe.
Ngoài Emma ra, không ai trong số họ có thể sang Canada với ông, mà bà thì không chịu đi. Những lá thư của bà hé lộ nỗi sợ hãi trước chốn hoang vu chẳng mang chút phong vị Worcester nào của Montreal. Bà viết rằng Philip và bà hy vọng họ có thể khiến các Corpo tha thứ cho Doremus! Thế là ông chỉ còn biết giao du với những người cùng tị nạn khỏi chủ nghĩa Corpo, và nếm trải một cuộc sống vốn đã quen thuộc, quá đỗi quen thuộc, đối với những kẻ lưu vong chính trị kể từ khi cuộc nổi dậy đầu tiên ở Ai Cập khiến quân phiến loạn phải lén lút trốn sang Assyria.
Không phải do tính tự cao tự đại đặc biệt khó coi nào mà khi tới Canada, Doremus đã tưởng ai nấy đều sẽ xúc động trước câu chuyện ông bị giam cầm, tra tấn và vượt thoát. Nhưng ông nhận ra rằng mười nghìn người kể chuyện thống khổ đầy nhiệt huyết đã đến trước mình, và người Canada, dù là những chủ nhà ân cần, hào phóng đến đâu, cũng đã ngán đến tận cổ việc phải khơi thêm lòng thương cảm mới. Họ cảm thấy hạn ngạch những người tuẫn nạn mình phải tiếp nhận đã hoàn toàn đầy đủ; còn đối với những kẻ lưu vong đến nơi không một xu dính túi—mà đó là đa số—người Canada đã mệt mỏi thấy rõ vì phải để gia đình mình chịu thiếu thốn hầu những người tị nạn xa lạ; ngay cả niềm hân hoan trước sự hiện diện của các tác gia, chính khách và nhà khoa học Mỹ lừng danh, họ cũng không thể duy trì mãi khi những nhân vật ấy đã trở nên nhan nhản như muỗi.
Thật đáng ngờ liệu một buổi diễn thuyết chung của Herbert Hoover và Tướng Pershing về Những Điều Kiện Đáng Phàn Nàn tại Mỹ có thu hút nổi bốn mươi người hay không. Các cựu thống đốc và thẩm phán lấy làm mừng khi kiếm được việc rửa bát, còn các cựu tổng thư ký tòa soạn thì đang cuốc đất trồng củ cải. Và theo các bản tin, Mexico, London cùng nước Pháp cũng bắt đầu chán ngán chẳng khác gì nhau, dù vẫn đầy vẻ áy náy.
Thế là Doremus, sống thanh đạm bằng khoản lương hai mươi đô-la một tuần của Tân Địa hạ, chẳng gặp gỡ ai ngoài những người lưu vong như mình, tại chính những phòng khách của đám trốn chạy chính trị bất hạnh mà người Nga Trắng, người Tây Ban Nha Đỏ, người Bulgaria Xanh cùng mọi giống quân nổi dậy đủ màu khác vẫn lui tới ở Paris. Hai mươi người chen chúc trong một phòng khách rộng mười hai bộ vuông mỗi chiều, rất giống các xà lim trại tập trung về diện tích, số người cư ngụ và mùi cuối buổi, từ tám giờ tối đến nửa đêm; họ bù cho bữa tối thiếu thốn bằng cà phê, bánh vòng và những miếng bánh mì kẹp còm cõi, rồi nói không ngừng nghỉ về các Corpo. Họ kể như “sự thật có thực” những giai thoại về Tổng thống Haik vốn trước kia từng được gán cho Hitler, Stalin và Mussolini—chẳng hạn chuyện người đàn ông kinh hoàng khi nhận ra mình đã cứu Haik khỏi chết đuối và van ông ta đừng nói cho ai biết.
Trong các quán cà phê, họ chộp lấy những tờ báo từ quê nhà gửi sang. Những người đã bị khoét mất một con mắt vì tự do nheo con mắt còn lại đã nhòa lệ để xem ai đoạt Giải Câu lạc bộ Bridge Đại lộ Missouri.
Họ can đảm và lãng mạn, bi thảm và lỗi lạc; thế mà Doremus bắt đầu thấy hơi ngán tất cả bọn họ, cũng như cái thực tế tàn nhẫn cuối cùng rằng chẳng một người bình thường nào chịu đựng được bi kịch của kẻ khác quá lâu, và rồi một ngày nào đó, những giọt lệ cảm thông sẽ biến thành những cú đá bực bội.
Ông xúc động khi, trong một nhà nguyện liên giáo phái của người Mỹ được dựng lên vội vã, ông nghe một kẻ đói khát tiều tụy, từng là một vị giám mục oai vệ, đọc từ bục giảng bằng gỗ thông:
“Bên những dòng sông Babylon, chúng ta đã ngồi xuống đó, phải, chúng ta đã khóc khi nhớ đến Zion. Chúng ta treo đàn hạc mình lên những cây liễu ở giữa nơi ấy... Làm sao chúng ta hát được bài ca của Chúa nơi đất khách quê người? Hỡi Jerusalem, nếu ta quên ngươi, nguyện tay phải ta quên mất tài khéo léo. Nếu ta không nhớ đến ngươi, nguyện lưỡi ta dính vào vòm miệng; nếu ta không đặt Jerusalem cao hơn niềm vui lớn nhất của mình.”
Tại Canada này, người Mỹ có Bức tường Than khóc của riêng họ và hằng ngày vẫn kêu lên với niềm hy vọng giả tạo mà quả cảm: “Năm sau tại Jerusalem!”
Đôi khi Doremus bực bội trước những tiếng than van đòi hỏi không dứt của những người tị nạn đã mất tất cả—con cái, vợ chồng, tài sản và lòng tự trọng—bực vì họ tin chỉ mình họ từng chứng kiến những cảnh kinh hoàng như thế; đôi khi ông dành hết những giờ rảnh rỗi để quyên góp một đô-la cùng chút tình thân ái mỏi mệt cho những linh hồn đau ốm ấy; và đôi khi ông thấy mọi phương diện của nước Mỹ đều là những mảnh vỡ của Thiên đường—những hình ảnh thoáng qua được ghép đôi kỳ quặc như Meade tại Gettysburg và những khóm dạ yên thảo xanh ken dày trong khu vườn đã mất của Emma, ánh thép mới tinh trên đường ray nhìn từ một chuyến tàu vào buổi sáng tháng Tư và Trung tâm Rockefeller. Nhưng bất kể tâm trạng ra sao, ông vẫn từ chối ngồi xuống với cây đàn hạc bên bất cứ dòng nước ngoại quốc nào để tận hưởng vẻ quan trọng của một kẻ ăn xin lừng danh.
Ông sẽ trở về Mỹ và liều thêm một lần vào tù. Trong lúc chờ đợi, suốt ngày ông gọn ghẽ gửi đi những gói thuốc nổ văn chương từ các văn phòng của Tân Địa hạ, đồng thời điều hành hữu hiệu một trăm người viết địa chỉ lên phong bì, vốn trước kia là giáo sư và thợ làm bánh ngọt.
Ông đã xin cấp trên của mình, Perley Beecroft, giao cho công việc tích cực và nguy hiểm hơn, làm mật vụ tại Mỹ—ở miền Tây, nơi không ai biết ông. Nhưng tổng hành dinh đã chịu tổn thất khá nhiều vì những điệp viên nghiệp dư hay ba hoa với người lạ, hoặc không thể tin cậy là sẽ giữ kín miệng trong lúc bị đánh roi đến chết. Mọi chuyện đã thay đổi kể từ năm 1929. Tân Địa hạ tin rằng vinh dự cao nhất một người có thể giành được không phải là có một triệu đô-la, mà là được phép liều mạng vì sự thật, không lương cũng chẳng lời khen.
Doremus biết các thủ lĩnh không cho rằng ông còn đủ trẻ hoặc đủ khỏe, nhưng cũng biết họ đang xem xét ông. Hai lần ông được vinh dự hội kiến với Trowbridge về những chuyện chẳng có gì đặc biệt—hẳn đó phải là một vinh dự, dù thật khó mà nhớ được như vậy, bởi Trowbridge là người giản dị và thân thiện nhất trong toàn bộ guồng máy gián điệp đầy điềm gở ấy. Doremus vui vẻ hy vọng có cơ hội giúp cho những viên chức Corpo khốn khổ, làm việc quá sức và đầy lo âu càng thêm khốn đốn hơn thường lệ, giờ đây khi cuộc chiến với Mexico và các cuộc nổi dậy chống chủ nghĩa Corpo đang leng keng sánh bước bên nhau.
Vào tháng Bảy năm 1939, khi Doremus đã ở Montreal hơn năm tháng một chút, và đúng một năm sau ngày ông bị kết án vào trại tập trung, những tờ báo Mỹ được gửi tới tổng hành dinh Tân Địa hạ đầy rẫy sự phẫn nộ đối với Mexico.
Các toán người Mexico đã vượt biên tập kích vào Hoa Kỳ—lần nào cũng vậy, thật lạ lùng, đúng lúc quân ta đang ở ngoài sa mạc, hành quân luyện tập hoặc có lẽ đi nhặt vỏ sò. Chúng thiêu rụi một thị trấn ở Texas—may thay, chiều hôm ấy tất cả phụ nữ và trẻ em đều đã đi dã ngoại cùng lớp học Chủ nhật. Một Nhà Ái quốc Mexico (trước đây ông ta cũng từng hành nghề Nhà Ái quốc Ethiopia, Nhà Ái quốc Trung Hoa và Nhà Ái quốc Haiti) vượt biên tới lều của một chuẩn tướng M.M., rồi thú nhận rằng tuy vô cùng đau đớn khi phải mách lẻo về quê hương yêu dấu của mình, lương tâm buộc ông ta tiết lộ rằng cấp trên người Mexico đang định cho máy bay sang ném bom Laredo, San Antonio, Bisbee, và có lẽ cả Tacoma cùng Bangor, Maine.
Chuyện này khiến các báo Corpo kích động ghê gớm, và tại New York cùng Chicago, họ đăng ảnh tên phản quốc đầy lương tâm ấy chỉ nửa giờ sau khi hắn xuất hiện ở lều viên chuẩn tướng... nơi đúng vào lúc đó, tình cờ có bốn mươi sáu phóng viên đang ngồi la liệt trên những cây xương rồng gần đấy.
Nước Mỹ vùng dậy bảo vệ những phiến đá lò sưởi nhà mình—kể cả mọi phiến đá lò sưởi trên Đại lộ Park, New York—chống lại nước Mexico gian dối và phản trắc, với đạo quân kinh hoàng gồm 67.000 người và ba mươi chín chiếc máy bay quân sự. Phụ nữ ở Cedar Rapids trốn dưới gầm giường; các quý ông cao tuổi tại hạt Cattaraugus, New York, giấu tiền vào hốc thân cây du; còn vợ một người nuôi gà cách Estelline, South Dakota, bảy dặm về phía đông bắc—một phụ nữ nổi tiếng khắp vùng là nấu ăn ngon và có óc quan sát được rèn luyện—đã nhìn thấy rõ ràng một hàng chín mươi hai binh sĩ Mexico đi ngang qua căn nhà gỗ của bà, bắt đầu từ 3 giờ 17 phút sáng ngày 27 tháng Bảy năm 1939.
Để đối phó với mối đe dọa này, nước Mỹ, quốc gia duy nhất chưa từng thua một cuộc chiến và chưa từng phát động một cuộc chiến phi nghĩa, đã nhất loạt vùng lên như một người, theo lời tờ Chicago Daily Evening Corporate. Người ta dự định xâm lược Mexico ngay khi thời tiết đủ mát, hoặc thậm chí sớm hơn nếu thu xếp được thiết bị làm lạnh và điều hòa không khí. Trong một tháng, năm triệu người bị gọi nhập ngũ cho cuộc xâm lược và bắt đầu huấn luyện.
Joe Cailey và Doremus đã bàn luận về lời tuyên chiến với Mexico như thế—có lẽ hơi quá khinh suất. Nếu họ thấy toàn bộ cuộc thánh chiến ấy là phi lý, thì để biện hộ cho họ, có thể nói rằng họ luôn coi mọi cuộc chiến tranh đều phi lý: ở sự trơ trẽn của những lời dối trá từ cả hai phía về nguyên nhân chiến tranh; ở cảnh những người đàn ông trưởng thành mải mê với các trò tiêu khiển trẻ con là diện quần áo lòe loẹt và diễu hành theo thứ âm nhạc nguyên thủy. Doremus và Cailey nói, điều duy nhất không phi lý ở chiến tranh là bên cạnh vẻ nhí nhố, nó quả thực giết chết hàng triệu người. Mười nghìn đứa trẻ chết đói dường như là cái giá quá đắt cho một chiếc thắt lưng Sam Browne, ngay cả dành cho viên trung úy trẻ tuổi đáng yêu và cảm động nhất.
Tuy vậy, cả Doremus lẫn Cailey đều mau chóng rút lại lời quả quyết rằng mọi cuộc chiến đều phi lý và đáng ghê tởm; cả hai đều dành ngoại lệ cho những cuộc chiến của nhân dân chống lại bạo quyền, khi niềm mong đợi khoái trá của nước Mỹ về việc cướp đoạt Mexico đột ngột bị chặn đứng bởi một cuộc nổi dậy của dân chúng chống lại toàn bộ chế độ Corpo.
Khu vực nổi dậy, nói đại thể, được giới hạn bởi Sault Ste. Marie, Detroit, Cincinnati, Wichita, San Francisco và Seattle, mặc dù trong vùng ấy nhiều khu vực rộng lớn vẫn trung thành với Tổng thống Haik, còn bên ngoài nó, những khu vực rộng lớn khác lại gia nhập quân nổi dậy. Đó là phần nước Mỹ xưa nay vẫn “cấp tiến” nhất—một từ mơ hồ, có lẽ mang nghĩa “phê phán nạn cướp bóc nhiều nhất.” Đó là miền đất của phái Dân túy, Liên đoàn Phi đảng phái, Đảng Nông dân–Lao động và gia tộc La Follette—một gia đình đông đảo đến mức tự nó đã hợp thành một đảng phái đáng kể.
Doremus hân hoan rằng, bất kể chuyện gì xảy ra, cuộc nổi dậy đã chứng minh niềm tin vào nước Mỹ và hy vọng dành cho nước Mỹ vẫn chưa chết.
Trước khi Buzz Windrip đắc cử, phần lớn những người nổi dậy này từng tin vào mười lăm điểm của hắn; tin rằng khi hắn nói muốn trả lại cho nhân dân quyền lực đã bị bọn ngân hàng và giới kỹ nghệ đánh cắp, thì ít nhiều hắn thực sự muốn trả lại cho nhân dân quyền lực của bọn ngân hàng và giới kỹ nghệ. Khi tháng này qua tháng khác họ nhận ra mình lại bị lừa bằng một bộ bài đánh dấu, họ phẫn nộ; nhưng họ còn bận rộn với ruộng ngô, xưởng cưa, trại bò sữa và nhà máy ô tô, và phải đến khi có cái trò ngu xuẩn láo xược là đòi họ hành quân xuống sa mạc, giúp cướp bóc một nước bạn, họ mới bị chọc cho bừng tỉnh và phát hiện rằng trong lúc mình ngủ, họ đã bị bắt cóc bởi một băng tội phạm nhỏ được vũ trang bằng những lý tưởng cao cả, những lời đường mật và cả đống súng máy.
Cuộc nổi dậy sâu rộng đến mức Tổng Giám mục Công giáo California và vị cựu Thống đốc cấp tiến của Minnesota thấy mình đứng trong cùng một phe.
Thoạt đầu, đó là một cuộc bùng nổ khá khôi hài—khôi hài như những nhà cách mạng Massachusetts năm 1776, huấn luyện tồi, không quân phục và tư tưởng hỗn độn. Tổng thống kiêm Đại tướng Haik công khai nhạo báng họ là “một đám phản loạn ô hợp lố bịch gồm toàn lũ lang thang lười lao động.” Và lúc đầu, họ chẳng làm được gì hơn ngoài việc nhiếc móc như một đàn quạ, ném gạch vào các toán M.M. và cảnh sát, phá hoại những đoàn tàu chở quân, cùng hủy hoại tài sản của những công dân tư nhân lương thiện có sở hữu các tờ báo Corpo.
Cú chấn động xảy đến vào tháng Tám, khi Tướng Emmanuel Coon, Tổng Tham mưu trưởng quân chính quy, bay từ Washington tới St. Paul, nắm quyền chỉ huy Fort Snelling, và tuyên bố ủng hộ Walt Trowbridge làm Tổng thống Lâm thời Hoa Kỳ, giữ chức cho đến khi có một cuộc bầu cử tổng thống mới, phổ thông và không bị kiểm soát.
Trowbridge tuyên bố chấp thuận—với điều kiện ông sẽ không ra tranh cử chức Tổng thống chính thức.
Không phải tất cả quân chính quy đều gia nhập lực lượng cách mạng của Coon. (Trong giới Tự do có hai huyền thoại bền chắc: rằng Giáo hội Công giáo ít khắc kỷ hơn và bao giờ cũng có óc thẩm mỹ hơn các giáo hội Tin Lành; và rằng quân nhân chuyên nghiệp căm ghét chiến tranh hơn các nghị sĩ quốc hội và các cô gái già.) Nhưng cũng có đủ quân chính quy đã chán ngấy những đòi hỏi quá quắt của lũ ủy viên Corpo tham lam, nhỏ dãi và ngả theo Tướng Coon, đến nỗi ngay sau khi đạo quân gồm quân chính quy và nông dân Minnesota được huấn luyện cấp tốc của ông thắng trận Mankato, các lực lượng tại Leavenworth đã nắm quyền kiểm soát Kansas City và dự định tiến quân tới St. Louis cùng Omaha; trong khi tại New York, Governor's Island và Fort Wadsworth đứng nhìn, giữ thế trung lập, lúc những đội du kích chẳng có vẻ quân nhân chút nào và phần lớn là người Do Thái chiếm các tuyến tàu điện ngầm, nhà máy điện và ga đầu mối đường sắt.
Nhưng cuộc nổi dậy khựng lại ở đó, bởi tại cái nước Mỹ từng nồng nhiệt tự ca ngợi nền “giáo dục miễn phí phổ cập rộng rãi” của mình, giáo dục—dù là rộng rãi, phổ cập, miễn phí hay bất cứ thứ gì khác—lại ít ỏi đến mức hầu hết dân chúng không biết mình muốn gì—thật ra, họ biết quá ít thứ để mà muốn bất cứ thứ gì.
Phòng học thì có thừa; chỉ thiếu giáo viên biết chữ, học sinh ham học, và những hội đồng giáo dục coi nghề dạy học là một nghề đáng được trọng vọng và trả công ngang với nghề bán bảo hiểm, ướp xác hay hầu bàn. Phần lớn người Mỹ đã học ở trường rằng Thượng đế đã thay người Do Thái bằng người Mỹ làm dân tộc được chọn, và lần này Ngài làm việc ấy giỏi hơn nhiều, vì thế chúng ta là quốc gia giàu nhất, tử tế nhất và thông minh nhất trên đời; rằng suy thoái chỉ là những cơn đau đầu thoáng qua, và công đoàn không được bận tâm đến bất cứ điều gì ngoài lương cao hơn, giờ làm ngắn hơn, và trên hết, không được liên kết về chính trị mà dựng lên một cuộc đấu tranh giai cấp xấu xí; rằng, mặc cho người ngoại quốc tìm cách biến chính trị thành một điều bí hiểm giả tạo, chính trị thực ra đơn giản đến mức bất cứ luật sư làng nào hay bất cứ viên thư ký nào trong văn phòng cảnh sát trưởng một đô thị lớn cũng đã được đào tạo hoàn toàn đầy đủ để làm chính trị; và rằng nếu John D. Rockefeller hoặc Henry Ford quyết chí, ông ta đã có thể trở thành chính khách, nhà soạn nhạc, nhà vật lý hoặc thi sĩ kiệt xuất nhất nước.
Ngay cả hai năm rưỡi dưới chế độ chuyên chế vẫn chưa dạy được phần lớn cử tri biết khiêm nhường, cũng chẳng dạy họ được bao nhiêu điều ngoài chuyện bị bắt quá thường xuyên thì thật khó chịu.
Thế là, sau đợt bùng nổ bạo loạn hồ hởi đầu tiên, cuộc nổi dậy chậm lại. Cả các Corpo lẫn nhiều đối thủ của họ đều không hiểu biết đủ để xây dựng một học thuyết tự trị rõ ràng, vững chắc, hoặc quyết tâm không gì lay chuyển nổi mà dấn thân vào công việc nhọc nhằn là rèn luyện chính mình cho xứng với tự do.... Ngay cả lúc này, sau Windrip, phần lớn những hậu duệ vô tư của Benjamin Franklin hay pha trò vẫn chưa hiểu rằng câu “Hãy cho tôi tự do, hoặc cho tôi cái chết” của Patrick Henry còn có ý nghĩa gì hơn một tiếng hô trong trường trung học hay một khẩu hiệu quảng cáo thuốc lá.
Những người theo Trowbridge và Tướng Coon—họ bắt đầu tự gọi mình là “Khối Thịnh vượng chung Hợp tác Hoa Kỳ”—không để mất bất cứ vùng lãnh thổ nào đã chiếm được; họ giữ vững những vùng ấy, đánh đuổi mọi tay sai Corpo, và thỉnh thoảng lại mở rộng thêm một hai hạt. Nhưng nhìn chung, nền cai trị của họ cũng bất ổn chẳng kém gì nền cai trị của các Corpo, hệt như chính trường Ireland.
Vì thế, nhiệm vụ của Walt Trowbridge, hồi tháng Tám tưởng chừng đã hoàn tất, thì trước tháng Mười lại dường như mới chỉ bắt đầu. Doremus Jessup được gọi vào văn phòng Trowbridge để nghe vị chủ tịch bảo:
“Tôi đoán đã đến lúc chúng ta cần những điệp viên Tân Địa hạ ở các bang có đầu óc chứ không chỉ có gan. Hãy đến trình diện Tướng Barnes để nhận nhiệm vụ vận động người theo ta ở Minnesota. Chúc may mắn, người anh em Jessup! Cố thuyết phục những nhà hùng biện vẫn còn khăng khăng ủng hộ Kỷ luật và dùi cui rằng họ chẳng kiên cường cho lắm, mà chỉ tức cười thôi!”
Và tất cả những gì Doremus nghĩ là: “Trowbridge cũng là một người khá dễ mến. Mừng là mình được làm việc với ông ấy,” khi ông lên đường nhận nhiệm vụ mới—làm một điệp viên kiêm anh hùng chuyên nghiệp mà thậm chí chẳng có lấy mấy câu mật khẩu ngộ nghĩnh để khiến trò chơi thêm phần lãng mạn.