Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 36

Chương 36 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây

Lệnh phong tỏa tin tức ở trại Trianon đã được dỡ bỏ; bà Candy đã đến thăm Doremus—mang theo nguyên cả một chiếc bánh ga-tô dừa nhiều tầng—và ông đã nghe tin Mary qua đời, Emma và Sissy ra đi, Windrip và Sarason suy vong. Nhưng chẳng chuyện nào có vẻ thực chút nào—không thực bằng một nửa và, ngoại trừ sự thật rằng ông sẽ không bao giờ còn gặp Mary nữa, cũng không quan trọng bằng một nửa số chấy rận và chuột bọ ngày càng sinh sôi trong xà lim của họ.

Trong thời gian bị phong tỏa tin tức, họ đã đón Giáng sinh bằng cách cười, chẳng lấy gì làm vui vẻ, trước cây thông Noel mà Karl Pascal chế ra từ một cành vân sam và giấy thiếc lấy ở các bao thuốc lá. Họ khe khẽ ngân nga “Stille Nacht” trong bóng tối, còn Doremus nghĩ đến tất cả những đồng chí của họ đang bị giam trong các nhà tù chính trị ở Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Ấn Độ.

Nhưng Karl, xem ra, chỉ coi người ta là đồng chí nếu họ đã được cứu rỗi, đã chịu phép rửa thành người Cộng sản. Và vì bị ép sống chen chúc cùng nhau trong một xà lim, tính cay nghiệt ngày càng tăng cùng lòng sùng tín chính thống của Karl đã trở thành một trong những nỗi khổ đáng căm ghét nhất đối với Doremus; một thảm kịch phải quy tội cho các Corpo, hoặc cho nguyên lý độc tài nói chung, cũng gay gắt như những cái chết của Mary, Dan Wilgus và Henry Veeder. Dưới sự bức hại, Karl không mất đi một mảy may lòng can đảm hay tài khéo léo trong việc đánh lừa lính gác M.M., nhưng ngày qua ngày, anh đều đặn mất hết óc hài hước, lòng kiên nhẫn, sự khoan dung, tính dễ gần, cùng mọi phẩm chất khác khiến cuộc sống còn có thể chịu đựng được đối với những con người bị nhồi nhét trong một xà lim. Chủ nghĩa Cộng sản, cái đề tài ám ảnh muôn thuở của anh, trước kia đôi lúc còn thú vị, nay biến thành một thứ cuồng tín tôn giáo khiến Doremus căm ghét chẳng kém gì những cuồng tín xưa của Tòa án Dị giáo hay của phái Tin Lành Chính thống; cái thái độ tàn sát con người để cứu rỗi linh hồn họ mà gia đình Jessup đã thoát khỏi suốt ba thế hệ vừa qua.

Không sao trốn khỏi lòng nhiệt thành ngày một tăng của Karl. Ban đêm anh cứ thao thao thêm cả giờ sau khi cả năm người kia đã gầm gừ: “Ôi, im đi! Tôi muốn ngủ! Anh sắp biến tôi thành Corpo mất thôi!”

Đôi khi, trong công cuộc truyền đạo, anh cũng chinh phục được họ. Sau khi các bạn tù đã nguyền rủa lính gác trại đủ lâu, Karl sẽ quở trách: “Các anh đơn giản hóa mọi chuyện quá mức khi giải thích rằng bọn Corpo, nhất là bọn M.M., đều là quỷ dữ. Khối đứa đúng là thế. Nhưng ngay cả những tên tệ hại nhất, ngay cả bọn sát thủ chuyên nghiệp trong hàng ngũ M.M., cũng không thấy thỏa mãn khi trừng phạt lũ dị giáo chúng ta bằng những Corpo thật thà, ngu ngốc đã bị các thủ lĩnh đánh lừa bằng những lời ba hoa về Tự do, Trật tự, An ninh, Kỷ luật, Sức mạnh! Toàn những từ tuyệt diệu mà ngay trước khi Windrip lên nắm quyền, bọn đầu cơ đã bắt đầu dùng để bảo vệ lợi nhuận của chúng! Nhất là cái cách chúng dùng từ ‘Quyền tự do’! Quyền tự do lột tã khỏi người trẻ sơ sinh! Tôi bảo các anh, ngày nay một người lương thiện nghe đến từ ‘Quyền tự do’ là phát bệnh, sau những gì Đảng Cộng hòa đã làm với nó! Và tôi bảo các anh rằng nhiều lính gác M.M. ngay tại Trianon này cũng bất hạnh chẳng kém chúng ta—khối người chỉ là những kẻ khốn khổ không kiếm nổi công việc tử tế vào thời Hoàng kim của Frank Roosevelt—những nhân viên kế toán phải đi đào mương, những đại lý ô tô không bán nổi xe rồi đâm ra cay cú, những cựu trung úy trong Đại chiến trở về mới biết công việc của mình đã bị người ta nẫng mất, rồi thành thật đi theo Windrip vì họ, lũ ngốc ấy, cứ tưởng khi hắn nói An ninh thì hắn thực sự muốn nói AN NINH! Rồi họ sẽ hiểu!”

Và sau khi diễn giải hết sức đáng khâm phục thêm một giờ nữa về những hiểm họa của thói tự cho mình là chính nghĩa trong hàng ngũ Corpo, Đồng chí Pascal sẽ đổi đề tài, bắt đầu diễn giải về vinh quang của thói tự cho mình là chính nghĩa trong hàng ngũ Cộng sản—đặc biệt là những tấm gương Cộng sản đã được phong thánh, đang sống trong cực lạc tại Thánh đô Moskva, nơi mà theo phán đoán của Doremus, đường phố được lát bằng những đồng rúp không bao giờ mất giá.

Thánh đô Moskva! Karl nhìn nơi ấy với đúng thứ sùng kính thiếu óc phê phán và hơi cuồng loạn mà những tín đồ giáo phái khác, vào thời của họ, từng dành cho Jerusalem, Mecca, Rome, Canterbury và Benares. Tốt thôi, chẳng sao cả, Doremus nghĩ. Cứ để họ thờ phụng những nguồn nước thánh của mình—với những kẻ trí tuệ chậm phát triển thì trò ấy cũng hay chẳng kém trò nào. Chỉ có điều, vậy thì tại sao họ lại phản đối việc ông coi Fort Beulah, hoặc New York, hoặc Oklahoma City là đất thánh?

Có lần Karl sùi bọt mép chỉ vì Doremus tự hỏi không biết các mỏ sắt ở Nga có thật sự dồi dào như người ta tưởng chăng. Dĩ nhiên là có! Nga, vì là Nước Nga Thần thánh, nên như một bộ phận hữu ích của tính thần thánh ấy, tất phải có đủ sắt, và Karl chẳng cần báo cáo của nhà khoáng vật học nào mà chỉ cần con mắt đức tin đầy hoan lạc để biết điều đó.

Ông không phiền chuyện Karl thờ phụng Nước Nga Thần thánh. Nhưng Karl thì lại hết sức phiền, với vẻ giễu cợt, khi Doremus nảy ra một ý muốn nhẹ nhàng là thờ phụng Nước Mỹ Thần thánh, và anh dùng từ “ngây thơ”—từ yêu thích, rất có thể cũng là từ duy nhất mà các nhà báo Cộng sản biết. Karl thường nói những bức ảnh các cô gái gần như khỏa thân trên bãi tắm Nga đăng trong Moscow News là bằng chứng cho chiến thắng và niềm vui của người lao động dưới chế độ Bolshevik, nhưng lại coi chính những bức ảnh cùng một kiểu về các cô gái gần như khỏa thân trên bãi tắm Long Island là bằng chứng cho sự suy đồi của người lao động dưới chế độ Tư bản.

Là một người làm báo, Doremus nhớ rằng những phóng viên duy nhất xuyên tạc và che giấu sự thật một cách vô liêm sỉ hơn phe Tư bản chính là phe Cộng sản.

Ông e rằng cuộc đấu tranh trên thế giới ngày nay không phải giữa Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa Phát xít, mà là giữa lòng khoan dung và thói cuồng tín được cả Chủ nghĩa Cộng sản lẫn Chủ nghĩa Phát xít rao giảng ngang nhau. Nhưng ông cũng thấy rằng ở Mỹ, cuộc đấu tranh bị phủ mờ bởi một sự thật: những kẻ Phát xít tệ hại nhất lại chính là những kẻ chối bỏ từ “Phát xít” và rao giảng sự nô dịch cho Chủ nghĩa Tư bản dưới danh nghĩa Quyền tự do Hiến định và Truyền thống của Người Mỹ Bản địa. Bởi chúng không chỉ cướp tiền công mà còn cướp cả danh dự. Để phục vụ mục đích của mình, chúng không những có thể trích Kinh Thánh mà còn trích cả Jefferson.

Việc Karl Pascal đang biến thành một kẻ cuồng tín, giống như phần lớn các lãnh tụ của anh trong Đảng Cộng sản, khiến Doremus đau buồn, bởi có thời ông đã chân thành hy vọng rằng sức mạnh quần chúng của Chủ nghĩa Cộng sản có thể mở ra một lối thoát khỏi nền độc tài yếm thế. Nhưng giờ ông hiểu rằng mình phải mãi đơn độc, một người “Tự do”, bị tất cả những nhà tiên tri ồn ào hơn khinh miệt vì không chịu làm con mèo ngoan ngoãn cho lũ khỉ tất bật của bên nào cả. Nhưng trong trường hợp tệ nhất, những người Tự do, những người Khoan dung, về lâu dài có lẽ vẫn bảo tồn được đôi phần nghệ thuật của nền văn minh, bất kể cuối cùng thứ chuyên chế mang nhãn hiệu nào sẽ thống trị thế giới.

“Càng suy ngẫm về lịch sử,” ông trầm tư, “tôi càng tin rằng mọi điều đáng giá trên đời đều do tinh thần tự do, tìm tòi và phê phán tạo nên, và việc bảo tồn tinh thần ấy quan trọng hơn bất kỳ hệ thống xã hội nào. Nhưng những kẻ sùng bái nghi thức và những kẻ man rợ có khả năng bịt miệng những con người khoa học và khiến họ im tiếng vĩnh viễn.”

Phải, đây là điều tồi tệ nhất mà những kẻ thù của danh dự—bọn tư bản công nghiệp cướp biển rồi đến những kẻ kế vị xứng hợp của chúng, đám Corpo cầm dùi cui—đã gây ra: chúng biến những Karl Pascal dũng cảm, hào hiệp, nhiệt thành và chỉ biết lõm bõm chữ nghĩa thành những kẻ cuồng tín nguy hiểm. Mà chúng làm việc ấy mới tài tình làm sao! Doremus thấy bất an bên Karl; ông cảm thấy lần ngồi tù kế tiếp của mình rất có thể sẽ do chính Karl làm cai ngục, khi nhớ lại việc những người Bolshevik, một khi nắm quyền, đã hết sức tự mãn mà bỏ tù và bức hại những người phụ nữ vĩ đại Spiridinova, Breshkovskaya và Ismailovitch—những người, bằng các âm mưu chống Sa hoàng, bằng sự sẵn lòng chịu đựng cực hình ở Siberia vì “tự do cho quần chúng”, đã góp phần nhiều nhất đưa tới cuộc cách mạng nhờ đó những người Bolshevik đoạt được quyền kiểm soát—rồi chẳng những lại cấm quần chúng được tự do, mà lần này còn báo cho họ biết rằng, dù sao đi nữa, tự do cũng chỉ là một thứ mê tín tư sản ngu xuẩn chết tiệt.

Vì vậy Doremus, nằm ngủ cao hơn người bạn cũ hai bộ rưỡi, cảm thấy mình ở trong một xà lim bên trong xà lim. Henry Veeder, Clarence Little, Victor Loveland và ông Falck giờ đã đi cả rồi, còn Julian bị nhốt riêng, đến mỗi tháng một lần ông cũng không thể trò chuyện.

Ông khao khát trốn thoát với một niềm ham muốn gần như điên loạn; khi thức cũng như lúc ngủ, đó là nỗi ám ảnh của ông; và ông tưởng tim mình đã ngừng đập khi Đội trưởng Aras Dilley lẩm bẩm với ông, trong lúc Doremus đang cọ sàn một phòng vệ sinh: “Này! Nghe đây, ông Jessup! Bà Pike đang lo liệu mọi chuyện, còn tôi sẽ giúp ông trốn ngay khi thời cơ thuận tiện!”

Vấn đề nằm ở đám lính gác đứng phiên bên ngoài khu tứ giác. Với công việc quét dọn, Doremus tương đối tự do rời xà lim, còn Aras đã nới lỏng các tấm ván và dây thép gai ở cuối một trong những ngõ hẻm chạy từ khu tứ giác ra giữa các tòa nhà. Nhưng một khi ra ngoài, rất có thể ông sẽ bị lính gác bắn ngay khi vừa trông thấy.

Suốt một tuần, Aras theo dõi. Anh biết một lính gác ca đêm có thói quen say xỉn, một tật được bỏ qua nhờ hắn rất giỏi quất roi những kẻ gây rối, tuy những người thận trọng hơn vẫn coi đó là điều khá đáng tiếc. Và trong tuần ấy, Aras dùng tiền chi phí của Lorinda để nuôi thói quen của tên lính gác, quả thực tận tụy với nhiệm vụ đến mức chính anh cũng hai lần phải được khiêng về giường. Snake Tizra bắt đầu chú ý—nhưng Snake cũng vậy, sau hai ba ly đầu tiên, lại thích thân mật bình đẳng với thuộc hạ và hát bài “The Old Spinning-Wheel”.

Aras tâm sự với Doremus: “Bà Pike—bà ấy không dám gửi giấy nhắn cho ông, sợ có người lấy được, nhưng bà ấy bảo tôi dặn ông đừng nói với bất kỳ ai rằng ông sắp chuồn, không thì tin sẽ lộ ra.”

Vậy nên vào buổi tối Aras hất đầu ra hiệu cho ông từ ngoài hành lang, rồi gắt lên với vẻ cáu kỉnh: “Này, Jessup—ông để một cái thùng bẩn nguyên đấy!” Doremus bình thản nhìn xà lim đã là nhà, phòng làm việc và thánh đường của mình suốt sáu tháng, liếc Karl Pascal đang đọc sách trên giường—chậm rãi đung đưa bàn chân không giày, mang chiếc tất thủng mất đầu—rồi Truman Webb đang mạng đũng quần, để ý làn khói xám nghiêng nghiêng thành từng lớp mỏng quanh bóng đèn điện nhỏ trên trần, rồi lặng lẽ bước ra hành lang.

Đêm cuối tháng Giêng đầy sương mù.

Aras đưa cho ông một chiếc áo khoác M.M. đã sờn, thì thầm: “Ngõ thứ ba bên phải; xe tải chuyển đồ ở góc đường đối diện nhà thờ,” rồi biến mất.

Doremus nhanh nhẹn bò bằng cả hai tay hai gối dưới đoạn dây thép gai đã được nới lỏng ở cuối ngõ nhỏ, rồi thản nhiên bước ra đi dọc con đường. Người lính gác duy nhất trong tầm mắt ở khá xa, chân bước lảo đảo. Cách đó một dãy phố, một chiếc xe tải chở đồ đạc đang được kích lên trong lúc người lái xe và phụ tá nhọc nhằn chuẩn bị thay một trong những chiếc lốp khổng lồ. Dưới ánh đèn hồ quang nơi góc phố, Doremus nhận ra người lái xe chính là gã tài xế đường dài mặt mày rắn đanh từng vận chuyển những bó truyền đơn cho Tân Địa hạ.

Người lái xe càu nhàu: “Vào đi—nhanh lên!” Doremus thu mình giữa một chiếc tủ ngăn kéo và một chiếc ghế bành có cánh bên trong xe.

Ngay tức khắc, ông cảm thấy thân xe đang nghiêng hạ xuống khi người lái rút chiếc kích ra, rồi từ ghế trước ông nghe tiếng nói: “Được rồi! Ta đi thôi. Bò lên ngay sau lưng tôi đây mà nghe, ông Jessup.... Ông nghe rõ không?... Bọn M.M. không mất công lắm để ngăn các quý ông và những người đáng kính như ông trốn thoát. Chúng tính rằng phần lớn các ông nhát quá, chẳng dám thử làm gì một khi đã rời xa văn phòng, hiên nhà và xe hơi của mình. Nhưng tôi đoán về vài mặt ông có thể khác đấy, ông Jessup. Ngoài ra, chúng tính rằng dù các ông có trốn thoát thì sau đó chúng cũng dễ dàng tóm lại, bởi các ông đâu biết cách ẩn náu như một anh chàng bình thường từng có lúc thất nghiệp, có khi còn đi sống lang thang. Nhưng đừng lo. Chúng tôi sẽ đưa ông lọt qua. Tôi bảo ông, chẳng ai có nhiều bạn bè như một người cách mạng đâu.... Và CẢ kẻ thù nữa!”

Đến lúc ấy Doremus mới chợt nhận ra rằng, theo bản án của Effingham Swan quá cố đáng tiếc, ông có thể phải chịu án tử hình vì vượt ngục. Nhưng ông càu nhàu như Karl Pascal: “Ôi, mặc xác nó!” rồi duỗi người tận hưởng niềm xa xỉ của sự chuyển động trong chiếc xe tải chở đồ đang lao vun vút ấy.

Ông đã tự do! Ông nhìn thấy ánh đèn những ngôi làng lướt qua!

Có lần ông được giấu dưới lớp cỏ khô trong kho lúa; lần khác, trong một rừng vân sam trên đỉnh đồi cao; và có lần ông ngủ qua đêm trên nắp một cỗ quan tài tại cơ sở của một người làm nghề mai táng. Ông đi trên những lối mòn bí mật; ngồi phía sau xe của một tay bán thuốc dạo và, với mũ lông cùng áo khoác lông cổ cao che kín, ngồi trong thùng xe bên của một nhân viên Địa hạ đang đóng vai đội trưởng M.M. Theo lệnh người lái, ông xuống xe trước một trang trại rõ ràng không có người ở, trên con đường phụ ngoằn ngoèo giữa núi Monadnock và các hồ Averill—một mụ già nhếch nhác trong hình hài căn nhà gỗ không sơn, mái võng xuống, tuyết dâng tận những ô cửa sổ xơ xác.

Hình như có sự nhầm lẫn.

Doremus gõ cửa trong lúc chiếc mô tô gầm gừ chạy xa, và cánh cửa mở ra, để lộ Lorinda Pike cùng Sissy, cả hai đồng thanh kêu: “Ôi, anh yêu!”

Ông chỉ lẩm bẩm được: “Chà!”

Khi họ đã bắt ông cởi chiếc áo khoác lông trong phòng khách của căn nhà—một gian phòng giấy dán tường bong tróc, hoàn toàn trống trải ngoài một chiếc giường xếp, hai cái ghế và một cái bàn—hai người phụ nữ đang rên rỉ nhìn thấy một người đàn ông nhỏ thó, gương mặt bẩn thỉu, nhợt nhạt, hõm sâu như vì bệnh lao; bộ râu và ria trước kia được tỉa tót cầu kỳ nay tua tủa như những nhúm cỏ khô; mái tóc quá dài dựng lởm chởm quê mùa sau gáy; quần áo rách nát và cáu bẩn—một lão lang thang già nua, bệnh tật, tuyệt vọng. Ông đổ người xuống chiếc ghế lưng thẳng và nhìn họ chằm chằm. Có lẽ họ là thật—có lẽ họ thực sự đang ở đó—có lẽ ông, đúng như cảm giác của mình, đang ở thiên đường, ngắm nhìn hai thiên thần tối cao; nhưng trong những tháng ảm đạm vừa qua, ông đã quá nhiều lần bị những ảo ảnh lừa dối một cách tàn nhẫn! Ông nức nở, còn họ an ủi ông bằng những bàn tay dịu dàng vuốt ve và không lải nhải quá nhiều đến phát bực.

“Em đã chuẩn bị nước tắm nóng cho anh! Em sẽ kỳ lưng cho anh nữa! Rồi súp gà nóng và kem!”

Như thể người ta đang nói: Đức Chúa Trời ngự trên ngai đang chờ đón ngươi, mọi kẻ được ngươi ban phước sẽ được ban phước, và mọi kẻ thù của ngươi sẽ phải quỳ gối!

Hai người phụ nữ thánh thiện ấy quả thực đã sai người mang một chiếc bồn tắm dài bằng thiếc vào bếp căn nhà cũ, đổ đầy nước đun trong ấm và chậu rửa bát trên bếp lò, rồi chuẩn bị bàn chải, xà phòng, một miếng bọt biển khổng lồ, cùng chiếc khăn tắm dài mềm mại vuốt ve đến mức Doremus đã quên mất trên đời còn tồn tại một vật như thế. Và bằng cách nào đó, từ Fort Beulah, Sissy đã mang tới rất nhiều giày và sơ mi của chính ông, cùng ba bộ com-lê mà giờ đây đối với ông dường như xứng để bậc đế vương mặc.

Ông, người suốt sáu tháng chưa được tắm nước nóng, suốt ba tháng mặc nguyên một bộ đồ lót, và suốt hai tháng (giữa mùa đông ẩm lạnh) hoàn toàn không có lấy một đôi tất!

Nếu sự hiện diện của Lorinda và Sissy là dấu hiệu của thiên đường, thì việc chậm rãi trượt từng phân mê ly vào bồn tắm chính là bằng chứng, và ông nằm ngâm mình trong vinh quang.

Khi ông mặc quần áo được một nửa, hai người bước vào, và chẳng ai nghĩ đến sự đoan trang, cũng chẳng cần phải nghĩ, khác nào ông là đứa bé hai tuổi mà ông có phần giống lúc ấy. Họ đang cười ông, nhưng tiếng cười biến thành những tiếng thút thít sắc nhọn vì kinh hãi khi họ nhìn thấy tấm lưng như miếng thịt bị vỉ nướng hằn ô. Nhưng ngay cả lúc ấy, Lorinda cũng không nói gì gay gắt hơn ngoài: “Ôi, anh yêu!”

Dù Sissy từng mừng vì Lorinda không chăm bẵm cô như một bà mẹ, Doremus lại hân hoan đón nhận sự chăm chút ấy. Snake Tizra và trại tập trung Trianon quả là những nơi tuyệt nhiên không có chút tình mẫu tử nào. Lorinda xoa thuốc rồi rắc phấn lên lưng ông. Cô cắt tóc cho ông, cũng không đến nỗi vụng. Cô nấu cho ông tất cả những món ăn chắc bụng, đậm đà mà ông từng mơ tới khi đói lả trong xà lim: bò băm áp chảo với hành, bánh pudding ngô, bánh kiều mạch ăn với xúc xích, bánh bao táo với xốt đặc và xốt loãng, và súp kem nấm!

Đưa ông về hưởng tiện nghi trong phòng trà của cô ở Beecher Falls là việc không an toàn; đám M.M. đã tới đó, lùng sục tìm ông. Nhưng để đón những người tị nạn mà họ có thể chuyển tiếp cho Tân Địa hạ, Sissy và cô đã trang bị cho căn nhà nông trại xập xệ này nửa tá giường xếp, cùng một kho đồ hộp dồi dào và những chai mật ong, mứt cam cùng mứt bar-le-duc tuyệt đẹp (theo Doremus). Chặng cuối cùng thực sự vượt biên sang Canada giờ đã dễ dàng hơn hồi Buck Titus tìm cách đưa lậu gia đình Jessup qua. Nó đã trở thành cả một hệ thống, như trong thời buôn rượu lậu đầy chất hải tặc: có những lối mòn mới xuyên rừng, việc đút lót lính biên phòng và hộ chiếu giả. Ông đã an toàn. Tuy vậy, để cho sự an toàn càng thêm chắc chắn, Lorinda và Sissy vừa xoa cằm vừa ngắm nghía Doremus, vẫn ngang nhiên bàn bạc về ông như thể ông là một đứa bé chẳng hiểu họ nói gì, rồi quyết định biến ông thành một chàng trai trẻ.

“Tôi nghĩ nên nhuộm tóc và ria ông ấy thành màu đen, rồi cạo bộ râu quai nón đi. Giá mà chúng ta có thời gian dùng đèn Alpine nhuộm cho ông ấy một làn da rám nắng Florida thật đẹp nữa,” Lorinda cân nhắc.

“Vâng, tôi nghĩ trông bố sẽ rất bảnh theo kiểu ấy,” Sissy nói.

“Tôi nhất quyết không để ai cạo bộ râu quai nón!” ông phản đối. “Làm sao tôi biết khi trơ trụi ra thì cằm mình sẽ thuộc loại nào?”

“Ôi chao, ông này vẫn tưởng mình là chủ một tờ báo và là một trong những nhân vật được giới giao tế Fort Beulah ái mộ kia đấy!” Sissy kinh ngạc, trong khi họ nhẫn tâm bắt tay vào việc.

“Dù sao thì lý do thực sự duy nhất của những cuộc chiến tranh và cách mạng chết tiệt này là để đàn bà có dịp—ối! cẩn thận chứ!—đóng vai những Bà Mẹ Nghiệp Dư bé bỏng đáng yêu với mọi gã đàn ông họ tóm được vào tay. THUỐC NHUỘM TÓC!” Doremus cay đắng nói.

Nhưng khi khuôn mặt trẻ trung được dọn sạch râu, ông lại hãnh diện đến trơ trẽn, và phát hiện ra mình có một chiếc cằm khá cương nghị; rồi Sissy được phái trở lại Beecher Falls để duy trì hoạt động của phòng trà, còn trong ba ngày, Lorinda và ông ngấu nghiến bít tết, uống bia, chơi bài pinochle, và nằm bên nhau chuyện trò miên man về tất cả những gì mỗi người đã nghĩ tới về người kia trong sáu tháng hoang mạc tưởng chừng dài sáu mươi năm. Sau này ông sẽ nhớ căn phòng ngủ mái dốc trong ngôi nhà nông trại, một mảnh thảm giẻ, đôi ghế ọp ẹp và Lorinda nép mình dưới tấm chăn bông đỏ cũ trên chiếc giường xếp—không phải như cảnh nghèo khó mùa đông, mà như tuổi trẻ và một tình yêu phiêu lưu.

Rồi trong một khoảng rừng quang, tuyết đọng dọc những cành vân sam, chỉ cách vài bước chân bên kia biên giới Canada, ông nhìn sâu vào mắt hai người phụ nữ của đời mình, cộc lốc nói lời từ biệt, rồi lê bước đi vào nhà tù mới của kiếp lưu vong khỏi nước Mỹ—nơi mà ngay lúc ấy, ông đã ngoái nhìn lại với nỗi đau hoài hương dai dẳng.