Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 35

Chương 35 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây

Trong hai năm cầm quyền độc tài, Berzelius Windrip mỗi ngày một keo kiệt hơn với quyền lực. Y vẫn tự nhủ rằng tham vọng chính của mình là làm cho mọi công dân đều khỏe mạnh, cả về túi tiền lẫn tinh thần, và nếu y có tàn bạo thì cũng chỉ tàn bạo với những kẻ ngu xuẩn và phản động muốn níu giữ các thể chế cũ kỹ, vụng về. Nhưng sau mười tám tháng làm Tổng thống, y nổi giận vì Mexico, Canada và Nam Mỹ (hiển nhiên là tài sản của riêng y, theo thiên mệnh rõ rành rành) lại dám cộc lốc đáp lại những công hàm ngoại giao cộc lốc của y, chẳng tỏ chút thiện chí nào trong việc trở thành một phần của đế quốc tất yếu thuộc về y.

Và mỗi ngày, y lại muốn nghe tất cả những người quanh mình nói Vâng to hơn, thuyết phục hơn. Y gặng hỏi, làm sao y có thể tiếp tục công cuộc lao tâm khổ tứ ấy nếu chẳng ai chịu động viên y? Bất cứ ai, từ Sarason cho tới nhân viên chuyển công văn giữa các phòng, mà không chịu làm đầy tớ hầu hạ cái tôi của y đều bị y nghi đang âm mưu chống lại mình. Y không ngừng tăng cường đội cận vệ, cũng không ngừng nghi kỵ tất cả bọn họ rồi sa thải, có lần còn nổ súng vào hai người trong số ấy; thành thử trên toàn thế giới, y không có lấy một bạn đồng hành ngoài viên phụ tá lâu năm Lee Sarason, và có lẽ cả Hector Macgoblin, là những người y có thể trò chuyện thoải mái.

Y thấy cô đơn trong những giờ phút muốn trút bỏ bổn phận của kẻ chuyên chế cùng với đôi giày và chiếc áo khoác mới sang trọng. Y không còn ra ngoài chè chén om sòm nữa. Nội các van y đừng diễn trò hề trong các quán rượu và những buổi vui của hội đoàn; làm thế chẳng có vẻ uy nghi, mà ở quá gần người lạ cũng nguy hiểm.

Vì vậy, đêm khuya y chơi poker với đám cận vệ, những lúc ấy lại uống quá nhiều; hễ thua là y nguyền rủa họ, mắt lồi lên trừng trừng—mà dù các cận vệ có thiện chí nhường cho y thắng đến đâu, chuyện ấy vẫn phải xảy ra thường xuyên, bởi y cắt xén lương của họ quá tay và khóa kỹ cả thìa. Buzz đã trở thành một Buzz hết sức ủ rũ, chẳng còn chút rộn ràng nào, mà chính y không hề hay biết.

Trong khi ấy, y vẫn yêu Nhân dân cũng nhiều như y sợ hãi và căm ghét từng Cá nhân, và y dự định làm một việc lưu danh sử sách. Tất nhiên rồi! Y sẽ cấp cho mỗi gia đình năm nghìn đô-la một năm ấy, ngay khi nào thu xếp được.

Còn Lee Sarason, đời đời lập những danh sách cẩn thận, kiên nhẫn bên bàn giấy bao nhiêu thì trong những bữa tiệc nửa đêm trên trường kỷ lại khát khao khoái lạc bấy nhiêu, đang dụ dỗ các quan chức coi hắn mới là chúa tể thực sự của họ và là bậc thầy của chủ nghĩa Corpo. Hắn giữ lời hứa với họ, trong khi Windrip lúc nào cũng quên. Cánh cửa văn phòng hắn trở thành cánh cửa dẫn tới công danh. Ở Washington, các phóng viên kín đáo gọi viên thứ trưởng này hay vị tướng nọ là “người của Sarason.” Phe cánh của hắn không phải một chính phủ nằm trong chính phủ; nó chính là chính phủ, chỉ thiếu những chiếc loa phóng thanh. Tối nào hắn cũng bí mật tiếp Bộ trưởng Bộ Nghiệp đoàn (một cựu phó chủ tịch Liên đoàn Lao động Hoa Kỳ), để nghe báo cáo về tình hình chính trị lao động, đặc biệt là về những lãnh tụ vô sản bất mãn với Windrip trên cương vị Thủ lĩnh—nghĩa là bất mãn với phần chiến lợi phẩm của chính mình. Từ Bộ trưởng Ngân khố (dù viên chức này, một người tên Webster Skittle, không phải thuộc hạ của Sarason mà chỉ thân thiện với hắn), hắn nhận được những báo cáo mật về công việc của các chủ nhân công lớn; những kẻ ấy hân hoan vì dưới chế độ Corpo, một triệu phú thường có thể thuyết phục các thẩm phán tại tòa trọng tài lao động nhìn nhận sự việc cho phải lẽ, và nay, khi đình công đã bị đặt ngoài vòng pháp luật còn giới chủ được coi là quan chức nhà nước, quyền lực của họ sẽ được bảo đảm vĩnh viễn.

Sarason biết những thủ đoạn kín đáo mà các ông trùm công nghiệp vừa được tăng cường thế lực ấy dùng: nhờ bọn M.M. bắt giữ để loại bỏ những “kẻ gây rối,” đặc biệt là những phần tử Do Thái cấp tiến—mà một phần tử Do Thái cấp tiến tức là một người Do Thái không có ai làm thuê cho mình. (Một số ông trùm chính họ cũng là người Do Thái; chẳng thể trông mong lòng trung thành với chủng tộc lại bị đẩy đến mức điên rồ, làm cho túi tiền vơi đi.)

Sarason giành được lòng trung thành của tất cả những người da đen đủ khôn ngoan để bằng lòng với sự an toàn và đồng lương hậu hĩnh, thay vì ôm những khát vọng lố bịch về phẩm giá cá nhân, bằng cách cho chụp ảnh mình bắt tay mục sư da đen nổi tiếng theo phái Chính thống, Đức cha Tiến sĩ Alexander Nibbs, và nhờ các Giải thưởng Sarason được quảng bá rầm rộ, dành cho những người da đen có gia đình đông con nhất, lau sàn nhanh nhất và làm việc liên tục lâu nhất không nghỉ phép.

“Được khuyến khích như thế thì chẳng lo những người bạn da đen tốt bụng của chúng ta ngả sang phe Đỏ,” Sarason tuyên bố với báo giới.

Sarason lấy làm mãn nguyện vì tại Đức, tất cả các ban quân nhạc giờ đây đều tấu khúc quốc ca của hắn, “Buzz và Buzz,” bên cạnh bài ca Horst Wessel; bởi dù hắn không hẳn đã sáng tác cả phần nhạc lẫn phần lời, ở nước ngoài người ta nay vẫn quy phần nhạc cho hắn.

Cũng như một thư ký ngân hàng có thể hết sức hợp lý mà lo lắng ngang nhau về tung tích số trái phiếu trị giá một trăm triệu đô-la của ngân hàng và mười xu tiền ăn trưa của chính mình, Buzz Windrip lo lắng ngang nhau về phúc lợi—tức là sự phục tùng đối với y—của hơn một trăm ba mươi triệu công dân Mỹ và chuyện nhỏ nhặt là tâm trạng của Lee Sarason, kẻ mà sự tán thưởng dành cho y mới là danh vọng thực sự duy nhất. (Windrip không gặp vợ mình quá một lần mỗi tuần, mà dù sao thì con mụ nhà quê ấy nghĩ gì cũng chẳng quan trọng.)

Hector Macgoblin quỷ quyệt khiến y sợ hãi; y khá ưa Bộ trưởng Chiến tranh Luthorne và Phó Tổng thống Perley Beecroft, nhưng họ làm y chán; họ mang quá đậm mùi thời niên thiếu tỉnh lẻ của chính y, một thời mà để thoát khỏi nó, y sẵn lòng gánh lấy trách nhiệm của cả một quốc gia. Y dựa vào Lee Sarason khó lường; nhưng Lee, kẻ từng cùng y đi câu, nhậu nhẹt và thậm chí có lần giết người, kẻ dường như chính là bản thân y nhưng vững vàng và giỏi ăn nói hơn, giờ đây có những ý nghĩ y không sao thấu được. Nụ cười của Lee là một tấm màn che, không phải một lời hé lộ.

Chính để uốn nắn Lee, với hy vọng kéo hắn trở lại, mà khi Buzz thay Đại tá Luthorne dễ mến nhưng vụng về ở chức Bộ trưởng Chiến tranh bằng Đại tá Dewey Haik, Ủy viên Tỉnh Đông Bắc (lời nhận xét rất đặc trưng của Buzz là Luthorne không “gánh tròn phần việc của mình”), y còn trao cho Haik chức Thống chế Tối cao của Minute Men, chức vụ Lee từng nắm cùng cả tá chức vụ khác. Y chờ đợi Lee nổi trận lôi đình, rồi hối lỗi và nối lại tình bạn. Nhưng Lee chỉ lạnh lùng nói: “Được thôi, nếu ông muốn.”

Làm thế nào y CÓ THỂ khiến Lee ngoan ngoãn trở lại chơi với mình đây? Người đàn ông thỉnh thoảng mưu tính làm hoàng đế thế giới bâng khuâng tự hỏi.

Y tặng Lee một chiếc máy thu hình giá một nghìn đô-la. Lee còn lạnh lùng hơn khi cảm ơn y, và về sau chẳng bao giờ nhắc tới chuyện hắn có thể bắt được những chương trình truyền hình hãy còn chập chờn rõ đến mức nào trên chiếc máy mới tuyệt đẹp ấy.

Khi Dewey Haik bắt tay vào việc, tăng gấp đôi hiệu suất của cả quân đội chính quy lẫn Minute Men (hắn là một con quỷ mê những cuộc hành quân luyện tập suốt đêm với đầy đủ quân trang nặng nề, mà binh lính không thể phàn nàn vì hắn tự mình làm gương), Buzz bắt đầu tự hỏi liệu Haik có thể trở thành người tâm phúc mới của mình chăng... Y thật tình không muốn tống Lee vào tù, nhưng Lee lại quá vô tâm, cứ làm tổn thương tình cảm của y, trong khi y đã làm biết bao nhiêu điều cho hắn, thế mà!

Buzz thấy rối trí. Y càng rối trí hơn khi Perley Beecroft bước vào, nói gọn rằng ông đã chán ngấy tất cả cảnh đổ máu này và sẽ trở về nông trại; còn cái chức Phó Tổng thống cao quý của mình thì Buzz biết có thể đem nó làm gì rồi đấy.

Những bất đồng quốc gia ghê gớm này chẳng khác gì những cuộc cãi vã trong hiệu thuốc của cha y hay sao? Buzz bực bội nghĩ. Y không tiện cho bắn Beecroft: chuyện ấy có thể gây lời dị nghị. Nhưng quấy rầy một hoàng đế là việc bất nhã, là phạm thượng; và trong cơn cáu tiết, y cho lôi một cựu Thượng nghị sĩ cùng mười hai công nhân khỏi các trại tập trung rồi xử bắn, với cáo buộc rằng họ đã kể những chuyện bất kính về y.

Bộ trưởng Ngoại giao Sarason đang chúc Tổng thống Windrip ngủ ngon trong căn phòng khách sạn nơi Windrip thực sự sinh sống.

Không tờ báo nào dám nhắc đến chuyện ấy, nhưng Buzz vừa khó chịu trước vẻ uy nghi của Nhà Trắng, vừa sợ hãi số lượng những kẻ Đỏ, những tên gàn và những phần tử chống Corpo đã dùng một sự kiên nhẫn cùng óc sáng tạo hết sức đáng khen để tìm cách lẻn vào dinh thự lịch sử ấy mà giết y. Buzz chỉ để vợ mình ở đó làm cảnh và, trừ những buổi đại tiếp tân, chẳng bao giờ bước vào bất kỳ phần nào của Nhà Trắng ngoài khu văn phòng phụ.

Y thích căn phòng khách sạn này; y là người thực tế, ưa bourbon nguyên chất, bánh cá tuyết và ghế da sâu lòng hơn rượu Burgundy, cá hồi trout bleu và đồ Louis XV. Trong căn hộ mười hai phòng chiếm trọn tầng mười của một khách sạn nhỏ chẳng có tiếng tăm gì, phần dành riêng cho y chỉ gồm một phòng ngủ giản dị, một phòng khách khổng lồ trông như sự kết hợp giữa văn phòng và đại sảnh khách sạn, một tủ rượu lớn, một tủ khác chứa ba mươi bảy bộ âu phục, cùng một phòng tắm với hết lọ này đến lọ khác đựng muối tắm hương thông—thứ xa xỉ phẩm làm đẹp duy nhất của y. Buzz có thể trở về trong một bộ đồ chói lọi như tấm chăn ngựa, thứ mà ở Alfalfa Center được coi là một kỳ công của nghề may London; nhưng một khi đã về nơi an toàn, y thích xỏ đôi dép da maroc đỏ đã mòn gót, phô ra đôi dây đeo quần đỏ cùng những vòng giữ tay áo màu xanh da trời non. Để cảm thấy mình thật đúng điệu trong bộ trang sức ấy, y ưa bầu không khí khách sạn—thứ suốt bao năm trước khi y từng được nhìn thấy Nhà Trắng đã quen thuộc với y chẳng khác nào những kho ngô của tổ tiên và các con Phố Chính.

Mười phòng còn lại của căn hộ, hoàn toàn ngăn phần riêng của y khỏi hành lang và thang máy, ngày đêm chật kín cận vệ. Muốn vượt qua họ để vào gặp Buzz tại chốn riêng tư thân mật này chẳng khác nào tới đồn cảnh sát với mục đích thăm một tù nhân sát nhân.

“Lee, theo tôi thì Haik đang làm rất khá ở Bộ Chiến tranh,” Tổng thống nói. “Tất nhiên anh biết, nếu có lúc nào anh muốn lấy lại chức Thống chế Tối cao—”

“Tôi hoàn toàn mãn nguyện,” vị Bộ trưởng Ngoại giao vĩ đại nói.

“Anh nghĩ sao nếu gọi Đại tá Luthorne trở lại để giúp Haik? Ông ta khá giỏi xử lý những chi tiết lặt vặt ngớ ngẩn.”

Sarason nom gần như bối rối đến mức một Lee Sarason tự mãn có thể bối rối.

“Ơ, ừm—tôi tưởng ông biết rồi. Luthorne đã bị thanh trừng cách đây mười ngày.”

“Lạy Chúa! Luthorne bị giết rồi ư? Sao tôi lại không biết?”

“Người ta cho rằng tốt hơn hết là giữ kín. Ông ta khá được lòng dân. Nhưng nguy hiểm. Lúc nào cũng nói về Abraham Lincoln!”

“Vậy là tôi chẳng bao giờ biết gì về những chuyện đang diễn ra! Lạy Chúa, ngay cả những mẩu báo cắt ra cũng đã được người ta tiêu hóa sẵn trước khi tôi được đọc!”

“Người ta cho rằng tốt hơn hết là đừng làm phiền ông bằng những chi tiết vụn vặt, sếp. Ông biết mà! Tất nhiên, nếu ông cảm thấy tôi chưa tổ chức ban tham mưu của ông cho đúng—”

“Ôi thôi nào, đừng nổi nóng thế, Lee! Tôi chỉ muốn nói—Tất nhiên tôi biết anh đã vất vả đến mức nào để bảo vệ tôi, hầu cho tôi có thể dồn hết trí óc vào những vấn đề quốc gia cao cả hơn. Nhưng Luthorne—tôi khá mến ông ta. Mỗi lần chơi poker, ông ta bao giờ cũng pha trò khá vui.” Buzz Windrip cảm thấy cô đơn, như một Shad Ledue nọ từng cảm thấy, trong một căn phòng khách sạn chỉ khác căn của Buzz ở chỗ nhỏ hơn. Để quên đi, y reo lên, hết sức vui vẻ: “Lee, có bao giờ anh tự hỏi tương lai sẽ xảy ra chuyện gì không?”

“Chà, tôi nghĩ ông và tôi có lẽ đã từng nhắc tới chuyện đó.”

“Nhưng trời đất ơi, cứ nghĩ xem tương lai có thể xảy ra những gì, Lee! Nghĩ mà xem! Chà, chúng ta có thể dựng nên cả một vương quốc Bắc Mỹ!” Buzz có đến một nửa là nói nghiêm túc—hoặc có lẽ một phần tư. “Anh thấy làm Công tước Georgia thế nào—hay Đại Công tước, hoặc trong cái trò quý tộc này người ta gọi một vị Đại Tôn trưởng Hội Nai Sừng Tấm là gì nhỉ? Rồi sau đó thì sao, một Đế quốc Bắc và Nam Mỹ? Khi ấy tôi có thể phong anh làm một ông vua dưới quyền tôi—chẳng hạn như Vua Mexico. Anh thấy thế nào?”

“Sẽ rất thú vị,” Lee nói một cách máy móc—cũng như lần nào Buzz nhắc lại điều nhảm nhí ấy, Lee cũng máy móc nói đúng một câu như vậy.

“Nhưng anh phải trung thành với tôi và đừng quên tất cả những gì tôi đã làm cho anh, Lee, đừng quên đấy.”

“Tôi không bao giờ quên bất cứ điều gì!... Nhân tiện, chúng ta cũng nên thanh trừng, hoặc ít nhất là bỏ tù Perley Beecroft. Về danh nghĩa, hắn vẫn là Phó Tổng thống Hoa Kỳ, và nếu tên phản bội khốn kiếp ấy giở trò gian trá nào đó khiến ông bị giết hay bị phế truất, một số kẻ đầu óc hẹp hòi cứ bám lấy nghĩa đen có thể coi hắn là Tổng thống!”

“Không, không, không! Dù hắn có nói gì về tôi thì hắn vẫn là bạn tôi... đồ chó đẻ!” Buzz rên rỉ.

“Được thôi. Ông là sếp. Ngủ ngon,” Lee nói, rồi từ giấc mơ thiên đường của một tay thợ ống nước này trở về khuê phòng bằng lụa màu mơ, trang trí vàng đen của riêng hắn ở Georgetown, nơi hắn sống chung với vài sĩ quan M.M. trẻ tuổi khôi ngô. Họ là những người lính dữ dằn, nhưng lại giỏi âm nhạc và thi ca. Ở bên họ, hắn không hề lạnh nhạt như lúc này trước Buzz Windrip. Hoặc hắn nổi giận với những người bạn trẻ rồi quất roi họ, hoặc hắn lên cơn cuồng nhiệt xin lỗi rồi vuốt ve những vết thương của họ. Những nhà báo từng có vẻ là bạn hắn nói rằng hắn đã đổi tấm che mắt xanh lấy một vòng hoa tím.

Tại cuộc họp nội các vào cuối năm 1938, Bộ trưởng Ngoại giao Sarason tiết lộ cho các lãnh đạo chính phủ một tin đáng lo ngại. Phó Tổng thống Beecroft—và chẳng phải hắn đã bảo họ rằng lẽ ra phải bắn người này rồi sao?—đã trốn sang Canada, từ bỏ chủ nghĩa Corpo và gia nhập cùng Walt Trowbridge để mưu đồ. Một cuộc nổi loạn gần sôi sục đang nổi bong bóng ở miền Trung Tây và Tây Bắc, đặc biệt tại Minnesota và hai bang Dakota, nơi những kẻ kích động—một số trước kia từng có ảnh hưởng chính trị—đang đòi các bang của họ ly khai khỏi Liên bang Corpo để thành lập một cộng đồng hợp tác riêng (quả thực gần như mang tính xã hội chủ nghĩa).

“Vớ vẩn! Chỉ là một lũ ba hoa vô trách nhiệm!” Tổng thống Windrip chế giễu. “Này! Tôi cứ tưởng anh phải là tay có cặp mắt như máy ảnh, nắm được mọi chuyện đang diễn ra chứ, Lee! Anh quên rằng chính tôi, đích thân tôi, mới tuần trước đã đọc một bài diễn văn đặc biệt trên đài phát thanh dành cho riêng vùng ấy của đất nước! Và phản ứng tôi nhận được thật tuyệt vời. Dân miền Trung Tây tuyệt đối trung thành với tôi. Họ hiểu rõ những gì tôi đã cố làm!”

Hoàn toàn không đáp lời y, Sarason yêu cầu rằng, để tập hợp và gắn kết mọi thành phần trong nước bằng thứ Chủ nghĩa Yêu nước hữu ích vẫn luôn xuất hiện khi có nguy cơ bị ngoại bang tấn công, chính phủ phải lập tức thu xếp cho mình bị xúc phạm và đe dọa trong một chuỗi “sự cố” đáng tiếc được dàn dựng kỹ lưỡng tại biên giới Mexico, rồi tuyên chiến với Mexico ngay khi nước Mỹ tỏ ra đã đủ sôi sục và đủ ái quốc.

Bộ trưởng Ngân khố Skittle và Bộ trưởng Tư pháp Porkwood lắc đầu, nhưng Bộ trưởng Chiến tranh Haik và Bộ trưởng Giáo dục Macgoblin lại cao thượng tán đồng Sarason. Học giả Macgoblin chỉ ra rằng trước kia, các chính phủ chỉ đơn thuần để mình trượt vào chiến tranh, rồi cảm tạ Đấng Quan phòng đã ban cho một cuộc xung đột làm phương thuốc hạ cơn sốt bất mãn trong nước; nhưng dĩ nhiên, trong thời đại tuyên truyền có chủ tâm và kế hoạch này, một chính phủ thực sự hiện đại như chính phủ của họ phải tính xem nên bán nhãn hiệu chiến tranh nào và phải chủ động hoạch định chiến dịch rao bán. Còn về phần ông, ông sẵn lòng giao toàn bộ việc bố trí cho thiên tài quảng cáo của Người anh em Sarason.

“Không, không, không!” Windrip kêu lên. “Chúng ta chưa sẵn sàng cho chiến tranh! Dĩ nhiên, một ngày kia chúng ta sẽ chiếm Mexico. Kiểm soát và Cơ Đốc hóa nó là thiên mệnh của chúng ta. Nhưng tôi sợ cái mưu đồ quỷ quái của anh lại có tác dụng hoàn toàn trái ngược với điều anh nói. Anh trao vũ khí vào tay quá nhiều kẻ vô trách nhiệm, chúng có thể đem dùng, quay lại chống anh, khởi xướng một cuộc cách mạng rồi tống cổ cả cái bọn chết tiệt chúng ta đi! Không, không! Tôi vẫn thường tự hỏi liệu toàn bộ cái vụ Minute Men, với súng ống và huấn luyện của họ, có phải là một sai lầm không. Đó là ý của anh, Lee, chứ không phải của tôi!”

Sarason nói đều giọng: “Buzz thân mến, hôm nay ông cảm ơn tôi vì đã khởi xướng ‘cuộc thập tự chinh vĩ đại của những người lính công dân bảo vệ mái ấm’—như ông vẫn thích gọi trên đài phát thanh—sang hôm sau ông đã suýt làm bẩn cả quần áo vì khiếp họ đến thế. Ông quyết lấy một đằng đi!”

Sarason bước ra khỏi phòng, không cúi chào.

Windrip phàn nàn: “Tôi không chịu để Lee nói với tôi như thế đâu! Cái đồ phản phúc bẩn thỉu ấy, chính tôi đã tạo nên hắn! Một ngày nào đó, hắn sẽ thấy quanh chỗ này có một bộ trưởng Ngoại giao mới! Chắc hắn tưởng những chức vụ như thế mọc đầy trên cây! Có khi hắn muốn làm chủ tịch ngân hàng hay gì đó—ý tôi là, có khi hắn muốn làm Hoàng đế nước Anh!”

Tổng thống Windrip, trong phòng ngủ khách sạn, bị tiếng một lính gác ở gian ngoài đánh thức lúc đêm khuya: “Ờ, được, cho ông ấy qua—ông ấy là Bộ trưởng Ngoại giao.” Tổng thống bồn chồn bật ngọn đèn đầu giường... Gần đây ông vẫn cần đến nó để đọc cho mình thiếp ngủ.

Trong quầng sáng tù túng ấy, ông thấy Lee Sarason, Dewey Haik và bác sĩ Hector Macgoblin tiến đến bên giường. Gương mặt gầy, sắc của Lee trắng như bột. Đôi mắt sâu hoắm của hắn là mắt một kẻ mộng du. Bàn tay phải xương xẩu cầm một con dao Bowie; khi bàn tay từ từ nâng lên, con dao khuất vào bóng tối lờ mờ. Windrip thoắt nghĩ: Ở Washington chắc khó mà biết mua dao găm ở đâu; rồi Windrip nghĩ: Tất cả chuyện này thật là ngớ ngẩn hết chỗ nói—cứ như phim ảnh hay mấy cuốn sử cũ đọc hồi còn bé; và cũng trong chính tia chớp ấy, Windrip nghĩ: Lạy Chúa, mình sắp bị giết!

Ông thét lên: “Lee! Anh không thể làm CHUYỆN ĐÓ với tôi!”

Lee khịt một tiếng, như kẻ vừa ngửi thấy mùi hôi.

Bấy giờ Berzelius Windrip, con người đã có thể—thật khó tin—trở thành Tổng thống, mới thực sự tỉnh giấc: “Lee! Anh có nhớ lần mẹ già của anh ốm nặng, tôi đã đưa anh đồng xu cuối cùng của mình và cho anh mượn chiếc xe cà tàng để anh về thăm bà, còn tôi phải đi nhờ xe đến buổi mít-tinh kế tiếp không? Lee!”

“Quỷ thật. Chắc là có. Tướng quân.”

“Gì?” Dewey Haik đáp, không mấy vui vẻ.

“Tôi nghĩ ta cứ tống lão lên một chiếc khu trục hạm hay gì đó, để lão lẻn sang Pháp hoặc Anh... Tên hèn nhát khốn kiếp này xem chừng sợ chết... Dĩ nhiên, nếu lão dám trở về Hoa Kỳ, ta sẽ giết lão. Đưa lão ra ngoài rồi gọi cho Bộ trưởng Hải quân xin một con tàu và cho lão lên đó, được chứ?”

“Rất được, thưa ngài,” Haik nói, giọng còn kém vui hơn nữa.

Mọi việc thật dễ dàng. Quân đội, vốn tuân lệnh Haik trên cương vị Bộ trưởng Chiến tranh, đã chiếm đóng toàn bộ Washington.

Mười ngày sau, Buzz Windrip được đưa lên bờ tại Havre và thở dài đi Paris. Đây là lần đầu tiên ông được thấy châu Âu, ngoại trừ một chuyến du lịch Cook kéo dài hai mươi mốt ngày. Ông nhớ quê da diết—nhớ thuốc lá Chesterfield, bánh kếp, Moon Mullins và tiếng một con người thật sự nào đó nói “Ờ, cái gì cắn phải anh thế?” thay cho cái tiếng “oui?” ngớ ngẩn không bao giờ dứt này.

Ông ở lại Paris, tuy trở thành một dạng tiểu anh hùng bi kịch, như cựu vương Hy Lạp, Kerensky, các Đại công tước Nga, Jimmy Walker và vài cựu tổng thống Nam Mỹ cùng Cuba—những người hân hoan nhận lời mời đến các phòng khách nơi rượu sâm banh đủ ngon và thỉnh thoảng may ra gặp được người chịu nghe câu chuyện của mình rồi gọi mình là “ngài”.

Dẫu vậy, Buzz vẫn cười khùng khục: ông đã chơi được cho bọn bất lương ấy một vố, bởi trong hai năm ngọt ngào làm bạo chúa, ông đã chuyển bốn triệu đô-la ra nước ngoài, vào những tài khoản bí mật, an toàn. Và thế là Buzz Windrip bước vào những đoạn văn lảo đảo trong hồi ký của các cựu quý ông ngoại giao đeo kính một mắt. Trong phần đời còn lại của Cựu Tổng thống Windrip, mọi thứ đều là “cựu”. Thậm chí ông còn bị lãng quên đến mức chỉ có bốn hay năm sinh viên Mỹ tìm cách bắn ông.

Trước kia càng ngọt ngào khuyên nhủ và tâng bốc Buzz bao nhiêu, giờ đây phần đông môn đệ cũ của ông—Macgoblin, Thượng nghị sĩ Porkwood, bác sĩ Almeric Trout và những người còn lại—càng hăng hái lớn tiếng tuyên thệ trung thành với Tổng thống mới, Ngài Lee Sarason, bấy nhiêu.

Ông ta ban hành một bản tuyên cáo rằng mình đã phát hiện Windrip biển thủ tiền của nhân dân và âm mưu cùng Mexico nhằm tránh chiến tranh với đất nước đầy tội lỗi ấy; còn ông ta, Sarason, trong nỗi đau đớn và miễn cưỡng hết sức đáng lo ngại—bởi hơn bất cứ ai, chính ông ta đã bị người bạn giả danh Windrip lừa dối—đã thuận theo lời thúc giục của Nội các mà tiếp quản chức Tổng thống, thay vì Phó Tổng thống Beecroft, tên phản quốc đang lưu vong.

Tổng thống Sarason lập tức bắt đầu bổ nhiệm những người kiểu cách hơn trong đám bạn sĩ quan trẻ của mình vào các chức vụ trọng yếu nhất trong chính quyền và quân đội. Dường như ông ta lấy làm thích thú khi gây sốc cho thiên hạ bằng cách đưa một chàng trai hai mươi lăm tuổi má hồng, mắt ướt lên làm Ủy viên Đặc khu Liên bang, bao gồm Washington và Maryland. Chẳng phải ông ta là đấng tối cao, chẳng phải ông ta gần như thần thánh, như một hoàng đế La Mã đó sao? Chẳng lẽ ông ta không thể thách thức toàn thể đám đông lầy lội mà ông ta (xưa kia vốn là người Xã hội chủ nghĩa) đã đi đến chỗ khinh bỉ vì sự nhu nhược và vô tích sự của chúng?

“Giá mà toàn thể dân Mỹ chỉ có chung một cái cổ!” ông ta đạo văn giữa đám trai trẻ đang cười của mình.

Trong Nhà Trắng đoan trang của Coolidge, Harrison và Rutherford Birchard Hayes, ông ta tổ chức những cuộc truy hoan (tên gọi cũ của “tiệc tùng”), với những chân tay uốn lượn, những vòng hoa và rượu vang đựng trong những bản sao khá đạt của cốc uống rượu La Mã.

Những người bị cầm tù như Doremus Jessup khó lòng tin nổi, nhưng có đến vài vạn Corpo—trong hàng ngũ M.M., trong công vụ, trong quân đội và cả với tư cách cá nhân—coi chế độ phù phiếm của Sarason là một bi kịch.

Họ là những người Duy tâm của chủ nghĩa Corpo, và bên cạnh bọn bắt nạt cùng phường lừa đảo thì hạng người ấy có rất nhiều; họ là những người đàn ông và đàn bà mà vào năm 1935 và 1936 đã quay sang Windrip & Co., không phải vì coi đó là những con người hoàn hảo, mà vì coi họ là những vị cứu tinh nhiều khả năng nhất sẽ giải thoát đất nước khỏi, một bên là sự thống trị của Moscow, bên kia là thói lười nhác bạc nhược, sự thiếu vắng lòng tự trọng tử tế của một nửa thanh niên Mỹ—những kẻ mà thế giới của chúng (theo lời các nhà duy tâm ấy) được cấu thành từ thái độ uể oải chán ghét lao động và khước từ học cho thấu đáo bất cứ điều gì, từ nhạc khiêu vũ gào inh ỏi trên radio, xe hơi điên loạn, dục tính nhễu nhão, cái hài hước và nghệ thuật của truyện tranh—từ một tâm lý nô lệ đang biến nước Mỹ thành vùng đất cho những con người cứng rắn hơn cướp bóc.

Tướng Emmanuel Coon là một trong những người Duy tâm Corpo ấy.

Những người như vậy không dung thứ các vụ sát nhân dưới chế độ Corpo. Nhưng họ khăng khăng: “Đây là một cuộc cách mạng, mà xét cho cùng, trong toàn bộ lịch sử đã từng có cuộc cách mạng nào ít đổ máu đến thế?”

Họ phấn khích trước cảnh tượng huy hoàng của chủ nghĩa Corpo: những cuộc biểu dương lực lượng khổng lồ, với cờ đỏ đen phấp phới tráng lệ như mây giông. Họ tự hào về những con đường, bệnh viện, đài truyền hình và tuyến hàng không mới của Corpo; họ xúc động trước những đoàn diễu hành của Thanh niên Corpo, gương mặt ngời lên niềm kiêu hãnh về những huyền thoại anh hùng Corpo, về sức mạnh Sparta trong sạch và thần tính nửa vời của Người Cha che chở tất cả, Tổng thống Windrip. Họ tin, họ buộc mình tin rằng trong Windrip, những đức tính của Andy Jackson, Farragut và Jeb Stuart đã sống lại, thay cho vẻ rẻ tiền phàm tục của đám vận động viên chuyên nghiệp—những anh hùng duy nhất của năm 1935.

Những nhà duy tâm ấy dự định sẽ sửa chữa nhanh nhất có thể những sai lầm về sự tàn bạo và gian trá trong hàng ngũ quan chức. Họ thấy một nền nghệ thuật Corpo, một nền học vấn Corpo sâu sắc và chân thực đang vươn lên, thoát khỏi thói trưởng giả truyền thống của các đại học thuở trước, dũng mãnh nhờ tuổi trẻ, và lại càng đẹp hơn vì nó “hữu dụng”. Họ tin chắc rằng chủ nghĩa Corpo là chủ nghĩa Cộng sản đã được tẩy sạch khỏi sự thống trị của ngoại bang cùng bạo lực và nỗi nhục của nền độc tài đám đông; là chủ nghĩa Quân chủ với người anh hùng do nhân dân lựa chọn làm quân vương; là chủ nghĩa Phát xít không có những kẻ lãnh đạo tham lam ích kỷ; là tự do có trật tự và kỷ luật; là nước Mỹ Truyền thống không còn thói hoang phí cùng vẻ tự đắc tỉnh lẻ.

Như mọi kẻ cuồng tín tôn giáo, họ có được năng lực mù quáng trời ban, và chẳng bao lâu họ đã tin chắc rằng (vì những tờ báo duy nhất họ đọc dĩ nhiên chẳng hề nói gì đến chuyện ấy) không còn những hành động tàn ác vấy máu tại tòa án và trại tập trung; không còn hạn chế đối với ngôn luận hay tư tưởng. Họ tin rằng mình không bao giờ chỉ trích chế độ Corpo, không phải vì bị kiểm duyệt, mà bởi “chuyện kiểu ấy, cũng như sự tục tĩu, là cách hành xử tồi tệ hết sức”.

Và những nhà duy tâm ấy cũng sửng sốt, hoang mang trước cuộc đảo chính của Sarason chống lại Windrip chẳng kém gì chính ông Berzelius Windrip.

Haik, vị Bộ trưởng Chiến tranh khắc nghiệt, quở trách Tổng thống Sarason về ảnh hưởng của ông ta đối với đất nước, đặc biệt là với binh lính. Lee cười nhạo ông, nhưng có lần lại được lời ca ngợi của Haik về tài năng nghệ thuật tâng bốc đến mức viết tặng ông một bài thơ. Về sau, đó là bài thơ được hàng triệu người hát; thực tế, nó là khúc quân ca nổi tiếng nhất trong số những bài ca lính tráng sẽ tự nhiên bật ra từ các thi sĩ binh nhì vô danh trong cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Mexico. Chỉ có điều, vì cũng là một tín đồ ngoan đạo của ngành Quảng cáo Hiện đại chẳng kém chính Sarason, Haik mẫn cán muốn khuyến khích sự sản sinh tự phát của những khúc dân ca ái quốc ấy bằng cách cung cấp sẵn cả sự bật ra tự động lẫn thi sĩ vô danh. Ông có tầm nhìn xa, có tài “kiến tạo tiên tri”, ngang một nhà sản xuất xe hơi.

Sarason cũng háo hức muốn gây chiến với Mexico (hoặc Ethiopia, Siam, Greenland hay bất cứ nước nào khác có thể cho những họa sĩ trẻ cưng của ông ta cơ hội vẽ Sarason trong tư thế anh hùng giữa thảm thực vật kỳ lạ) chẳng kém Haik; không chỉ để cho đám bất mãn có một thứ bên ngoài đất nước mà nổi giận, mà còn để chính mình có cơ hội lên hình thật đẹp. Ông ta đáp ứng yêu cầu của Haik bằng cách viết một khúc đồng ca quân đội vui nhộn vào lúc trên lý thuyết, đất nước vẫn hoàn toàn hữu hảo với Mexico. Nó được hát theo điệu “Mademoiselle from Armentières”—hay “Armenteers”. Dù tiếng Tây Ban Nha trong đó hơi xiêu vẹo, hàng triệu người về sau vẫn hiểu rằng “Habla oo?” thay cho “¿Habla usted?”, nghĩa là “Parlez-vous?” Bài hát như sau, vừa tuôn ra từ chiếc máy chữ màu tía nhưng bốc khói của Sarason:

Señorita từ Guadalupe, Qui usted? Señorita đi lăn vòng đi, Không thì lên giường! Señorita từ Guadalupe, Padre trông thấy là ta khốn đấy, Hinky, dinky, habla oo?

Señorita từ Monterey, Hiểu lính Yank chứ? Señorita, cô nói gì đây? Cô người Thụy Điển, tui nghĩ thế! Nhưng Señorita từ Monterey, Lên ổ rơm rồi cô chẳng hablar đâu, Hinky, dinky, habla oo?

Señorita từ Mazatlán, Một khi mình gặp, Cô sẽ cười rạng rỡ trên gương mặt kaki, Cô chẳng quên đâu! Bao ngày cô sẽ gào: “Ôi, thật là đàn ông!” Và cô chẳng bao giờ lấy một gã Mexico. Hinky, dinky, habla oo?

Nếu đôi lúc Tổng thống Sarason có vẻ phù phiếm, thì ông ta tuyệt nhiên không như thế trong phần việc của mình thuộc công cuộc chuẩn bị chiến tranh một cách khoa học—tức là tập cho các dàn đồng ca M.M. nghêu ngao bài vè này với vẻ tự phát đã được huấn luyện kỹ càng.

Bạn ông ta, Hector Macgoblin, nay là Bộ trưởng Ngoại giao, bảo Sarason rằng khúc đồng ca đầy nam tính này là một trong những sáng tạo vĩ đại nhất của ông ta. Tuy bản thân không tham gia những trò tiêu khiển lúc nửa đêm có phần khác thường của Sarason, Macgoblin vẫn lấy làm thích thú, và thường bảo Sarason rằng trong toàn bộ cái bọn áo mũ bảnh chọe này, kể cả Haik, ông ta là thiên tài sáng tạo độc đáo duy nhất.

“Anh phải để mắt đến tên Haik chết tiệt ấy, Lee,” Macgoblin nói. “Hắn tham vọng, hắn là đồ khỉ đột, lại là một tín đồ Thanh giáo sùng đạo; cái tổ hợp ba thứ ấy làm tôi phát sợ. Binh lính ưa hắn.”

“Vớ vẩn! Hắn chẳng có sức lôi cuốn gì với họ. Hắn chỉ là một tay kế toán quân sự chính xác thôi,” Sarason nói.

Đêm ấy, ông ta mở một bữa tiệc mà để đổi món—khiến đám thân cận khá sốc—ông ta thực sự cho các cô gái hiện diện và biểu diễn vài điệu múa kỳ lạ. Sáng hôm sau Haik khiển trách ông ta, và—Sarason đang chịu trận say—bị ông ta quát tháo. Đêm ấy, đúng một tháng sau khi Sarason tiếm chức Tổng thống, Haik ra tay.

Lần này không có trò dao găm đầy kịch tính với cánh tay giơ cao—dù theo đúng truyền thống, Haik vẫn đến vào đêm khuya, vì mọi tên Phát xít, cũng như mọi kẻ say rượu, dường như đều hoạt động hăng nhất về đêm. Haik dẫn đội quân xung kích tuyển chọn của mình tiến vào Nhà Trắng, bắt gặp Tổng thống Sarason mặc bộ đồ ngủ lụa màu tím giữa đám bạn, bắn chết Sarason cùng phần lớn những kẻ đồng hành rồi tuyên bố mình là Tổng thống.

Hector Macgoblin trốn bằng máy bay sang Cuba, rồi đi tiếp. Khi được nhìn thấy lần cuối, ông đang sống tít trên vùng núi Haiti, chỉ mặc một chiếc áo lót, quần vải drill trắng cáu bẩn, dép cỏ, để bộ râu dài màu hung; hết sức khỏe mạnh và hạnh phúc, ở trong một túp lều một gian cùng một cô gái bản địa xinh đẹp, hành nghề y học hiện đại và nghiên cứu tà thuật voodoo cổ xưa.

Đến khi Dewey Haik trở thành Tổng thống, bấy giờ nước Mỹ mới thực sự bắt đầu nếm chút khổ đau, và nhớ nhung những ngày dân chủ, tự do tốt đẹp xa xưa dưới thời Windrip.

Windrip và Sarason không hề phiền lòng trước cảnh vui đùa, khiêu vũ ngoài đường phố, miễn là những trò ấy có thể bị đánh thuế cho thích đáng. Haik thì căm ghét những thứ đó về nguyên tắc. Có lẽ chỉ trừ việc là kẻ vô thần về phương diện thần học, ông ta là một tín đồ Cơ Đốc chính thống nghiêm ngặt. Ông ta là người đầu tiên nói thẳng với dân chúng rằng họ sẽ chẳng được hưởng năm nghìn đô-la một năm nào hết, mà thay vào đó sẽ “gặt hái lợi ích của Kỷ luật và của Nhà nước Toàn trị Khoa học, không phải bằng những con số suông trên giấy mà bằng những món cổ tức khổng lồ của Niềm kiêu hãnh, Lòng ái quốc và Quyền lực.” Ông ta tống khỏi quân đội mọi sĩ quan không chịu nổi hành quân và khát nước; và tống khỏi ngành dân sự mọi ủy viên—trong đó có một Francis Tasbrough—đã vơ vét của cải quá dễ dàng và quá lộ liễu.

Ông ta cai trị cả quốc gia như một đồn điền được quản lý đâu ra đấy, nơi đám nô lệ được cho ăn no hơn trước, ít bị bọn cai hành lừa bịp hơn, và bị bắt bận rộn đến mức chỉ còn thời gian làm việc và ngủ, nhờ vậy hiếm khi sa vào những thói hư làm suy nhược như cười, hát (trừ những bài chiến ca chống Mexico), than phiền hay suy nghĩ. Dưới thời Haik, tại các đồn Minute Men và các trại tập trung có ít vụ đánh đập hơn, bởi theo chỉ thị của ông ta, các sĩ quan không được phí thời gian vào thú vui đánh đập những kẻ—đàn ông, đàn bà hay trẻ con—dám tuyên bố rằng họ chẳng muốn làm nô lệ, dù trên đồn điền tốt nhất; mà cứ việc bắn chết tại chỗ.

Haik tận dụng giới giáo sĩ—Tin Lành, Công giáo, Do Thái giáo và Tự do-Bất khả tri—đến mức Windrip và Sarason chưa từng làm. Trong khi có rất nhiều giáo sĩ, như mục sư Falck và cha Stephen Perefixe, như Hồng y Faulhaber và Mục sư Niemoeller ở Đức, coi việc phẫn nộ trước cảnh đàn chiên được giao cho mình bị nô dịch và tra tấn là một phần bổn phận Cơ Đốc, thì cũng có rất nhiều nhân vật danh tiếng khả kính trong giới tu hành, đặc biệt là các mục sư ở thành phố lớn có bài giảng được báo chí tường thuật vào mỗi sáng thứ Hai, mà chủ nghĩa Corpo đã trao cho cơ hội làm người ái quốc một cách ồn ào và sinh lợi. Đó là những tuyên úy trong tâm tưởng, những người, nếu chưa có cuộc chiến nào để họ khiêm nhường góp phần thanh tẩy và an ủi những chàng trai dũng cảm đáng thương đang chiến đấu, thì rất vui lòng góp phần tạo ra một cuộc chiến như thế.

Những vị chủ chăn thực tế hơn này, vì cũng như bác sĩ và luật sư, họ có khả năng đánh cắp những bí mật tận đáy lòng người, đã trở thành những mật thám được trọng dụng trong những tháng khó khăn sau tháng Hai năm 1939, khi Haik đang ra sức gây chiến với Mexico. (Canada? Nhật Bản? Nga? Những nước ấy sẽ đến lượt sau.) Bởi ngay cả khi có một đạo quân nô lệ, vẫn cần phải thuyết phục họ rằng họ là những người tự do, những chiến sĩ chiến đấu vì nguyên tắc tự do, nếu không thì lũ khốn ấy rất có thể sẽ chạy sang gia nhập quân thù!

Vị minh quân Haik trị vì như thế đấy, và nếu trong khắp cõi giang sơn có kẻ nào bất mãn, thì bạn chẳng bao giờ nghe hắn lên tiếng—đến lần thứ hai.

Và tại Nhà Trắng, nơi dưới thời Sarason đám thanh niên trơ trẽn từng khiêu vũ, thì dưới triều đại mới của chính nghĩa và dùi cui, bà Haik, một quý bà đeo kính với nụ cười thân tình đầy cương quyết, đã khoản đãi W.C.T.U., Y.W.C.A. và Liên đoàn Phụ nữ chống Chủ nghĩa Cấp tiến Đỏ, cùng những ông chồng vốn dĩ chỉ là thành phần phụ đính kèm của họ, bằng một phiên bản Washington phóng đại và tô màu bằng tay của chính những buổi tiệc mà bà từng tổ chức tại căn nhà gỗ của gia đình Haik ở Eglantine, Oregon.