Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 5

Chương 5 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây

Tôi biết giới Báo chí quá rõ. Hầu như mọi biên tập viên đều ẩn mình trong những hang nhện, những kẻ chẳng màng đến Gia đình hay Lợi ích Công cộng hay niềm vui giản dị của những chuyến dạo chơi ngoài trời, chỉ lo mưu tính cách tung ra những lời dối trá, củng cố địa vị bản thân và nhét đầy ví tiền tham lam bằng việc vu khống các Chính khách đã hiến dâng tất cả cho lợi ích chung và dễ bị công kích chỉ vì họ nổi bật dưới Ánh sáng dữ dội rọi quanh Ngai báu.

Giờ Số Không, Berzelius Windrip.

Buổi sáng tháng Sáu rạng ngời; những cánh hoa anh đào dại cuối cùng nằm đẫm sương trên cỏ; lũ chim cổ đỏ đang thoăn thoắt lo công việc của chúng ngoài bãi cỏ. Vốn có thói quen nằm nướng và tranh thủ chợp mắt sau khi được gọi dậy lúc tám giờ, Doremus bỗng nổi hứng bật dậy, đứng trước cửa sổ vươn thẳng hai tay đủ năm sáu lượt theo lối thể dục Thụy Điển, mắt nhìn qua Thung lũng Sông Beulah tới những khối thông sẫm màu trên sườn núi cách đó ba dặm.

Mười lăm năm nay, Doremus và Emma mỗi người có một phòng ngủ riêng, điều không hoàn toàn khiến bà vui lòng. Ông quả quyết rằng mình không thể ngủ chung phòng với bất kỳ người sống nào, bởi ông hay lẩm bẩm trong đêm và thích mỗi lần trở mình phải làm cho thật ra trò—nhổm hẳn dậy, đập gối phành phạch—mà không phải áy náy rằng mình đang quấy rầy ai.

Hôm ấy là thứ Bảy, ngày Prang sẽ công bố điều hệ trọng, nhưng trong buổi sáng trong vắt này, sau bao ngày mưa, ông chẳng nghĩ gì đến Prang, mà chỉ nghĩ đến việc Philip, con trai ông, cùng vợ bất ngờ từ Worcester về nghỉ cuối tuần, và cả đoàn bọn họ, cộng thêm Lorinda Pike và Buck Titus, sẽ đi dự một “cuộc dã ngoại gia đình thực thụ, theo lối cổ truyền”.

Tất cả đều khăng khăng đòi đi, ngay cả cô nàng Sissy sành điệu, một thiếu nữ ở tuổi mười tám hết sức bận tâm đến những buổi trà sau trận quần vợt, môn golf và những chuyến ô tô bí hiểm, nhanh đến kinh hồn với Malcolm Tasbrough (sắp tốt nghiệp trung học), hoặc với Julian Falck, cháu trai vị mục sư Anh giáo (sinh viên năm nhất ở Amherst). Doremus đã mắng rằng ông KHÔNG THỂ đi dã ngoại dã ghiếc gì hết; với tư cách biên tập viên, BỔN PHẬN của ông là ở nhà nghe chương trình phát thanh của Giám mục Prang lúc hai giờ; nhưng họ cười nhạo, vò rối tóc ông, gọi ông đủ thứ tên, cho đến khi ông chịu hứa... Họ không biết rằng ông đã ranh mãnh mượn một chiếc máy thu thanh xách tay của bạn mình, linh mục Công giáo La Mã địa phương, Cha Stephen Perefixe, và dù thế nào ông cũng sẽ nghe Prang.

Ông vui vì Lorinda Pike sẽ đi cùng—ông rất mến vị thánh hay giễu cợt ấy—và cả Buck Titus, có lẽ là người bạn thân thiết nhất của ông.

James Buck Titus đã năm mươi nhưng nom chỉ ba mươi tám, dáng thẳng, vai rộng, eo thon, ria mép dài, nước da ngăm—Buck thuộc mẫu người Mỹ Cổ kiểu Dan’l Boone, hoặc có lẽ là một đại úy kỵ binh chuyên đánh người Da đỏ bước ra từ tiểu thuyết của Charles King. Ông tốt nghiệp Williams, từng ở Anh mười tuần và sống mười năm tại Montana, chia đều thời gian cho việc nuôi bò, tìm mỏ và điều hành một trại gây giống ngựa. Cha ông, một nhà thầu đường sắt khá giàu có, để lại cho ông trang trại lớn gần West Beulah, và Buck trở về quê trồng táo, gây giống ngựa đực Morgan, rồi đọc Voltaire, Anatole France, Nietzsche và Dostoyefsky. Trong chiến tranh, ông phục vụ với cấp bậc binh nhì; căm ghét các sĩ quan, từ chối nhận quân hàm và lại ưa những người Đức ở Cologne. Ông là một tay chơi polo hữu dụng, nhưng coi trò cưỡi ngựa săn cáo là trẻ con. Về chính trị, ông không hẳn đau đáu trước những bất công mà giới Lao động phải chịu, cho bằng khinh miệt bọn bóc lột keo kiệt rúc trong văn phòng và nhà máy hôi thối. Ở Mỹ, khó tìm được ai gần với mẫu địa chủ quý phái miền quê nước Anh hơn ông. Ông sống độc thân trong một ngôi nhà lớn kiểu giữa thời Victoria, được một cặp vợ chồng người da đen thân thiện chăm nom chu đáo; một nơi ngăn nắp, thỉnh thoảng ông dùng để tiếp đãi những quý bà không được ngăn nắp bằng. Ông tự gọi mình là “người theo thuyết bất khả tri” thay vì “kẻ vô thần” chỉ vì căm ghét lối truyền đạo la lối ngoài đường, rao bán truyền đơn của những kẻ vô thần chuyên nghiệp. Ông hay hoài nghi cay độc, hiếm khi mỉm cười và trung thành không lay chuyển với tất cả người nhà Jessup. Việc ông đến dự cuộc dã ngoại khiến Doremus vui phơi phới chẳng kém gì cháu ngoại David.

“Có lẽ ngay cả dưới chế độ Phát xít, ‘đồng hồ nhà thờ vẫn sẽ chỉ ba giờ kém mười, và trà chiều vẫn còn mật ngọt,’” Doremus hy vọng khi khoác lên người bộ đồ vải tuýt đồng quê có phần đỏm dáng.

Vết gợn duy nhất trong công việc chuẩn bị cho chuyến dã ngoại là vẻ cáu kỉnh của người làm thuê, Shad Ledue. Khi được bảo quay máy làm kem, hắn gầm gừ: “Quỷ thật, sao các người không sắm một cái máy làm kem chạy điện?” Hắn càu nhàu, rõ to, về sức nặng của những giỏ đồ ăn, và khi được bảo dọn dẹp tầng hầm trong lúc mọi người đi vắng, hắn chỉ đáp lại bằng một cái trừng mắt giận dữ, lặng thinh.

“Bố nên tống cổ gã Ledue ấy đi,” Philip, con trai Doremus, một luật sư, thúc giục.

“Ồ, bố cũng không biết nữa,” Doremus trầm ngâm. “Có lẽ chỉ vì bố lười. Nhưng bố vẫn tự nhủ mình đang làm một thí nghiệm xã hội—cố huấn luyện hắn trở nên nhã nhặn ngang với một người Neanderthal bình thường. Hoặc có lẽ bố sợ hắn—hắn thuộc hạng nông dân thù dai có thể phóng hỏa đốt kho... Con có biết hắn thực sự chịu đọc không, Phil?”

“Không!”

“Có đấy. Chủ yếu là tạp chí điện ảnh đầy các cô gái trần truồng với truyện miền Tây Hoang dã, nhưng hắn cũng đọc báo. Hắn bảo bố rằng hắn vô cùng ngưỡng mộ Buzz Windrip; nói Windrip nhất định sẽ trở thành Tổng thống, rồi mọi người—mà bố e rằng, với Shad, ‘mọi người’ chỉ có nghĩa là chính hắn—sẽ được năm nghìn đôla mỗi năm. Những kẻ đi theo Buzz quả là cả một đoàn nhà từ thiện.”

“Bố nghe con nói đây. Bố không hiểu Thượng nghị sĩ Windrip đâu. Ồ, ông ấy có hơi mị dân—ông ấy cứ bô bô rằng sẽ tăng mạnh thuế thu nhập và tóm lấy các ngân hàng, nhưng ông ấy sẽ không làm thế đâu—đó chỉ là mật đường nhử gián thôi. Điều ông ấy sẽ làm, và có lẽ chỉ mình ông ấy MỚI CÓ THỂ làm, là bảo vệ chúng ta khỏi bọn Bolshevik giết người, trộm cắp, dối trá, những kẻ sẽ—chà, chúng chỉ muốn nhét tất cả chúng ta, những người sắp đi dã ngoại đây, tất cả những người tử tế, sạch sẽ, vốn quen có đời tư riêng, vào những căn buồng chật hẹp bên hành lang, rồi bắt chúng ta nấu xúp bắp cải trên một cái bếp Primus đặt ngay trên giường! Phải, hoặc có khi ‘thanh toán’ sạch chúng ta! Không đâu, Berzelius Windrip chính là người sẽ chặn đứng bọn gián điệp Do Thái bẩn thỉu, lén lút đội lốt những người Tự do Mỹ!”

“Gương mặt vẫn là gương mặt của Philip, đứa con trai tương đối có năng lực của bố, nhưng giọng nói lại là giọng của Julius Streicher, kẻ kích động bài Do Thái,” Doremus thở dài.

Bãi dã ngoại nằm giữa một quần thể tựa Stonehenge gồm những tảng đá xám loang địa y, phía trước một rừng bạch dương trên cao ở Mount Terror, thuộc trang trại miền cao của Henry Veeder, anh họ Doremus, một người Vermont kiểu xưa vững chãi và kiệm lời. Qua một khe núi xa xăm, họ nhìn thấy ánh thủy ngân mờ nhạt của Hồ Champlain và, bên kia hồ, thành lũy Adirondacks.

Davy Greenhill và người hùng của nó, Buck Titus, vật nhau trên lớp cỏ đồng dai chắc. Philip và bác sĩ Fowler Greenhill, con rể Doremus (Phil mập mạp, mới ba mươi hai đã hói nửa đầu; Fowler tóc đỏ, ria đỏ, dáng điệu hùng hổ), tranh luận về ưu điểm của máy bay cánh quay tự do. Doremus nằm gối đầu vào một tảng đá, kéo mũ sụp trên mắt, nhìn xuống chốn thiên đường của Thung lũng Beulah—ông không dám thề chắc, nhưng dường như ông thấy một thiên thần đang lơ lửng trong tầng không rực sáng phía trên thung lũng. Những người phụ nữ—Emma và Mary Greenhill, Sissy, vợ Philip và Lorinda Pike—đang bày bữa trưa dã ngoại lên tấm khăn bàn đỏ trắng trải trên một phiến đá phẳng: một nồi đậu với thịt lợn muối giòn, gà rán, khoai tây hâm lại cùng bánh mì nướng giòn, bánh quy dùng với trà, thạch táo dại, rau trộn, bánh nho khô.

Nếu không có những chiếc ô tô đỗ đó, cảnh tượng này hẳn đã là New England năm 1885, và người ta có thể trông thấy các bà đội mũ rơm bện, mặc váy áo chẽn eo, cổ cao, phía sau độn phồng; các ông đội mũ rơm vành phẳng với dải băng lòng thòng, hai bên má điểm đôi hàng râu quai nón—riêng bộ râu của Doremus không cắt tỉa mà buông dài như khăn voan cô dâu. Khi bác sĩ Greenhill đưa ông anh họ Henry Veeder xuống, một nông dân lực lưỡng nhưng khá nhút nhát từ thời tiền-Ford, mặc bộ quần áo liền thân sạch sẽ đã bạc màu, thì Thời Gian lại một lần nữa trở nên thứ không thể mua bán, vững vàng, thanh thản.

Và câu chuyện trò mang vẻ vụn vặt dễ chịu, một sự tẻ nhạt kiểu Victoria đầy trìu mến. Doremus có bồn chồn đến đâu về “tình hình” đi nữa, Sissy có nôn nóng thất thường đến đâu vì mong hai chàng theo đuổi mình là Julian Falck và Malcolm Tasbrough xuất hiện đi nữa, thì vẫn chẳng có gì hiện đại và thần kinh, chẳng có chút dư vị nào của Freud, Adler, Marx, Bertrand Russell hay bất kỳ vị thần nào khác của thập niên 1930, khi mẹ Emma ríu rít kể với Mary và Merilla về những bụi hồng đã “chết cóng trong mùa đông”, những cây phong non mới trồng bị chuột đồng gặm, chuyện sai Shad Ledue mang đủ củi vào lò sưởi khó khăn thế nào, và chuyện Shad ngốn ngấu sườn lợn, khoai tây chiên cùng bánh nướng vào bữa trưa mà hắn ăn tại nhà Jessup ra sao.

Và còn Phong Cảnh. Mấy người phụ nữ nói về Phong Cảnh như những đôi hưởng tuần trăng mật thuở trước nói về thác Niagara.

David và Buck Titus lúc này đang chơi trò tàu thủy trên một mỏm đá chênh vênh—đó là đài chỉ huy, David làm thuyền trưởng Popeye, còn Buck làm thủy thủ trưởng; và ngay cả bác sĩ Greenhill, nhà thập tự chinh bồng bột vẫn thường xuyên làm hội đồng y tế quận nổi giận vì báo cáo tình trạng nhếch nhác của trại tế bần cùng mùi hôi thối trong nhà tù quận, cũng lười nhác phơi mình dưới nắng và hết sức chăm chú bắt một con kiến nhỏ tội nghiệp chạy tới chạy lui trên một cành cây. Vợ ông, Mary—tay chơi golf, người từng về nhì trong các giải quần vợt cấp bang, chủ nhân những buổi cocktail thanh lịch nhưng không quá chè chén tại câu lạc bộ đồng quê, người vẫn diện những bộ đồ tuýt nâu sang trọng với khăn quàng xanh—dường như đã duyên dáng lui về nếp nội trợ của mẹ mình, và coi công thức làm bánh sandwich cần tây với pho mát Roquefort trên bánh quy xô-đa nướng là một vấn đề vô cùng hệ trọng. Cô lại trở thành Cô Con Gái Lớn nhà Jessup xinh đẹp thuở nào, trở về ngôi nhà trắng có mái mansard.

Còn Foolish, nằm ngửa với bốn chân khua khoắng ngớ ngẩn, lại là kẻ mang vẻ đồng quê cổ lỗ nhất trong tất cả.

Lần duy nhất câu chuyện bùng lên nghiêm túc là khi Buck Titus gầm gừ với Doremus: “Dạo này đúng là lắm Đấng Cứu Thế nấp trong bụi rậm bắn tỉa ông quá nhỉ—Buzz Windrip này, Giám mục Prang này, Cha Coughlin này, bác sĩ Townsend này (dù hình như ông ta đã về lại Nazareth rồi), rồi Upton Sinclair, Mục sư Frank Buchman, Bernarr Macfadden, Willum Randolph Hearst, Thống đốc Talmadge, Floyd Olson, rồi—Này, tôi thề Đấng Cứu Thế khá nhất trong cả gánh hát chính là tay da đen Cha Divine này. Ông ta không chỉ hứa mười năm nữa sẽ cho những người Thấp Cổ Bé Họng ăn—ông ta phát luôn đùi gà rán với mề gà, kèm theo cả Sự Cứu Rỗi. Đưa ÔNG TA lên làm Tổng thống thì sao?”

Chẳng biết từ đâu, Julian Falck xuất hiện.

Chàng trai trẻ này, sinh viên năm thứ nhất tại Amherst trong năm vừa qua, là cháu nội vị mục sư Episcopal và sống cùng ông nội vì cha mẹ đã mất, trong mắt Doremus là người gần như dễ chịu nhất trong số những chàng theo đuổi Sissy. Cậu tóc vàng kiểu Thụy Điển, mình dây, khuôn mặt nhỏ nhắn gọn gàng và đôi mắt tinh khôn. Cậu gọi Doremus là “thưa ông”, và khác với phần lớn những chàng trai mười tám tuổi ở Fort bị radio cùng ô tô mê hoặc, cậu từng đọc một cuốn sách, lại còn tự nguyện đọc—đọc Thomas Wolfe và William Rollins, John Strachey và Stuart Chase cùng Ortega. Sissy thích cậu hơn Malcolm Tasbrough hay không thì cha cô chẳng biết. Malcolm cao lớn, vạm vỡ hơn Julian, lại tự lái chiếc De Soto thân thuôn của riêng mình, trong khi Julian chỉ có thể mượn chiếc xe cà tàng cổ lỗ đến phát khiếp của ông nội.

Sissy và Julian vui vẻ cãi vặt về tài chơi cờ thỏ cáo của Alice Aylot, còn Foolish ngồi gãi mình dưới nắng.

Nhưng Doremus chẳng hề có tâm trạng điền viên. Ông đang lo lắng và làm việc đầy khoa học. Trong lúc những người khác giễu: “Bao giờ thì bố đi thử giọng đấy?” và “Ông ấy đang học làm gì thế—ca sĩ rù rì hay phát thanh viên khúc côn cầu?”, Doremus loay hoay chỉnh chiếc radio xách tay bắt sóng chập chờn. Có lúc ông tưởng mình sắp hòa được vào bầu không khí Mái Nhà Êm Ấm cùng mọi người, vì ông bắt trúng một chương trình ca khúc xưa, và tất cả, kể cả ông anh họ Henry Veeder, người vẫn giấu kín niềm say mê dành cho các nghệ sĩ vĩ cầm, những buổi khiêu vũ trong kho thóc cùng đàn organ phòng khách, đều ngân nga “Chàng Hát Rong Vui Bước”, “Thiếu Nữ Athens” và “Nelly Gray Yêu Dấu”. Nhưng khi phát thanh viên cho biết những khúc hát ngắn này được tài trợ bởi Toily Oily, Thuốc Nhuận Tràng Tự Nhiên Cho Gia Đình, và do một ban sáu nam thanh niên mang cái tên kinh khủng là “Những Chàng Mượt Mà” trình bày, Doremus lập tức tắt phụt.

“Ơ, có chuyện gì thế bố?” Sissy kêu lên.

“‘Những Chàng Mượt Mà’! Lạy Chúa! Đất nước này đáng phải nhận lấy cái sắp giáng xuống đầu nó!” Doremus quát. “Có khi chúng ta cần một Buzz Windrip thật!”

Và rồi đến thời khắc—lẽ ra phải được loan báo bằng chuông đại giáo đường—của bài diễn thuyết hằng tuần do Giám mục Paul Peter Prang trình bày.

Phóng ra từ một gian buồng ngột ngạt phảng phất mùi bộ đồ lót len liền thân của giới giáo sĩ ở Persepolis, Indiana, nó vọt tới những vì sao xa xôi nhất; nó vòng quanh thế giới với vận tốc 186.000 dặm một giây—một triệu dặm trong lúc người ta dừng tay gãi ngứa. Nó ập vào khoang một con tàu săn cá voi trên vùng biển địa cực tối đen; vào một văn phòng ốp gỗ sồi chạm nếp vải, cướp từ một lâu đài ở Nottinghamshire, trên tầng sáu mươi bảy của một tòa nhà tại Wall Street; vào Bộ Ngoại giao ở Tokio; vào hõm đá bên dưới những cây bạch dương sáng ngời trên núi Terror, Vermont.

Giám mục Prang cất tiếng, như thường lệ, với vẻ nhân từ trầm trọng, một âm hưởng hùng hồn cương nghị, khiến bản thân ông, bằng phép màu theo con đường vô hình trong không trung mà đến với họ, vừa có sức chế ngự lại vừa phảng phất duyên dáng; và bất kể mục đích của ông là gì, lời ông vẫn đứng về phía các Thiên Thần:

“Hỡi các bạn đang nghe đài, trước các đại hội toàn quốc sẽ định đoạt vận mệnh của quốc gia quẫn loạn này, tôi chỉ còn sáu lời thỉnh cầu hằng tuần nữa để gửi tới các bạn, và giờ đây đã đến lúc hành động—hành động! Nói thế là đủ! Xin cho phép tôi ghép lại vài câu rời rạc trong chương sáu sách Jeremiah, những câu dường như đã được viết như lời tiên tri cho chính giờ phút khủng hoảng tuyệt vọng này của nước Mỹ:

“‘Hỡi con cái Benjamin, hãy tụ họp lại mà chạy trốn khỏi giữa Jerusalem... Hãy chuẩn bị chiến tranh... hãy đứng dậy, chúng ta sẽ tiến lên vào giữa trưa. Khốn thay cho chúng ta! vì ngày đã xế, vì bóng chiều đã trải dài. Hãy đứng dậy, chúng ta sẽ đi trong đêm và phá hủy các cung điện của nó... Ta đầy cơn thịnh nộ của Chúa; ta đã mệt mỏi vì phải nén giữ trong lòng; ta sẽ trút nó xuống trẻ nhỏ ngoài đường và cả đoàn thanh niên tụ họp; bởi người chồng cùng người vợ đều sẽ bị bắt, người già cùng kẻ tuổi cao tác lớn... Ta sẽ giơ tay đánh xuống cư dân xứ này, Chúa phán vậy. Vì từ kẻ nhỏ nhất cho đến người lớn nhất, ai nấy đều tham lam; và từ nhà tiên tri cho đến thầy tế lễ, ai nấy đều hành xử gian dối... miệng nói Bình an, Bình an, trong khi chẳng có Bình an!’”

“Sách Thánh thuở xưa đã phán như vậy... Nhưng lời ấy cũng được phán cho nước Mỹ của năm 1936!”

“Không có Hòa bình! Suốt hơn một năm nay, Liên đoàn Những Người Bị Lãng quên đã cảnh cáo các chính khách, cảnh cáo toàn thể chính quyền, rằng chúng ta đã chán ngấy đến tận cổ cảnh bị Tước đoạt—và rằng, rốt cuộc, lực lượng chúng ta đã vượt quá năm mươi triệu người; không phải một đám đông chỉ biết rên rỉ, mà có ý chí, có tiếng nói, có PHIẾU BẦU để thực thi chủ quyền của mình! Chúng ta đã báo cho mọi chính khách biết, bằng những lời không thể nào hiểu lầm, rằng chúng ta yêu cầu—rằng chúng ta ĐÒI HỎI—một số biện pháp nhất định, và chúng ta sẽ không dung thứ bất kỳ sự trì hoãn nào. Hết lần này đến lần khác, chúng ta đã đòi quyền kiểm soát tín dụng cũng như quyền phát hành tiền tệ phải được tước bỏ hoàn toàn khỏi tay các ngân hàng tư nhân; đòi những người lính không những phải nhận được khoản tiền thưởng mà họ đã dùng máu và đau khổ của mình để giành lấy một cách quá đỗi xứng đáng trong những năm ’17 và ’18, mà số tiền đã thỏa thuận ấy giờ đây còn phải được tăng gấp đôi; đòi mọi khoản thu nhập phình trướng phải bị giới hạn nghiêm ngặt, và tài sản thừa kế phải bị cắt giảm xuống những khoản nhỏ, chỉ đủ chu cấp cho người thừa kế khi còn trẻ và lúc tuổi già; đòi các nghiệp đoàn lao động và nông dân không chỉ được công nhận là công cụ thương lượng tập thể mà còn phải trở thành, như các công đoàn ở Ý, những bộ phận chính thức của chính quyền, đại diện cho giới cần lao; và đòi nền Tài chính Do Thái Quốc tế, cũng như chủ nghĩa Cộng sản, chủ nghĩa Vô chính phủ và chủ nghĩa Vô thần Do Thái Quốc tế, phải bị cấm tuyệt mọi hoạt động, với tất cả vẻ nghiêm nghị trang trọng và sự cứng rắn không lay chuyển mà quốc gia vĩ đại này có thể phô bày. Những ai từng nghe tôi nói trước đây hẳn hiểu rằng tôi—hay đúng hơn, Liên đoàn Những Người Bị Lãng quên—không hề có hiềm khích với từng cá nhân người Do Thái; rằng chúng ta tự hào vì có các giáo sĩ Do Thái trong ban giám đốc; nhưng những tổ chức quốc tế mang tính lật đổ ấy, vốn đáng tiếc thay lại có thành phần Do Thái đông đảo đến thế, phải bị quất bằng roi và bọ cạp cho biến sạch khỏi mặt đất.”

“Chúng ta đã đưa ra những yêu cầu ấy, vậy mà đã bao lâu rồi, ôi lạy Chúa, còn bao lâu nữa, các chính khách và những đại diện nhơn nhơn cười của giới Đại Tư bản mới thôi giả vờ lắng nghe, giả vờ tuân phục? ‘Vâng—vâng—thưa các ông chủ của tôi trong Liên đoàn Những Người Bị Lãng quên—vâng, chúng tôi hiểu—chỉ xin cho chúng tôi thêm thời gian!’”

“Không còn thời gian nữa! Thời của chúng đã hết, cùng với toàn bộ quyền lực ô uế của chúng!”

“Các Thượng nghị sĩ bảo thủ—Phòng Thương mại Hoa Kỳ—những đại ngân hàng gia—các ông vua thép, xe hơi, điện lực và than đá—bọn môi giới cùng các công ty cổ phần khống chế—tất cả bọn chúng đều giống những vị vua nhà Bourbon, những kẻ mà người ta từng nói rằng ‘chúng chẳng quên điều gì và cũng chẳng học được điều gì.’

“Nhưng chúng đã chết trên máy chém!”

“Có lẽ chúng ta có thể khoan dung hơn với những tên Bourbon của mình. Có lẽ—CÓ LẼ—chúng ta có thể cứu chúng khỏi máy chém—giá treo cổ—đội hành quyết chớp nhoáng. Có lẽ, dưới chế độ mới, dưới Hiến pháp mới của chúng ta, với một ‘Chính sách Mới’ thực sự SẼ là một Chính sách Mới chứ không phải một cuộc thử nghiệm ngạo mạn—có lẽ chúng ta sẽ chỉ bắt những ông lớn trong giới tài chính và chính trị ấy ngồi trên ghế cứng, trong những văn phòng xám xịt, quần quật hàng giờ không dứt bên ngòi bút và máy chữ, làm những tên nô lệ cổ cồn trắng, như biết bao người đã phải quần quật vì CHÚNG suốt biết bao năm!”

“Như Thượng nghị sĩ Berzelius Windrip đã nói, chính lúc này, ngay giây phút này, là ‘giờ số không’. Chúng ta đã thôi dội lời vào đôi tai điếc đặc của những tên chủ nhân giả hiệu ấy. Chúng ta sắp ‘xông khỏi chiến hào’. Cuối cùng, sau bao tháng trời cùng nhau bàn bạc, ban giám đốc Liên đoàn Những Người Bị Lãng quên, và chính bản thân tôi, xin tuyên bố rằng tại đại hội toàn quốc sắp tới của Đảng Dân chủ, chúng ta sẽ, không chút dè dặt nào—”

“Nghe đi! Nghe đi! Lịch sử đang được làm nên đấy!” Doremus kêu lên với cả nhà đang thờ ơ chẳng buồn để ý.

“—dùng sức mạnh khủng khiếp của hàng triệu thành viên Liên đoàn để giành lấy sự đề cử ứng viên tổng thống của Đảng Dân chủ cho THƯỢNG NGHỊ SĨ—BERZELIUS—WINDRIP—nói trắng ra, điều đó có nghĩa là ông sẽ đắc cử—và chính chúng ta trong Liên đoàn sẽ bầu ông—làm Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ!”

“Cương lĩnh của ông và cương lĩnh của Liên đoàn không hoàn toàn nhất trí trong mọi chi tiết. Nhưng ông đã mặc nhiên cam kết sẽ nghe theo lời khuyên của chúng ta, và, ít nhất là cho đến cuộc bầu cử, chúng ta sẽ tuyệt đối hậu thuẫn ông—bằng tiền bạc, bằng lòng trung thành, bằng lá phiếu của chúng ta... bằng những lời cầu nguyện của chúng ta. Và cầu xin Chúa dẫn dắt ông cùng chúng ta vượt qua sa mạc của nền chính trị bất chính và giới tài chính tham tàn như lợn, tiến vào ánh huy hoàng vàng son của Đất Hứa! Xin Chúa ban phước cho quý vị!”

Bà Jessup vui vẻ nói: “Ô kìa, Dormouse, ông giám mục ấy đâu phải phát-xít chút nào—ông ta là một tay Cấp tiến Đỏ chính hiệu. Nhưng lời tuyên bố này của ông ta có thật sự mang ý nghĩa gì không?”

Thôi thì, Doremus ngẫm nghĩ, ông đã sống với Emma ba mươi tư năm, mà mỗi năm cũng chẳng quá một hai lần ông muốn giết bà. Ông ôn tồn nói: “Ồ, chẳng có gì ghê gớm, ngoài việc chỉ vài năm nữa thôi, lấy cớ bảo vệ chúng ta, chế độ độc tài Buzz Windrip sẽ khuôn phép hóa mọi thứ, từ việc chúng ta được cầu nguyện ở đâu cho đến việc chúng ta được đọc những truyện trinh thám nào.”

“Chắc chắn hắn sẽ làm thế! Đôi khi tôi cũng muốn quay sang làm cộng sản! Buồn cười thật—tôi mà lại thế, với đám tổ tiên Hà Lan già nua đầu đặc vùng thung lũng sông Hudson của mình!” Julian Falck kinh ngạc nói.

“Ý hay đấy! Từ chảo rán của Windrip và Hitler nhảy vào ngọn lửa của tờ New York Daily Worker, Stalin và súng tự động! Lại còn Kế hoạch Năm năm—chắc họ sẽ bảo tôi rằng Chính ủy đã quyết định từ nay mỗi con ngựa cái của tôi phải đẻ sáu ngựa con một năm!” Buck Titus khịt mũi; trong khi bác sĩ Fowler Greenhill chế giễu:

“Ôi dào, bố—cả anh nữa, Julian, đồ hoang tưởng trẻ tuổi—các người mắc chứng cuồng ám cả rồi! Độc tài ư? Tốt hơn hết là đến phòng khám để tôi kiểm tra đầu óc cho! Hoa Kỳ là quốc gia tự do duy nhất trên trái đất cơ mà. Với lại! Đất nước này quá rộng, làm sao mà cách mạng nổi. Không, không! Điều đó không thể xảy ra ở đây!”