Kim — Chương 1
Chương 1 / 15 · Bài review Kim
Hỡi ai bước trên Đường Hẹp, Qua lửa Tophet tới Ngày Phán xét, Hãy dịu lòng khi “kẻ ngoại đạo” Cầu Đức Phật tại Kamakura!
Bất chấp lệnh của thành phố, cậu ngồi dạng chân trên khẩu đại bác Zam Zammah đặt trên bệ gạch, đối diện Ajaib-Gher cổ kính—Nhà Kỳ Quan, theo cách người bản xứ gọi Bảo tàng Lahore. Ai nắm được Zam-Zammah, “con rồng phun lửa” ấy, là nắm được Punjab, bởi pho đại bác đồng xanh khổng lồ bao giờ cũng là chiến lợi phẩm đầu tiên của kẻ chinh phục.
Kim cũng có phần phải—cậu đã đá con trai Lala Dinanath văng khỏi trục pháo—bởi người Anh nắm Punjab, mà Kim là người Anh. Dẫu da cậu cháy đen chẳng kém bất cứ người bản xứ nào; dẫu cậu thích nói tiếng bản địa hơn, còn tiếng mẹ đẻ thì líu ríu, ngập ngừng theo một giọng ngân nga; dẫu cậu giao du hoàn toàn ngang hàng với lũ trẻ con trong bazar; Kim vẫn là người da trắng—một kẻ da trắng nghèo, thuộc hạng nghèo khốn cùng. Người đàn bà lai trông nom cậu (mụ hút thuốc phiện và giả cách mở một hiệu đồ gỗ cũ cạnh quảng trường nơi đám xe ngựa thuê rẻ tiền đậu chờ) bảo các nhà truyền giáo rằng mụ là chị em với mẹ Kim; nhưng mẹ cậu vốn làm vú em cho gia đình một viên Đại tá và đã lấy Kimball O’Hara, một viên trung sĩ quân kỳ trẻ tuổi thuộc Mavericks, một trung đoàn Ireland. Về sau, ông nhận một chân ở Công ty Đường sắt Sind, Punjab và Delhi, còn Trung đoàn của ông hồi hương mà không có ông. Người vợ chết vì dịch tả tại Ferozepore, và O’Hara đâm ra rượu chè, lang thang dọc đường tàu với đứa con lên ba có đôi mắt sắc sảo. Các hội từ thiện cùng giới tuyên úy, vì lo cho đứa trẻ, đã tìm cách bắt lấy nó, nhưng O’Hara cứ phiêu dạt mãi, cho đến khi gặp người đàn bà hút thuốc phiện, học mụ lấy cái thú ấy, rồi chết theo kiểu những kẻ da trắng nghèo vẫn chết ở Ấn Độ. Di sản lúc ông chết gồm ba tờ giấy—một tờ ông gọi là “_ne varietur_” vì những chữ ấy được viết bên dưới chữ ký của ông trên đó, tờ khác là “giấy giải ngũ”. Tờ thứ ba là giấy khai sinh của Kim. Trong những giờ phút huy hoàng ngập thuốc phiện, ông thường nói rằng rồi những thứ ấy sẽ làm nên con người cho Kimball bé bỏng. Dù thế nào Kim cũng không được rời chúng, vì chúng thuộc về một phép thuật lớn—thứ phép thuật người ta thực hành đằng kia, sau Bảo tàng, trong Jadoo-Gher lớn màu xanh lam và trắng—Nhà Pháp Thuật, như chúng ta gọi Chi hội Tam điểm. Ông bảo một ngày kia mọi việc sẽ đâu vào đấy, và sừng của Kim sẽ được cất cao giữa những cây cột—những cây cột đồ sộ—của vẻ đẹp và sức mạnh. Chính viên Đại tá, cưỡi ngựa dẫn đầu Trung đoàn tinh nhuệ nhất thế giới, sẽ chăm nom Kim—Kim bé bỏng, đứa lẽ ra phải khá giả hơn cha mình. Chín trăm con quỷ hạng nhất, những kẻ có vị Thần là Bò Mộng Đỏ trên nền xanh, sẽ chăm nom Kim, nếu họ chưa quên O’Hara—O’Hara khốn khổ từng làm quản đốc đội thợ trên tuyến Ferozepore. Rồi ông lại ngồi khóc cay đắng trên chiếc ghế mây gãy ngoài hiên. Bởi vậy, sau khi ông chết, người đàn bà đã khâu tấm da thuộc, tờ giấy và giấy khai sinh vào một bao bùa bằng da rồi đeo quanh cổ Kim.
“Và một ngày kia,” mụ nói, nhớ lại một cách lộn xộn những lời tiên tri của O’Hara, “một con Bò Mộng Đỏ lớn trên nền xanh sẽ đến tìm con, cùng viên Đại tá cưỡi con ngựa cao lớn, phải, và”—mụ chuyển sang tiếng Anh—“chín trăm con quỷ.”
“À,” Kim nói, “con sẽ nhớ. Một con Bò Mộng Đỏ và một viên Đại tá cưỡi ngựa sẽ đến, nhưng trước hết, cha con bảo, sẽ có hai người đến sửa soạn nền đất cho những việc ấy. Cha con bảo họ bao giờ cũng làm như vậy; và khi người ta thi triển phép thuật thì lúc nào cũng thế.”
Nếu người đàn bà đem Kim cùng những giấy tờ ấy tới Nhà Pháp Thuật địa phương, dĩ nhiên cậu đã được Chi hội Tỉnh tiếp nhận và gửi vào Cô nhi viện Tam điểm trên miền Núi; nhưng mụ chẳng tin những gì mình nghe nói về phép thuật. Kim cũng có chủ kiến riêng. Khi đến cái tuổi biết dại, cậu học cách tránh các nhà truyền giáo và những người da trắng có vẻ nghiêm nghị thường hỏi cậu là ai, làm gì. Bởi Kim chẳng làm gì cả mà lại thành công vô cùng. Quả thật, cậu biết thành Lahore kỳ diệu từ Cổng Delhi tới hào ngoài của Pháo đài; thân thiết với những kẻ sống cuộc đời còn lạ lùng hơn mọi điều Haroun al Raschid từng mơ thấy; và cậu sống giữa một cuộc đời hoang dã như trong Nghìn lẻ một đêm, nhưng các nhà truyền giáo và thư ký những hội từ thiện chẳng thể nhận ra vẻ đẹp ấy. Khắp các khu phố, biệt hiệu của cậu là “Bạn Nhỏ của Cả Thế Gian”; và rất thường xuyên, nhờ thân hình mềm mại, khó ai để ý, cậu nhận làm những việc bí mật ban đêm trên các mái nhà chen chúc cho đám công tử bảnh bao, bóng bẩy. Đó là chuyện tư tình—dĩ nhiên cậu biết đến thế, bởi từ khi biết nói cậu đã biết mọi thói xấu—nhưng điều cậu yêu thích là bản thân cuộc chơi: lén lút rình mò qua những ngõ hẻm tối tăm, bò lên theo ống nước, nhìn ngắm và lắng nghe thế giới đàn bà trên những mái bằng, rồi lao bất kể sống chết từ mái nhà này sang mái nhà khác dưới màn đêm oi nóng. Lại còn những người tu hành, các _faquir_ mình trát tro bên những điện thờ bằng gạch dưới hàng cây ven sông, vốn rất thân thuộc với cậu—cậu chào họ khi họ trở về sau những chuyến hành khất, và lúc không có ai bên cạnh thì cùng ăn chung một đĩa. Người đàn bà trông nom cậu khóc lóc khăng khăng bắt cậu mặc quần áo châu Âu—quần dài, áo sơ mi và chiếc mũ méo mó. Kim nhận thấy khi làm một số công chuyện, khoác y phục Hindu hay Hồi giáo vẫn dễ dàng hơn. Một trong đám công tử—người ta tìm thấy xác anh ta dưới đáy giếng vào đêm động đất—từng cho cậu nguyên một bộ đồ Hindu, trang phục của một thằng bé đường phố thuộc đẳng cấp thấp; Kim cất nó ở một chỗ kín dưới mấy thanh gỗ lớn trong bãi gỗ của Nila Ram, phía bên kia Tòa Thượng thẩm Punjab, nơi những thân tuyết tùng deodar thơm ngát được hong khô sau khi thả xuôi dòng Ravi. Mỗi khi có công chuyện hay trò vui, Kim lại dùng đến số đạo cụ ấy, tinh mơ trở về hiên nhà, mệt rũ vì đã chạy sau đuôi một đám rước dâu mà hò hét, hoặc gào la tại một lễ hội Hindu. Đôi khi trong nhà có thức ăn, nhưng thường là không, và bấy giờ Kim lại ra ngoài ăn cùng những người bạn bản xứ.
Trong lúc gõ gót chân lên Zam-Zammah, thỉnh thoảng cậu lại rời trò chiếm thành với Chota Lal bé nhỏ và Abdullah, con trai người bán bánh kẹo, để buông một câu hỗn xược với viên cảnh sát bản xứ đang canh những dãy giày dép ngoài cửa Bảo tàng. Người Punjab lực lưỡng nhe răng cười độ lượng: anh ta biết Kim từ lâu. Người gánh nước đang từ túi da dê tưới nước lên mặt đường khô cũng vậy. Jawahir Singh, bác thợ mộc của Bảo tàng đang cúi mình trên những hòm đóng hàng mới, cũng vậy. Mọi người trong tầm mắt đều thế, trừ đám nông dân từ thôn quê vội vã lên Nhà Kỳ Quan để xem những thứ con người làm ra trong tỉnh của họ và ở những nơi khác. Bảo tàng dành cho nghệ thuật và sản vật Ấn Độ, và bất cứ ai muốn tìm sự hiểu biết đều có thể nhờ viên Quản thủ giảng giải.
“Xuống! Xuống! Cho ta lên!” Abdullah la lớn, trèo lên bánh xe Zam-Zammah.
“Cha mày là thợ làm bánh, mẹ mày ăn trộm _ghi_,” Kim hát. “Bọn Mussalman đã ngã khỏi Zam-Zammah từ lâu rồi!”
“Cho _ta_ lên!” Chota Lal bé nhỏ, đầu đội chiếc mũ thêu kim tuyến, ré lên. Tài sản cha nó có lẽ trị giá nửa triệu bảng Anh, nhưng Ấn Độ là xứ sở dân chủ duy nhất trên đời.
“Bọn Hindu cũng ngã khỏi Zam-Zammah. Bọn Mussalman xô chúng xuống. Cha mày là thợ làm bánh—”
Cậu ngừng bặt; bởi từ Motee Bazar ầm ĩ, có một người lệt xệt vòng qua góc phố—một hạng người mà Kim, vốn tưởng mình biết hết mọi đẳng cấp, chưa từng thấy bao giờ. Ông ta cao gần sáu bộ, mình quấn hết lớp này đến lớp khác thứ vải xỉn màu như chăn ngựa, mà Kim không thể dựa vào bất cứ lớp nào để đoán ra một nghề nghiệp hay địa vị quen thuộc. Bên thắt lưng ông đeo một ống bút dài bằng sắt chạm thủng và một chuỗi tràng hạt gỗ như các bậc tu hành vẫn mang. Trên đầu là một thứ mũ nồi tam-o’-shanter khổng lồ. Gương mặt ông vàng vọt và nhăn nheo, giống Fook Shing, người thợ đóng giày Trung Hoa trong bazar. Đuôi mắt ông xếch lên, trông như hai khe nhỏ bằng mã não đen.
“Ai thế?” Kim hỏi các bạn.
“Có lẽ là một người,” Abdullah nói, ngón tay ngậm trong miệng, mắt nhìn trân trân.
“Hẳn rồi,” Kim đáp; “nhưng đó không phải bất cứ hạng người Ấn nào mà _ta_ từng thấy.”
“Có lẽ là thầy tu,” Chota Lal nói khi trông thấy chuỗi tràng hạt. “Nhìn kìa! Ông ấy vào Nhà Kỳ Quan!”
“Không, không,” viên cảnh sát vừa nói vừa lắc đầu. “Tôi không hiểu lời ông.” Người cảnh sát nói tiếng Punjab. “Này Bạn của Cả Thế Gian, ông ta nói gì vậy?”
“Bảo ông ta lại đây,” Kim nói, nhảy khỏi Zam-Zammah, vung vẩy đôi gót trần. “Ông ta là người ngoại quốc, còn anh là đồ trâu.”
Người ấy bất lực quay đi rồi lững thững về phía lũ trẻ. Ông đã già, và chiếc áo choàng len vẫn nồng nặc mùi ngải hôi hám từ những đèo núi.
“Hỡi các con, ngôi nhà lớn kia là gì?” ông hỏi bằng tiếng Urdu khá sõi.
“Ajaib-Gher, Nhà Kỳ Quan!” Kim không gọi ông bằng một tôn xưng nào—như Lala hay Mian. Cậu không đoán nổi tín ngưỡng của ông.
“A! Nhà Kỳ Quan! Ai cũng được vào sao?”
“Trên cửa có viết—ai cũng được vào.”
“Không phải trả tiền ư?”
“Con ra vào luôn. _Con_ có phải chủ ngân hàng đâu,” Kim cười.
“Than ôi! Ta là một ông già. Ta không biết.” Rồi ông mân mê chuỗi tràng hạt, nửa quay mình về phía Bảo tàng.
“Ông thuộc đẳng cấp nào? Nhà ông ở đâu? Ông từ xa đến ư?” Kim hỏi.
“Ta đi qua Kulu—từ bên kia Kailas—nhưng các con biết gì? Từ miền Núi, nơi”—ông thở dài—“không khí và nước đều trong lành, mát mẻ.”
“A ha! Khitai [người Trung Hoa],” Abdullah nói đầy tự hào. Có lần Fook Shing đã đuổi nó khỏi cửa hiệu vì nó nhổ vào tượng thần đặt bên trên đám giày.
“Pahari [người miền núi],” Chota Lal bé nhỏ nói.
“Phải, con ạ—một người miền núi đến từ những rặng núi con sẽ chẳng bao giờ thấy. Con đã nghe nói tới Bhotiyal [Tây Tạng] chưa? Ta không phải Khitai, mà là Bhotiya [người Tây Tạng], nếu các con nhất định muốn biết—một lạt-ma—hay theo tiếng các con thì gọi là _đạo sư_.”
“Một _đạo sư_ từ Tây Tạng,” Kim nói. “Con chưa từng thấy người như vậy. Thế ở Tây Tạng họ là người Hindu sao?”
“Chúng ta là môn đồ Trung đạo, sống yên bình trong các tu viện lạt-ma, và trước khi chết ta sẽ đi thăm Bốn Thánh địa. Giờ thì các con, dù còn nhỏ, cũng biết nhiều bằng ta, dù ta đã già.” Ông hiền từ mỉm cười với lũ trẻ.
“Ông đã ăn gì chưa?”
Ông lục lọi trong ngực áo rồi lấy ra một chiếc bát gỗ hành khất đã mòn. Lũ trẻ gật đầu. Mọi thầy tu chúng quen đều đi xin ăn.
“Ta chưa muốn ăn.” Ông quay đầu như một con rùa già dưới nắng. “Có thật trong Nhà Kỳ Quan của Lahore có nhiều pho tượng không?” Ông nhắc lại những chữ cuối như người muốn chắc mình nhớ đúng một địa chỉ.
“Đúng thế,” Abdullah nói. “Trong ấy đầy những _būt_ của bọn ngoại đạo. Ông cũng là kẻ thờ tượng.”
“Đừng để ý đến _nó_,” Kim nói. “Đó là nhà của Chính phủ, trong ấy không có chuyện thờ tượng, chỉ có một Sahib râu trắng. Đi với con, con sẽ chỉ cho ông xem.”
“Thầy tu lạ mặt ăn thịt trẻ con đấy,” Chota Lal thì thầm.
“Mà ông ta là người lạ, lại là một _būt-parast_ (kẻ thờ tượng),” Abdullah, đứa trẻ Hồi giáo, nói.
Kim bật cười. “Ông ấy mới đến thôi. Chạy về nép vào lòng mẹ cho an toàn đi. Đi nào!”
Kim lách qua chiếc cổng xoay tự động đếm, làm nó bật lách cách; ông già theo sau rồi sững lại kinh ngạc. Trong tiền sảnh dựng những pho tượng lớn thuộc nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp–Phật giáo, được những người thợ đã chìm vào quên lãng tạo tác từ bao đời trước—các học giả biết là bao lâu—với đôi bàn tay đang dò tìm, và chẳng phải không khéo léo, nét Hy Lạp được truyền lại một cách bí ẩn. Có hàng trăm hiện vật: những dải phù điêu có hình người, những mảnh tượng và các phiến đá dày đặc hình chạm từng phủ kín tường gạch của các _bảo tháp_ và _tu viện_ Phật giáo ở Xứ Bắc, giờ được khai quật, ghi nhãn và trở thành niềm kiêu hãnh của Bảo tàng. Miệng há ra vì kinh ngạc, vị lạt-ma quay hết sang vật này đến vật khác, rồi cuối cùng dừng lại, mê mải chăm chú trước một bức phù điêu nổi cao cỡ lớn, miêu tả lễ đăng quang hoặc lễ tôn thần Đức Phật. Bậc Thầy được thể hiện ngồi trên một đóa sen có những cánh được khoét sâu đến mức trông gần như tách rời. Bao quanh Người là cả một hệ tôn ti đang sùng kính gồm các vị vua, trưởng lão và chư Phật thời xưa. Phía dưới là mặt nước phủ hoa sen với cá và chim nước. Hai vị deva có đôi cánh như cánh bướm nâng một vòng hoa trên đầu Người; cao hơn họ, một đôi khác đỡ chiếc lọng có chóp là mũ miện đính ngọc của Bodhisat.
“Đức Thế Tôn! Đức Thế Tôn! Chính là Sakya Muni,” vị lạt-ma gần như nức nở; rồi khe khẽ cất lời khấn Phật giáo kỳ diệu:
“Người là Đạo—là Luật—Đấng Biệt Tôn— Maya từng ấp ủ dưới tim, Đấng của Ananda—Bodhisat.”
“Và Người ở đây! Giáo pháp Tối thượng cũng ở đây. Chuyến hành hương của ta đã khởi đầu tốt lành. Và công trình này! Công trình này!”
“Sahib ở đằng kia.” Kim nói rồi lách ngang qua những tủ trưng bày trong gian nghệ thuật và kỹ nghệ. Một người Anh râu trắng đang nhìn vị lạt-ma; ông nghiêm trang quay lại chào người ấy, rồi sau một hồi lục tìm, lấy ra một quyển sổ tay và một mẩu giấy.
“Vâng, đó là tên tôi,” người ấy mỉm cười trước hàng chữ vụng về như trẻ con.
“Một người trong chúng tôi từng hành hương đến các Thánh địa—nay người ấy là Viện trưởng Tu viện Lung-Cho—đã trao nó cho ta,” vị lạt-ma lắp bắp. “Người ấy có kể về những thứ này.” Bàn tay gầy guộc của ông run rẩy chỉ quanh.
“Vậy thì xin chào đón, hỡi lạt-ma từ Tây Tạng. Nơi đây có những pho tượng, còn tôi ở đây”—ông liếc nhìn gương mặt vị lạt-ma—“để thu thập tri thức. Hãy vào phòng làm việc của tôi một lát.” Ông già run lên vì xúc động.
Phòng làm việc chỉ là một khoang gỗ nhỏ ngăn riêng khỏi hành lang bày kín tượng. Kim nằm rạp xuống, áp tai vào một kẽ nứt trên cánh cửa gỗ tuyết tùng bị hơi nóng làm nẻ, và theo bản năng, duỗi mình ra nghe ngóng, quan sát.
Phần lớn cuộc trò chuyện hoàn toàn vượt quá sự hiểu biết của cậu. Ban đầu còn ngập ngừng, vị lạt-ma kể với viên Quản thủ về tu viện của mình, Such-zen, nằm đối diện Painted Rocks, cách đó bốn tháng đường bộ. Viên Quản thủ lấy ra một cuốn sách ảnh khổng lồ và chỉ cho ông đúng nơi ấy, chênh vênh trên mỏm đá, nhìn xuống thung lũng mênh mông gồm những tầng đá muôn màu.
“Phải, phải!” Vị lạt-ma đeo lên một cặp kính gọng sừng chế tác tại Trung Hoa. “Đây là cánh cửa nhỏ qua đó chúng ta đưa củi vào trước mùa đông. Còn ngài—người Anh biết những chuyện này sao? Người nay là Viện trưởng Lung-Cho đã kể cho ta, nhưng ta không tin. Đức Thế Tôn—Đấng Thù Thắng—Người cũng được tôn kính ở đây ư? Và cuộc đời Người cũng được biết đến ư?”
“Tất cả đều được khắc trên đá. Nếu đã nghỉ khỏe, hãy đến mà xem.”
Lạt-ma lật đật bước ra đại sảnh và cùng viên Quản thủ đi xem khắp bộ sưu tập, với lòng thành kính của một tín đồ cùng con mắt thưởng thức tinh tường của một nghệ nhân.
Trên mặt đá đã mờ, ông nhận ra từng sự tích một trong câu chuyện đẹp đẽ ấy; đôi chỗ ông lúng túng trước những quy ước Hy Lạp xa lạ, nhưng cứ mỗi lần tìm thấy một kho báu mới lại mừng rỡ như trẻ nhỏ. Chỗ nào mạch chuyện đứt quãng, như ở cảnh Truyền tin, viên Quản thủ liền bổ sung từ đống sách của mình—sách tiếng Pháp, tiếng Đức, kèm ảnh chụp và bản sao.
Đây là Asita mộ đạo, nhân vật tương ứng với Simeon trong câu chuyện Cơ Đốc giáo, đang bế Thánh Nhi trên gối, trong khi cha mẹ Ngài lắng nghe; còn đây là những sự tích trong truyền thuyết về người em họ Devadatta. Đây là người đàn bà độc ác đã vu cho Đức Thầy ô uế, nay bẽ bàng ê chề; đây là buổi thuyết giảng trong Vườn Nai; phép lạ làm những kẻ thờ lửa kinh hoàng; đây là Bodhisat trong vương phục của một hoàng tử; cuộc giáng sinh nhiệm mầu; cái chết tại Kusinagara, nơi người đệ tử yếu lòng ngất đi; còn cảnh thiền định dưới cây Bồ-đề thì được lặp lại gần như vô số, và đâu đâu cũng có cảnh tôn thờ bình bát. Chỉ trong ít phút, viên Quản thủ đã thấy vị khách của mình không phải hạng hành khất chỉ biết lần tràng hạt, mà là một học giả thực tài. Thế là họ xem lại tất cả từ đầu; lạt-ma vừa hít thuốc bột, vừa lau kính, vừa nói nhanh như tàu chạy bằng một thứ tiếng pha trộn đến rối trí giữa Urdu và Tây Tạng. Ông từng nghe nói đến những chuyến du hành của hai nhà hành hương Trung Hoa Fu-Hiouen và Hwen-Tsiang, nên nóng lòng muốn biết có bản dịch nào về ký sự của họ chăng. Ông nín thở, bất lực giở qua những trang sách của Beal và Stanislas Julien. “Tất cả đều ở đây. Một kho báu bị khóa kín.” Rồi ông kính cẩn lắng lòng nghe những đoạn được vội vàng dịch sang tiếng Urdu. Lần đầu tiên ông được biết công lao của các học giả châu Âu, những người nhờ các tài liệu này cùng hàng trăm tài liệu khác mà xác định được các Thánh địa Phật giáo. Sau đó, người ta cho ông xem một tấm bản đồ đồ sộ, có những đốm và những đường vạch màu vàng. Ngón tay nâu sẫm lần theo ngọn bút chì của viên Quản thủ từ điểm này sang điểm khác. Đây là Kapilavastu, kia là miền Trung Ấn, đây là Mahabodhi, thánh địa Mecca của Phật giáo; và kia là Kusinagara, nơi buồn thảm Đức Thế Tôn viên tịch. Ông già cúi đầu trên những tờ bản đồ, im lặng một lúc, còn viên Quản thủ châm một tẩu thuốc khác. Kim đã ngủ thiếp đi. Khi cậu tỉnh dậy, cuộc chuyện trò vẫn cuồn cuộn không dứt, nhưng đã nằm trong tầm hiểu biết của cậu hơn.
“Vì thế, hỡi Suối Nguồn Minh Triết, ta quyết định đi đến những Thánh địa nơi chân Ngài từng bước qua—đến Nơi Đản sinh, tức Kapila; rồi đến Mahabodhi, tức Buddh Gaya—đến Tu viện—đến Vườn Nai—đến nơi Ngài viên tịch.”
Lạt-ma hạ thấp giọng. “Và ta đến đây một mình. Suốt năm—bảy—mười tám—bốn mươi năm, ta vẫn nghĩ rằng Cổ Luật không được tuân hành đúng đắn; như ngươi biết đấy, nó đã bị tà ma, bùa chú và sự thờ ngẫu tượng phủ lấp. Đúng như đứa trẻ ngoài kia vừa nói. Phải, đúng như lời đứa trẻ nói, với thói _būt-parasti_.”
“Tín ngưỡng nào rồi cũng vậy.”
“Ngươi nghĩ thế sao? Ta đã đọc những sách trong tu viện lạt-ma của mình, và chúng chỉ là ruột cây khô; cả những nghi thức về sau mà chúng ta, những người theo Luật Cải cách, tự chất nặng lên mình—trong đôi mắt già nua này, chúng cũng chẳng có giá trị gì. Ngay cả các tín đồ của Đấng Thù Thắng cũng hết tranh chấp này đến tranh chấp khác với nhau. Tất cả đều là ảo ảnh. Phải, _maya_, ảo ảnh. Nhưng ta còn một ước nguyện khác”—khuôn mặt vàng hằn nếp nhăn ghé đến cách viên Quản thủ chưa đầy ba tấc, và chiếc móng dài trên ngón trỏ gõ xuống bàn. “Nhờ những cuốn sách này, các học giả của ngươi đã lần theo Dấu Chân Thiêng trong mọi cuộc du hành của Ngài; nhưng có những điều họ chưa tìm kiếm. Ta không biết gì—ta chẳng biết gì—nhưng ta sẽ thoát khỏi Luân hồi bằng một con đường rộng rãi, quang đãng.” Ông mỉm cười với vẻ đắc thắng hồn nhiên tột bậc. “Là người hành hương đến các Thánh địa, ta tích được công đức. Nhưng còn hơn thế nữa. Hãy nghe một chuyện có thật. Khi Đức Từ Bi của chúng ta còn là một thanh niên và muốn tìm người kết duyên, trong triều đình của phụ vương Ngài, người ta bảo Ngài quá mềm yếu, không hợp việc hôn nhân. Ngươi biết chuyện ấy chứ?”
Viên Quản thủ gật đầu, tự hỏi tiếp theo sẽ là chuyện gì.
“Thế là họ tổ chức ba cuộc thử sức với tất cả những ai muốn tranh tài. Đến cuộc thử Cung, Đức Ngài trước hết bẻ gãy cây cung họ trao, rồi đòi một cây cung không ai có thể giương nổi. Ngươi biết chứ?”
“Chuyện ấy có chép. Tôi đã đọc.”
“Và mũi tên bay vượt mọi đích khác, đi xa, xa mãi ngoài tầm mắt. Cuối cùng nó rơi xuống; nơi nó chạm đất, một dòng nước phun lên rồi chẳng bao lâu hóa thành một con Sông. Nhờ lòng từ của Đức Ngài và công đức Ngài đã tích được trước khi tự giải thoát, bản tính của con Sông ấy là: bất kỳ ai tắm trong đó cũng gột sạch mọi vết nhơ và tì ố của tội lỗi.”
“Chuyện ấy có chép như vậy,” viên Quản thủ buồn bã nói.
Lạt-ma hít một hơi dài. “Con Sông ấy ở đâu? Hỡi Suối Nguồn Minh Triết, mũi tên đã rơi xuống đâu?”
“Than ôi, người anh em, tôi không biết,” viên Quản thủ đáp.
“Không, nếu ngươi đã lỡ quên—đó là điều duy nhất ngươi chưa nói cho ta. Hẳn ngươi phải biết chứ? Hãy nhìn ta, ta là một ông già! Ta cúi đầu giữa hai chân ngươi mà cầu hỏi, hỡi Suối Nguồn Minh Triết. Chúng ta _biết_ Ngài đã giương cung! Chúng ta _biết_ mũi tên đã rơi xuống! Chúng ta biết dòng nước đã phun lên! Vậy con Sông ấy ở đâu? Giấc mộng bảo ta phải tìm ra nó. Vì thế ta đến. Ta đã ở đây. Nhưng con Sông ấy ở đâu?”
“Nếu biết, ngài tưởng tôi lại không rao lớn cho mọi người hay sao?”
“Nhờ con Sông ấy, người ta được giải thoát khỏi Luân hồi,” lạt-ma vẫn tiếp lời, chẳng hề để ý. “Sông Mũi Tên! Hãy nghĩ lại xem! Có lẽ là một con suối nhỏ—đã khô trong mùa nóng chăng? Nhưng Đức Thế Tôn không bao giờ lừa một ông già như vậy.”
“Tôi không biết. Tôi không biết.”
Lạt-ma lại đưa khuôn mặt ngàn nếp nhăn đến cách người Anh chỉ một gang tay. “Ta thấy ngươi quả không biết. Vì không thuộc về Đạo Pháp, điều ấy bị che khuất khỏi ngươi.”
“Phải—che khuất—che khuất.”
“Cả hai chúng ta đều bị trói buộc, ngươi và ta, người anh em ạ. Nhưng ta”—ông đứng dậy, vạt áo dày mềm quét thành một vòng—“ta sẽ đi chặt đứt dây trói cho mình. Hãy cùng đi!”
“Tôi bị trói buộc,” viên Quản thủ nói. “Nhưng ngài sẽ đi đâu?”
“Trước hết đến Kashi [Benares]: còn đâu khác nữa? Ở đó, ta sẽ gặp một người giữ đức tin thuần khiết trong một ngôi đền Jain của thành phố ấy. Ông ta cũng là một Người Tầm Đạo trong bí mật, và may ra ta sẽ học được điều gì từ ông. Có lẽ ông sẽ cùng ta đến Buddh Gaya. Từ đó đi về phía bắc và phía tây đến Kapilavastu, rồi ở đấy ta sẽ tìm con Sông. Không, trên đường đi ta sẽ tìm kiếm khắp mọi nơi—bởi không ai biết nơi mũi tên đã rơi xuống.”
“Nhưng ngài sẽ đi bằng cách nào? Đường đến Delhi đã xa, đến Benares lại còn xa hơn.”
“Bằng đường bộ và xe lửa. Từ Pathânkot, sau khi rời miền Đồi, ta đến đây trên một chiếc _tờ-ren_. Nó chạy rất nhanh. Thoạt đầu, ta kinh ngạc khi thấy những cây cột cao bên đường cứ chộp lấy rồi lại chộp lấy những sợi dây của chúng”—ông làm điệu bộ cúi rạp rồi xoay vút của một cột điện báo lướt qua đoàn tàu. “Nhưng sau đó, ta thấy tù túng và muốn đi bộ như thói quen của mình.”
“Và ngài có chắc đường đi không?” viên Quản thủ hỏi.
“Ồ, việc ấy chỉ cần hỏi một câu và trả tiền, rồi những người được chỉ định sẽ đưa tất cả đến nơi đã định. Ta đã nghe nguồn tin xác thực về bấy nhiêu ở tu viện của mình,” lạt-ma kiêu hãnh nói.
“Và bao giờ ngài lên đường?” Viên Quản thủ mỉm cười trước sự pha trộn giữa lòng mộ đạo thời xưa và bước tiến hiện đại—nét đặc trưng của Ấn Độ ngày nay.
“Sớm hết mức có thể. Ta sẽ lần theo những nơi trong cuộc đời Ngài cho đến khi tới Sông Mũi Tên. Ngoài ra còn có một tờ giấy ghi giờ các chuyến tàu đi về phương nam.”
“Còn thức ăn?” Thông thường các lạt-ma giắt đâu đó bên mình một khoản tiền kha khá, nhưng viên Quản thủ muốn biết cho chắc.
“Trên hành trình, ta sẽ mang bình bát của Đức Thầy. Phải. Ngài đã đi thế nào, ta cũng đi như thế, từ bỏ sự an nhàn trong tu viện. Khi ta rời miền đồi, có một _đệ tử_ (môn đồ) đi cùng, khất thực cho ta như Luật dạy; nhưng trong lúc dừng lại ít lâu ở Kulu, nó mắc một cơn sốt rồi chết. Nay ta không còn _đệ tử_, nhưng ta sẽ mang bình bát, nhờ đó tạo cơ hội cho những người từ thiện tích công đức.” Ông quả quyết gật đầu. Các vị học giả uyên thâm trong tu viện lạt-ma không đi xin ăn, nhưng vị lạt-ma này là một người nhiệt thành với cuộc kiếm tìm.
“Cứ như vậy đi,” viên Quản thủ mỉm cười nói. “Giờ xin ngài cho phép tôi tích chút công đức. Ngài và tôi đều là những người thợ. Đây là một cuốn sổ mới bằng giấy trắng của Anh; đây là hai, ba cây bút chì đã gọt nhọn—cây to, cây nhỏ, đều tốt cho người viết. Giờ hãy cho tôi mượn kính của ngài.”
Viên Quản thủ nhìn qua cặp kính ấy. Tròng kính xước chi chít, nhưng độ kính gần như giống hệt cặp của ông. Ông đặt cặp kính của mình vào tay lạt-ma và nói: “Hãy thử cặp này.”
“Một chiếc lông chim! Quả đúng là một chiếc lông chim trên mặt.” Ông già thích thú quay đầu qua lại và chun mũi. “Ta gần như không cảm thấy nó! Ta nhìn rõ biết bao!”
“Kính này bằng _bilaur_—pha lê—và sẽ không bao giờ trầy xước. Mong nó giúp ngài tìm được con Sông; bởi giờ nó là của ngài.”
“Ta sẽ nhận kính, những cây bút chì và cuốn sổ trắng,” lạt-ma nói, “làm dấu hiệu cho tình bằng hữu giữa một tu sĩ với một tu sĩ—và bây giờ—” Ông lần mò nơi thắt lưng, tháo chiếc kẹp sắt chạm thủng hoa văn rồi đặt lên bàn viên Quản thủ. “Vật này để làm kỷ niệm giữa ngươi và ta—hộp bút chì của ta. Nó đã già—cũng như ta vậy.”
Đó là một món đồ theo kiểu Trung Hoa cổ, làm bằng thứ sắt ngày nay không còn được luyện nữa; và ngay từ đầu, trái tim nhà sưu tầm trong lồng ngực viên Quản thủ đã hướng về nó. Dù thuyết phục thế nào, lạt-ma cũng không chịu nhận lại món quà.
“Khi trở về sau lúc tìm được con Sông, ta sẽ mang cho ngươi một bức họa viết về Padma Samthora, giống như những bức ta từng làm trên lụa ở tu viện. Phải—cả một bức về Bánh xe Luân hồi nữa,” ông cười khẽ, “bởi ngươi và ta đều là những người thợ.”
Viên Quản thủ muốn giữ ông ở lại: trên đời này chỉ còn ít người nắm được bí quyết của những bức họa Phật giáo theo lối bút lông quy phạm, tựa như nửa viết nửa vẽ. Nhưng lạt-ma ngẩng cao đầu, sải bước ra ngoài; ông dừng lại giây lát trước pho tượng lớn tạc một Bodhisat đang thiền định, rồi lướt qua các cổng xoay.
Kim theo sát như một cái bóng. Những điều nghe lỏm được khiến cậu kích động dữ dội. Người này hoàn toàn mới lạ so với mọi trải nghiệm của cậu, và cậu định tìm hiểu thêm, hệt như vẫn tìm hiểu một tòa nhà mới hoặc một lễ hội lạ trong thành Lahore. Lạt-ma là kho báu cậu tìm thấy, và cậu quyết chiếm lấy. Mẹ Kim cũng là người Ireland.
Ông già dừng lại bên Zam-Zammah, nhìn quanh cho đến khi trông thấy Kim. Nguồn cảm hứng của cuộc hành hương đã tạm rời ông, và ông cảm thấy mình già nua, bơ vơ cùng hết sức trống rỗng.
“Đừng ngồi dưới khẩu đại bác ấy,” viên cảnh sát lên giọng hách dịch.
“Hừ! Đồ cú vọ!” Kim đáp trả thay cho lạt-ma. “Nếu thầy thích thì cứ ngồi dưới khẩu đại bác ấy. Dunnoo, ngươi ăn trộm dép của bà hàng sữa hồi nào thế?”
Đó là một lời buộc tội hoàn toàn vô căn cứ, bất chợt bật ra ngay tại chỗ, nhưng nó khiến Dunnoo im bặt, bởi hắn biết nếu cần, tiếng thét trong trẻo của Kim có thể gọi đến cả đoàn quân những thằng nhóc hư hỏng ngoài chợ.
“Thầy thờ ai ở trong ấy vậy?” Kim niềm nở hỏi, ngồi xổm trong bóng râm bên cạnh lạt-ma.
“Ta không thờ ai cả, con ạ. Ta cúi mình trước Đạo Pháp Cao Cả.”
Kim tiếp nhận vị Thần mới này mà chẳng chút xúc động. Cậu đã biết vài chục vị rồi.
“Thầy làm gì để sống?”
“Ta khất thực. Giờ ta mới nhớ ra đã lâu mình chưa ăn uống gì. Lệ bố thí ở thành phố này ra sao? Im lặng như người Tây Tạng chúng ta vẫn làm, hay phải cất tiếng xin?”
“Ai im lặng xin ăn thì im lặng chết đói,” Kim nói, dẫn một câu tục ngữ của người bản xứ. Lạt-ma cố đứng dậy, nhưng lại ngồi sụp xuống, thở dài nhớ người đệ tử đã chết ở Kulu xa xôi. Kim nghiêng đầu quan sát, vừa suy tính vừa thích thú.
“Đưa bát cho con. Con biết dân thành phố này—tất cả những ai hay làm phúc. Đưa đây, con sẽ mang về đầy bát.”
Hồn nhiên như một đứa trẻ, ông già trao chiếc bát cho cậu.
“Thầy cứ nghỉ đi. _Con_ biết người ở đây.”
Cậu chạy lon ton đến gian hàng mở của một _kunjri_, người đàn bà bán rau thuộc đẳng cấp thấp, nằm đối diện đường tàu điện vành đai chạy dọc Motee Bazar. Bà ta đã biết Kim từ lâu.
“Ối chà, mày đã thành _yogi_ với cái bình bát ấy rồi sao?” bà ta kêu lên.
“Không.” Kim kiêu hãnh đáp. “Có một tu sĩ mới đến thành phố—một người mà con chưa từng thấy bao giờ.”
“Tu sĩ già—cọp non,” người đàn bà giận dữ nói. “Tao chán ngấy những tu sĩ mới rồi! Họ bu vào hàng hóa của chúng ta như ruồi. Cha của con trai tao là giếng từ thiện để ai xin cũng cho hay sao?”
“Không,” Kim đáp. “Ông nhà mẹ giống một _yagi_ (kẻ nóng nảy) hơn là _yogi_ (bậc tu hành). Nhưng tu sĩ này mới lạ lắm. Vị Sahib trong Nhà Kỳ Quan đã nói chuyện với ông như anh em. Mẹ ơi, hãy đổ đầy chiếc bát này cho con. Ông ấy đang đợi.”
“Cái bát ấy à! Cái rổ bụng bò ấy! Mày cũng duyên dáng chẳng kém con bò thiêng của Shiv. Ngay sáng nay nó đã lấy những củ ngon nhất trong một rổ hành rồi; thế mà giờ tao lại phải đổ đầy bát cho mày. Nó lại đến kia kìa.”
Con bò đực Brahmini khổng lồ màu lông chuột của khu phố đang lấy vai rẽ đường qua đám đông muôn màu, miệng ngậm lủng lẳng một quả chuối ăn trộm. Nó tiến thẳng đến gian hàng, biết rõ đặc quyền của một con vật linh thiêng; nó cúi đầu, phì hơi nặng nề dọc theo hàng rổ trước khi chọn món. Gót chân nhỏ cứng như đá của Kim vụt lên, giáng trúng cái mũi xanh ươn ướt của nó. Nó khịt mũi đầy phẫn nộ rồi bước qua đường ray tàu điện bỏ đi, cái bướu run lên vì giận dữ.
“Thấy chưa! Con đã cứu cho mẹ số hàng đáng giá hơn ba lần chỗ thức ăn trong bát. Giờ thì, mẹ ơi, cho một ít cơm với cá khô bên trên—phải, và thêm chút cà-ri rau nữa.”
Một tiếng gầm gừ vọng ra từ cuối cửa hàng, nơi một người đàn ông đang nằm.
“Nó đã đuổi con bò đi,” người đàn bà hạ giọng nói. “Bố thí cho người nghèo là việc thiện.” Bà cầm lấy cái bát rồi đem trả, bên trong đầy cơm nóng.
“Nhưng vị _yogi_ của con đâu phải bò,” Kim nghiêm trang nói, lấy ngón tay khoét một lỗ trên đỉnh ụ cơm. “Thêm chút cà-ri thì hay, với một chiếc bánh rán, và con nghĩ một miếng mứt cũng sẽ làm thầy ấy vui lòng.”
“Cái lỗ to bằng đầu mày rồi,” người đàn bà bực bội nói. Tuy vậy, bà vẫn đổ vào đó món cà-ri rau ngon lành bốc khói, đặt đánh bộp một chiếc bánh rán lên trên, thêm một miếng bơ tinh lọc trên mặt bánh, rồi trét bên cạnh một cục mứt me chua; Kim trìu mến ngắm phần thức ăn nặng trĩu.
“Thế là tốt. Khi con có mặt trong chợ, con bò sẽ không bén mảng đến nhà này. Nó là một gã ăn mày trơ tráo.”
“Còn mày thì sao?” người đàn bà bật cười. “Nhưng đừng nói xấu loài bò. Chẳng phải mày từng bảo ta rằng một ngày kia, một con Bò Mộng Đỏ sẽ từ cánh đồng bước ra giúp mày đó sao? Giờ giữ mọi thứ cho ngay ngắn, rồi xin vị thánh nhân ban phúc cho ta. Có lẽ ngài cũng biết cách chữa đôi mắt đau của con gái ta. Hãy hỏi ngài cả việc ấy nữa, hỡi Bạn Nhỏ của Cả Thế Gian.”
Nhưng Kim đã nhảy chân sáo đi mất trước khi bà nói hết câu, vừa đi vừa né lũ chó hoang và những người quen đang đói.
“Người biết cách xin ăn thì xin như thế đấy,” cậu hãnh diện nói với vị lạt-ma đang mở to mắt trước những thứ trong bát. “Giờ thầy ăn đi, còn con—con sẽ ăn cùng thầy. Ô-hê, _bhistie_!” cậu gọi người gánh nước đang tưới xối xả những khóm cô-tòng bên Viện Bảo tàng. “Cho nước ở đây. Bọn ta đang khát.”
“Bọn ta cơ đấy!” người _bhistie_ cười nói. “Một bầu da nước có đủ cho một đôi như thế không? Vậy thì uống đi, nhân danh Đấng Từ Bi.”
Anh ta rót một dòng nước nhỏ vào hai bàn tay Kim; cậu uống theo lối người bản xứ; nhưng vị lạt-ma nhất định phải lôi từ những lớp áo choàng trên dường như không bao giờ cạn của mình ra một chiếc chén và uống theo đúng nghi thức.
“_Pardesi_ (người ngoại xứ),” Kim giải thích, trong khi ông già nói bằng một thứ tiếng không ai hiểu những lời rõ ràng là chúc phúc.
Hai thầy trò cùng ăn hết sức mãn nguyện, vét sạch chiếc bát khất thực. Sau đó, vị lạt-ma lấy thuốc hít từ một quả bầu đựng thuốc bằng gỗ đồ sộ, lần tràng hạt một lúc rồi nhẹ nhàng chìm vào giấc ngủ của tuổi già, khi bóng Zam-Zammah mỗi lúc một dài.
Kim thơ thẩn sang hàng thuốc lá gần nhất, do một phụ nữ Hồi giáo trẻ khá lanh lợi trông coi, và xin một điếu xì gà nặng mùi thuộc loại họ bán cho sinh viên Đại học Punjab bắt chước phong tục Anh. Rồi cậu hút thuốc và suy nghĩ, hai gối co sát cằm dưới bụng khẩu đại bác; kết quả của những suy nghĩ ấy là cậu bất thần lén lút đi về phía bãi gỗ của Nila Ram.
Vị lạt-ma không tỉnh giấc cho đến khi sinh hoạt ban tối của thành phố bắt đầu, đèn được thắp lên và những viên thư lại, thuộc cấp áo trắng từ các công sở Chính phủ trở về. Ông ngơ ngác nhìn khắp bốn phía, nhưng chẳng ai để mắt tới ông ngoài một thằng bé Hindu đội khăn xếp bẩn và mặc quần áo màu vàng nâu. Bỗng ông gục đầu xuống gối mà than khóc.
“Có chuyện gì vậy?” thằng bé đứng trước mặt ông hỏi. “Thầy bị cướp sao?”
“Người _đệ tử_ (môn đồ) mới của ta đã bỏ ta đi, mà ta không biết nó ở đâu.”
“Đệ tử của thầy là người như thế nào?”
“Đó là một đứa trẻ đến với ta thay cho người đã chết, nhờ công đức ta tích được khi cúi mình trước Giáo pháp ở trong kia.” Ông chỉ về phía Viện Bảo tàng. “Nó đến bên ta để chỉ cho ta một con đường ta đã lạc mất. Nó dẫn ta vào Nhà Kỳ Quan, và lời nó khiến ta mạnh dạn thưa chuyện với Người Giữ các Hình Tượng, nhờ thế ta được khích lệ và trở nên vững lòng. Khi ta lả đi vì đói, nó xin ăn cho ta như một _đệ tử_ vẫn làm cho thầy mình. Nó được sai đến thật đột ngột. Nó cũng bỏ đi thật đột ngột. Ta đã định dạy Giáo pháp cho nó trên đường tới Benares.”
Kim đứng sững kinh ngạc, bởi cậu đã nghe lỏm cuộc trò chuyện trong Viện Bảo tàng và biết ông già đang nói thật—một thứ mà người bản xứ ngoài đường hiếm khi đem ra đãi một kẻ xa lạ.
“Nhưng giờ ta hiểu nó chỉ được sai đến vì một mục đích. Nhờ đó ta biết mình sẽ tìm được con Sông mà ta đang kiếm.”
“Sông Mũi Tên ư?” Kim hỏi, nở một nụ cười ra vẻ hơn người.
“Lại một người nữa được sai đến chăng?” vị lạt-ma kêu lên. “Ngoài Vị tu sĩ coi sóc các Hình Tượng, ta chưa hề nói với ai về cuộc tìm kiếm của mình. Ngươi là ai?”
“_Đệ tử_ của thầy,” Kim thản nhiên nói, ngồi xổm trên hai gót chân. “Cả đời con chưa từng thấy ai như thầy. Con sẽ cùng thầy đến Benares. Vả lại, con nghĩ một người già như thầy mà vào lúc chạng vạng lại đi nói thật với những kẻ tình cờ gặp mặt thì rất cần có một đệ tử.”
“Nhưng con Sông—Sông Mũi Tên thì sao?”
“Ồ, con nghe được khi thầy nói chuyện với người Anh. Con nằm nép bên cửa.”
Vị lạt-ma thở dài. “Ta đã tưởng con là người dẫn đường được phép đến. Đôi khi những chuyện như vậy có xảy ra—nhưng ta không xứng đáng. Vậy là con không biết con Sông ấy sao?”
“Con không biết,” Kim cười, có phần bối rối. “Con lên đường để tìm—tìm một con bò mộng—một con Bò Mộng Đỏ trên nền xanh sẽ giúp con.” Như mọi đứa trẻ, hễ một người quen có kế hoạch gì thì Kim cũng sẵn ngay một kế hoạch của riêng mình; và cũng như mọi đứa trẻ, cậu quả thực đã có lần nghĩ đến lời tiên tri của cha mình lâu đến hai mươi phút liền.
“Giúp việc gì, con?” vị lạt-ma hỏi.
“Trời biết, nhưng cha con đã bảo con như thế. Con nghe thầy nói trong Nhà Kỳ Quan về bao miền đất mới lạ trên vùng Đồi; và nếu một người già đến thế, bé nhỏ đến thế—lại quen nói thật đến thế—còn có thể ra đi vì một chuyện nhỏ nhặt như con sông, thì con nghĩ mình cũng phải lên đường ngao du. Nếu số phận đã định chúng ta tìm thấy những thứ ấy, chúng ta sẽ tìm thấy—thầy tìm thấy con Sông của thầy; con tìm thấy con Bò Mộng của con, cùng những Cột Trụ Vững Chắc và vài chuyện khác mà con quên mất rồi.”
“Không phải những cột trụ, mà là Luân hồi ta muốn thoát khỏi,” vị lạt-ma nói.
“Cũng thế cả. Có lẽ người ta sẽ cho con làm vua,” Kim nói, bình thản sẵn sàng đón nhận bất cứ điều gì.
“Trên đường đi, ta sẽ dạy con những ước vọng khác, tốt đẹp hơn,” vị lạt-ma đáp bằng giọng đầy uy quyền. “Chúng ta hãy đi Benares.”
“Không đi ban đêm. Trộm cướp đang lộng hành. Hãy đợi đến sáng.”
“Nhưng không có chỗ ngủ.” Ông già đã quen với phép tắc trong tu viện; và dù ngủ trên đất theo quy định của Giới luật, ông vẫn muốn những việc này được thu xếp cho tươm tất.
“Chúng ta sẽ có chỗ trọ tử tế ở Kashmir Serai,” Kim nói, bật cười trước vẻ bối rối của ông. “Con có một người bạn ở đó. Đi nào!”
Những khu chợ nóng nực, chật ních người rực sáng ánh đèn khi hai thầy trò len qua đám đông thuộc đủ mọi sắc dân miền Bắc Ấn, còn vị lạt-ma thì lơ ngơ bước giữa dòng người như kẻ đang mơ. Đây là lần đầu tiên ông đặt chân đến một thành phố công nghiệp lớn, và toa xe điện đông nghẹt với những chiếc phanh liên tục rít lên làm ông hoảng sợ. Nửa bị đẩy, nửa bị kéo, ông đến cánh cổng cao của Kashmir Serai: quảng trường lộ thiên khổng lồ đối diện nhà ga, bao quanh bởi những hành lang có mái vòm, nơi các đoàn lữ hành lạc đà và ngựa nghỉ chân khi từ Trung Á trở về. Ở đây có đủ hạng người phương Bắc, kẻ chăm nom những con ngựa nhỏ bị buộc và những con lạc đà đang quỳ; kẻ chất lên, dỡ xuống các kiện hàng và bó đồ; kẻ kéo nước cho bữa tối bên những trục quay giếng kẽo kẹt; kẻ chất cỏ trước mặt những con ngựa giống mắt dại điên cuồng hí rống; kẻ đấm đá lũ chó lữ hành cáu bẳn; kẻ thanh toán tiền công cho người dắt lạc đà; kẻ tuyển phu ngựa mới; tất cả cùng chửi rủa, la hét, tranh cãi và mặc cả trong quảng trường chật cứng. Những hành lang có mái vòm, phải bước lên ba bốn bậc xây bằng gạch đá mới tới, tạo thành một bến trú quanh biển người náo loạn ấy. Phần lớn các khoang vòm được cho thương nhân thuê, giống như ở xứ ta người ta cho thuê những vòm cầu cạn; khoảng giữa hai cây cột được xây gạch hoặc ghép ván thành phòng, canh giữ bằng cửa gỗ nặng nề và những ổ khóa bản xứ cồng kềnh. Cửa khóa kín cho biết chủ nhân đã đi vắng, còn vài hàng chữ nguệch ngoạc thô sơ—đôi khi hết sức thô tục—bằng phấn hoặc sơn cho biết người ấy đi đâu. Chẳng hạn: “Lutuf Ullah đã đi Kurdistan.” Bên dưới là mấy câu vần vè tục tằn: “Ôi Allah, Ngài để rận sống trên áo người Kabuli, cớ sao lại để con rận Lutuf này sống lâu đến vậy?”
Kim che chắn cho vị lạt-ma giữa những con người và súc vật đang kích động, lách dọc hành lang có mái vòm tới tận đầu xa, gần nhà ga nhất, nơi Mahbub Ali, người buôn ngựa, cư ngụ mỗi khi từ miền đất bí hiểm bên kia những con đèo phương Bắc trở về.
Trong cuộc đời còn ngắn ngủi của mình, Kim đã nhiều lần làm việc với Mahbub, đặc biệt là từ năm mười đến năm mười ba tuổi—và người Afghanistan to lớn, lực lưỡng, với bộ râu nhuộm đỏ thắm bằng vôi (vì ông đã đứng tuổi và không muốn để lộ râu tóc bạc), biết rõ giá trị của thằng bé trong vai trò kẻ nghe ngóng chuyện thiên hạ. Đôi khi ông bảo Kim theo dõi một người chẳng dính dáng gì đến ngựa: bám theo người ấy suốt một ngày và báo lại từng người mà y đã trò chuyện. Đến tối, Kim sẽ kể lại câu chuyện của mình, còn Mahbub lắng nghe không một lời nói hay cử chỉ. Kim biết đó là một kiểu mưu đồ nào đó; nhưng giá trị của việc này nằm ở chỗ tuyệt đối không hé răng với bất kỳ ai ngoài Mahbub. Đổi lại, ông cho cậu những bữa ăn tuyệt ngon, nóng hổi từ hàng cơm ở đầu serai, và có lần còn cho tới tám anna tiền mặt.
“Ông ấy ở đây,” Kim nói, đập vào mũi một con lạc đà cáu kỉnh. “Ô-hê, Mahbub Ali!” Cậu dừng trước một khoang vòm tối và lẻn ra sau vị lạt-ma đang ngơ ngác.
Người buôn ngựa nằm trên một đôi túi yên bằng thảm lụa, chiếc đai Bokhariot bản rộng thêu hoa đã tháo lỏng, uể oải rít một tẩu hookah bạc khổng lồ. Nghe tiếng gọi, ông chỉ hơi ngoảnh đầu; và khi chỉ thấy bóng người cao lớn im lìm, ông bật cười khùng khục trong lồng ngực.
“Allah! Một lạt-ma! Một Lạt-ma Đỏ! Từ Lahore tới các con đèo xa lắm. Thầy làm gì ở đây?”
Vị lạt-ma máy móc chìa chiếc bát khất thực ra.
“Cầu Chúa nguyền rủa mọi kẻ ngoại đạo!” Mahbub nói. “Ta không bố thí cho một tên Tây Tạng đầy chấy rận; nhưng cứ hỏi mấy người Balti của ta ở đằng kia, sau lũ lạc đà. Có khi họ coi trọng lời ban phúc của thầy. Này, các phu ngựa, đây là một người đồng hương của các ngươi. Xem ông ta có đói không.”
Một người Balti đầu cạo trọc đang lom khom, kẻ đã theo đoàn ngựa xuống đây và trên danh nghĩa là tín đồ của một dạng Phật giáo suy đồi nào đó, khúm núm trước vị tu sĩ rồi dùng những âm cuống họng nặng trịch khẩn khoản mời Đấng Chí Thánh đến ngồi bên bếp lửa của đám phu ngựa.
“Đi đi!” Kim nói, khẽ đẩy ông, và vị lạt-ma sải bước đi, để Kim lại bên rìa hành lang có mái vòm.
“Đi đi!” Mahbub Ali nói, quay lại với tẩu hookah. “Thằng Hindu kia, cút đi. Cầu Chúa nguyền rủa mọi kẻ ngoại đạo! Hãy xin những kẻ cùng tín ngưỡng với mày trong đoàn tùy tùng của ta ấy.”
“Maharaj,” Kim rên rỉ, dùng lối xưng hô của người Hindu và khoái chí tận hưởng tình cảnh này; “cha con chết rồi—mẹ con chết rồi—bụng con rỗng không.”
“Ta đã bảo hãy xin đám người của ta ở chỗ bầy ngựa. Trong đoàn tùy tùng của ta hẳn phải có vài người Hindu.”
“Ô, Mahbub Ali, nhưng _tôi_ có phải người Hindu không?” Kim nói bằng tiếng Anh.
Người lái buôn không tỏ vẻ kinh ngạc, nhưng nhìn ra từ dưới đôi mày rậm rạp.
“Bạn Nhỏ của Cả Thế Gian,” ông nói, “chuyện này là thế nào?”
“Chẳng có gì. Giờ tôi là đệ tử của vị thánh nhân ấy; chúng tôi sẽ cùng nhau hành hương—đến Benares, ông ấy nói thế. Ông ấy điên hẳn rồi, còn tôi đã chán thành Lahore. Tôi muốn đổi không khí và nguồn nước.”
“Nhưng mày làm việc cho ai? Tại sao lại đến chỗ ta?” Giọng ông đanh lại vì ngờ vực.
“Ngoài ông ra tôi còn biết đến chỗ ai? Tôi không có tiền. Đi đường mà không có tiền thì chẳng hay ho gì. Ông sẽ bán nhiều ngựa cho các sĩ quan. Đám ngựa mới này rất đẹp: tôi đã xem rồi. Cho tôi một rupee đi, Mahbub Ali; đến khi giàu có, tôi sẽ viết giấy nợ và trả ông.”
“Hừm!” Mahbub Ali nói, đầu óc xoay chuyển rất nhanh. “Trước nay mày chưa từng nói dối ta. Gọi vị lạt-ma ấy lại—rồi lui vào trong bóng tối.”
“Ồ, lời kể của chúng tôi sẽ khớp nhau thôi,” Kim cười nói.
“Chúng tôi đi Benares,” vị lạt-ma nói ngay khi hiểu được ý những câu hỏi của Mahbub Ali. “Thằng bé và ta—ta đi tìm một con Sông nọ.”
“Có thể—nhưng còn thằng bé?”
“Nó là đệ tử của ta. Ta nghĩ nó được sai đến để dẫn ta tới con Sông ấy. Ta đang ngồi dưới một khẩu đại bác thì nó thình lình xuất hiện. Những chuyện như thế từng đến với những người may mắn được ban cho sự chỉ dẫn. Nhưng giờ ta nhớ ra, nó nói nó thuộc về thế gian này—một người Hindu.”
“Tên nó là gì?”
“Ta không hỏi. Nó chẳng phải đệ tử của ta sao?”
“Quê quán—chủng tộc—làng xóm của nó? Người Hồi giáo—Sikh—Hindu—Jain—đẳng cấp thấp hay cao?”
“Tại sao ta phải hỏi? Trên Trung đạo không có cao hay thấp. Nếu nó là _đệ tử_ của ta—có—sẽ—liệu có ai có thể cướp nó khỏi ta chăng? Bởi ngươi xem, không có nó thì ta sẽ không tìm thấy con Sông của mình.” Ông nghiêm trang lắc đầu.
“Không ai cướp nó khỏi thầy đâu. Hãy đến ngồi cùng những người Balti của ta,” Mahbub Ali nói, và vị lạt-ma lững thững đi, yên lòng vì lời bảo đảm ấy.
“Ông ấy điên hẳn rồi, phải không?” Kim nói, lại bước ra chỗ sáng. “Tại sao tôi phải nói dối ông, Hajji?”
Mahbub lặng lẽ rít tẩu hookah. Rồi ông cất tiếng, gần như thì thầm: “Umballa nằm trên đường tới Benares—nếu quả hai thầy trò mày đi đến đó.”
“Chậc! Chậc! Tôi đã bảo ông ấy không biết nói dối—như hai ta vẫn biết mà.”
“Và nếu ngươi mang giúp ta một lời nhắn đến tận Umballa, ta sẽ cho ngươi tiền. Chuyện liên quan đến một con ngựa—một con ngựa đực trắng mà ta đã bán cho một sĩ quan trong chuyến gần đây nhất trở về từ các đèo. Nhưng mà—lại gần đây, giơ hai tay lên như đang xin ăn—gia phả của con ngựa đực trắng ấy chưa được xác minh đầy đủ, và viên sĩ quan hiện ở Umballa kia đã bảo ta làm cho rõ.” (Đến đây Mahbub mô tả con ngựa cùng diện mạo của viên sĩ quan.) “Vậy lời nhắn cho viên sĩ quan ấy sẽ là: ‘Gia phả của con ngựa đực trắng đã được xác minh đầy đủ.’ Nhờ đó ông ta sẽ biết ngươi từ chỗ ta đến. Rồi ông ta sẽ hỏi: ‘Ngươi có bằng chứng gì?’ và ngươi sẽ đáp: ‘Mahbub Ali đã trao bằng chứng cho tôi.’”
“Mà tất cả chỉ vì một con ngựa đực trắng,” Kim nói, khúc khích cười, hai mắt rực sáng.
“Cái gia phả ấy ta sẽ trao cho ngươi ngay bây giờ—theo cách của ta, kèm cả vài lời nặng nề nữa.” Một bóng người lướt qua phía sau Kim và một con lạc đà đang ăn. Mahbub Ali cao giọng.
“Allah! Trong thành này chỉ có mình mày là ăn mày thôi sao? Mẹ mày chết rồi. Cha mày chết rồi. Đứa nào cũng thế cả. Thôi được, thôi được—”
Ông quay người, làm như đang sờ soạng trên sàn bên cạnh, rồi ném cho cậu bé một miếng bánh mì Hồi giáo mềm nhũn, bóng mỡ. “Đêm nay hãy đến nằm cùng đám chăn ngựa của ta—cả ngươi lẫn lạt-ma. Ngày mai có thể ta sẽ giao việc cho ngươi.”
Kim lủi đi, răng cắn miếng bánh, và đúng như cậu đoán, cậu tìm thấy một xấp giấy lụa nhỏ gấp lại, bọc trong vải dầu, cùng ba đồng rupee bạc—một món ban thưởng hậu hĩnh khôn lường. Cậu mỉm cười, nhét tiền và giấy vào túi bùa bằng da. Vị lạt-ma, được đám người Balti của Mahbub cho ăn một bữa thịnh soạn, đã ngủ trong góc một chuồng ngựa. Kim nằm xuống bên thầy và bật cười. Cậu biết mình đã giúp Mahbub Ali một việc, và chẳng một phút nhỏ nhoi nào cậu tin câu chuyện về gia phả con ngựa đực.
Nhưng Kim không ngờ rằng Mahbub Ali—vốn nổi danh là một trong những lái ngựa giỏi nhất Punjab, một thương nhân giàu có và táo bạo, có những đoàn lữ hành đi sâu mãi vào tận chốn xa xôi cùng cốc—được ghi trong một cuốn sổ khóa kín của Cục Khảo sát Ấn Độ dưới mã C25 IB. Mỗi năm hai hoặc ba lần, C25 lại gửi về một câu chuyện nhỏ, kể trần trụi mà hết sức thú vị, và nói chung—sau khi được đối chiếu với các báo cáo của R17 và M4—hoàn toàn đúng sự thật. Những chuyện ấy liên quan đến đủ loại tiểu quốc miền núi hẻo lánh, những nhà thám hiểm không mang quốc tịch Anh, và việc buôn bán súng đạn—tóm lại, là một phần nhỏ trong khối “tin tức nhận được” khổng lồ mà Chính phủ Ấn Độ dựa vào để hành động. Nhưng gần đây, năm vị Vua liên minh với nhau dù chẳng có lý do gì để liên minh, đã được một Cường quốc phương Bắc tử tế báo cho biết rằng tin tức từ lãnh thổ của họ đang rò rỉ sang Ấn Độ thuộc Anh. Vì vậy, các vị Thủ tướng của năm Vua ấy hết sức tức tối và áp dụng biện pháp theo lối phương Đông. Trong số nhiều người khác, họ nghi ngờ gã lái ngựa râu đỏ hay bắt nạt, có những đoàn lữ hành rẽ qua các chốn hiểm trở của họ giữa tuyết ngập ngang bụng. Ít ra thì mùa ấy, trên đường xuôi về, đoàn lữ hành của ông đã hai lần bị phục kích và bắn; người của Mahbub hạ được ba tên côn đồ lạ mặt, có thể đã được thuê làm việc đó mà cũng có thể không. Bởi thế Mahbub tránh dừng chân tại thành Peshawur độc địa và đi thẳng một mạch đến Lahore; tại đây, vì hiểu đồng bào mình, ông chờ đợi những diễn biến lạ lùng.
Và trên người Mahbub Ali có một vật ông không muốn giữ lâu hơn mức cần thiết dù chỉ một giờ—một xấp giấy lụa gấp chặt, bọc trong vải dầu—một bản tường trình không đề tên người viết hay địa chỉ người nhận, với năm lỗ kim nhỏ li ti ở một góc, tiết lộ một cách vô cùng tai tiếng năm vị Vua liên minh, Cường quốc phương Bắc đầy thiện cảm, một chủ ngân hàng Hindu ở Peshawur, một hãng chế tạo súng tại Bỉ, và một nhà cai trị Hồi giáo quan trọng, bán độc lập ở miền nam. Phần cuối cùng này là công việc của R17; Mahbub đã nhận nó ở bên kia đèo Dora và đang mang về thay R17, người vì những hoàn cảnh ngoài khả năng chi phối mà không thể rời trạm quan sát. So với bản báo cáo ấy của C25, thuốc nổ dynamite chỉ hiền lành vô hại như sữa; ngay cả một người phương Đông, với quan niệm của người phương Đông về giá trị thời gian, cũng nhận ra nó càng sớm đến đúng tay càng tốt. Mahbub chẳng thiết tha gì chuyện chết vì bạo lực, bởi bên kia Biên giới vẫn còn hai ba mối huyết thù gia tộc mà ông chưa thanh toán xong; khi các món nợ ấy đã được trả đủ, ông định an cư làm một công dân ít nhiều lương thiện. Từ khi tới đây hai ngày trước, ông chưa hề bước qua cổng serai, nhưng lại phô trương gửi điện tín đến Bombay, nơi ông ký gửi một phần tiền bạc; đến Delhi, nơi một người cộng tác cấp dưới cùng thị tộc đang bán ngựa cho đại diện một tiểu quốc Rajputana; và đến Umballa, nơi một người Anh đang sốt ruột đòi gia phả của một con ngựa đực trắng. Người viết thư thuê biết tiếng Anh đã soạn những bức điện tuyệt hảo, chẳng hạn: “_Creighton, Laurel Bank, Umballa. Ngựa giống Arab như đã báo. Rất buồn vì chậm gia phả hiện đang dịch._” Sau đó lại gửi cùng địa chỉ: “_Rất buồn vì chậm trễ. Sẽ gửi gia phả._” Cho người cộng tác ở Delhi, ông đánh điện: “_Lutuf Ullah. Đã điện chuyển hai nghìn rupee vào tín khoản của ông tại ngân hàng Luchman Narain._—” Tất cả chuyện này hoàn toàn thuộc việc buôn bán, nhưng mỗi bức điện ấy đều bị những phe tự cho rằng mình có liên quan bàn đi xét lại nhiều lần trước khi được một gã Balti ngốc nghếch mang tới ga đường sắt; dọc đường, gã để đủ hạng người đọc chúng.
Sau khi, theo lối nói giàu hình ảnh của chính Mahbub, đã dùng cây gậy thận trọng khuấy đục những giếng nước của việc dò hỏi, thì Kim từ trên trời rơi xuống ngay chỗ ông; và Mahbub Ali, vốn nhanh trí cũng như bất chấp thủ đoạn, lại quen chộp lấy đủ thứ cơ hội bất ngờ, liền trưng dụng cậu ngay tại chỗ.
Một vị lạt-ma lang thang cùng cậu bé hầu thuộc đẳng cấp thấp có thể khơi chút tò mò khi họ phiêu bạt khắp Ấn Độ, xứ sở của người hành hương; nhưng sẽ chẳng ai nghi ngờ họ, và quan trọng hơn, chẳng ai cướp họ.
Ông gọi lấy một viên than lửa mới cho ống hookah rồi cân nhắc tình thế. Nếu điều tệ nhất xảy ra và cậu bé gặp nạn, mảnh giấy cũng không buộc tội được ai. Còn ông sẽ thong thả lên Umballa và—dù có phần nguy cơ khơi thêm ngờ vực—đích thân kể lại câu chuyện cho những người liên quan.
Nhưng báo cáo của R17 là cốt lõi của toàn bộ sự việc, và nếu nó không tới nơi thì quả thực hết sức phiền phức. Tuy nhiên, Thượng đế vĩ đại, và Mahbub Ali thấy rằng trước mắt mình đã làm tất cả những gì có thể. Kim là sinh linh duy nhất trên đời chưa từng nói dối ông. Điều đó hẳn đã là một vết nhơ chí mạng trong tính cách Kim, nếu Mahbub không biết rằng với người khác, vì mục đích riêng của cậu hoặc vì công việc của Mahbub, Kim có thể nói dối đúng kiểu một người phương Đông.
Rồi Mahbub Ali lảo đảo băng qua serai, đến Cổng của lũ Điểu yêu tô mắt giăng bẫy khách lạ, và cất công ghé thăm đúng cô gái mà ông có lý do để tin là bạn thân của một pundit Kashmir mặt nhẵn, kẻ đã chặn gã Balti thật thà của ông để dò hỏi chuyện điện tín. Đó là một việc hoàn toàn ngu xuẩn; bởi họ bắt đầu uống rượu brandy ướp hương, trái với Luật của Nhà Tiên tri, rồi Mahbub say bí tỉ một cách kỳ diệu, cổng miệng ông bật mở, và ông dùng đôi chân men rượu đuổi theo Đóa Hoa Hoan Lạc cho đến khi ngã sóng soài giữa đám nệm. Tại đó, Đóa Hoa Hoan Lạc, có viên pundit Kashmir mặt nhẵn trợ giúp, lục soát ông từ đầu đến chân hết sức kỹ lưỡng.
Khoảng cùng giờ ấy, Kim nghe thấy tiếng chân khe khẽ trong chuồng ngựa vắng người của Mahbub. Lạ thay, người lái ngựa đã để cửa không khóa, còn đám người của ông đang bận ăn mừng ngày trở lại Ấn Độ bằng nguyên một con cừu do Mahbub khoản đãi. Một quý ông trẻ chải chuốt từ Delhi, được trang bị chùm chìa khóa mà Đóa Hoa đã tháo khỏi thắt lưng kẻ bất tỉnh, lục từng chiếc hòm, gói đồ, tấm chiếu và túi yên ngựa thuộc sở hữu của Mahbub, còn có hệ thống hơn cả khi Đóa Hoa và viên pundit khám xét chính chủ nhân của chúng.
“Và tôi nghĩ,” một giờ sau Đóa Hoa khinh khỉnh nói, chống một khuỷu tay tròn lẳn lên cái thây đang ngáy, “hắn chẳng qua chỉ là một con lợn lái ngựa Afghan, trong đầu không có gì ngoài đàn bà và ngựa. Hơn nữa, có khi hắn đã gửi nó đi rồi—nếu quả thực từng có một thứ như thế.”
“Không đâu—trong một chuyện liên quan đến Năm Vua, nó hẳn phải nằm sát trái tim đen của hắn,” viên pundit nói. “Không có gì sao?”
Người đàn ông Delhi bước vào, cười rồi chỉnh lại khăn xếp. “Tôi đã lục cả giữa các lớp đế dép của hắn, cũng như Đóa Hoa lục quần áo hắn. Không phải tên này mà là tên khác. Ít thứ thoát được mắt tôi lắm.”
“Họ đâu nói hắn chính là người ấy,” viên pundit trầm ngâm nói. “Họ bảo: ‘Hãy xem hắn có phải người ấy không, vì kế sách của chúng ta đang bị khuấy động.’”
“Xứ phương Bắc ấy đầy rẫy lái ngựa như chiếc áo cũ đầy chấy. Có Sikandar Khan, Nur Ali Beg và Farrukh Shah, tất cả đều là thủ lĩnh các kafilas [đoàn lữ hành]—họ buôn bán ở đó,” Đóa Hoa nói.
“Họ vẫn chưa tới,” viên pundit nói. “Sau này cô phải giăng bẫy họ.”
“Phù!” Đóa Hoa nói, vô cùng ghê tởm, vừa lăn đầu Mahbub khỏi lòng mình. “Tôi kiếm đồng tiền thật chẳng dễ dàng. Farrukh Shah là một con gấu, Ali Beg là tên du đãng ưa gây gổ, còn lão Sikandar Khan—yaie! Đi đi! Giờ tôi ngủ. Con lợn này sẽ không nhúc nhích cho tới rạng sáng đâu.”
Khi Mahbub tỉnh dậy, Đóa Hoa nghiêm khắc giảng cho ông về tội say rượu. Người Á châu không nháy mắt khi đã dùng mưu thắng kẻ thù, nhưng lúc Mahbub Ali hắng giọng, siết chặt thắt lưng rồi lảo đảo bước ra dưới những vì sao sớm mai, ông đã suýt làm thế.
“Đúng là trò ngựa non!” ông tự nhủ. “Cứ như thể cô gái nào ở Peshawur cũng không dùng mánh ấy vậy! Nhưng làm thật khéo. Giờ chỉ Thượng đế mới biết trên Đường còn bao nhiêu kẻ nữa đã nhận lệnh thử ta—có lẽ bằng dao. Vậy thì thằng bé phải đến Umballa—và đi tàu hỏa—vì văn thư ấy có phần khẩn cấp. Ta sẽ ở lại đây, theo đuổi Đóa Hoa và uống rượu như một tay lái ngựa Afghan phải làm.”
Ông dừng lại ở gian chuồng cách gian mình một gian. Người của ông nằm đó, ngủ say như chết. Không thấy Kim hay vị lạt-ma đâu cả.
“Dậy!” Ông lay một kẻ đang ngủ. “Những người nằm đây đêm qua đi đâu rồi—vị lạt-ma và thằng bé ấy? Có mất thứ gì không?”
“Không,” người kia càu nhàu, “lão già điên dậy vào hồi gà gáy canh hai, bảo rằng muốn đến Benares, rồi thằng nhỏ dẫn lão đi.”
“Cầu Allah nguyền rủa hết thảy lũ vô đạo!” Mahbub hăng hái nói, rồi trèo vào gian chuồng của mình, miệng gầm gừ trong bộ râu.
Nhưng chính Kim đã đánh thức vị lạt-ma—Kim, với một mắt ghé sát lỗ mắt gỗ trên vách, đã nhìn thấy người đàn ông Delhi lục lọi những chiếc hòm. Đây không phải một tên trộm tầm thường chỉ bới thư từ, hóa đơn và yên ngựa—không phải một tên trộm thường nào dùng con dao nhỏ rạch ngang các lớp đế dép của Mahbub, hay khéo léo rạch đường chỉ trên túi yên. Thoạt đầu Kim định hô hoán—tiếng _cho-or—choor!_ (trộm! trộm!) kéo dài, có thể làm cả serai náo loạn giữa đêm; nhưng rồi cậu quan sát kỹ hơn, đặt tay lên lá bùa và tự rút ra kết luận.
“Hẳn là vì cái gia phả trong câu chuyện ngựa bịa đặt ấy,” cậu nói, “thứ mà con đang mang tới Umballa. Tốt hơn chúng ta nên đi ngay. Những kẻ dùng dao lục túi có thể lát nữa sẽ dùng dao lục bụng người. Chắc chắn có một người đàn bà đứng sau chuyện này.” “Hai! Hai!” cậu thì thầm gọi ông già vốn ngủ rất nhẹ. “Dậy đi. Đến lúc rồi—đến lúc đi Benares rồi.”
Vị lạt-ma ngoan ngoãn đứng dậy, và hai thầy trò rời khỏi serai như những cái bóng.