Kim — Chương 15

Chương 15 / 15 · Bài review Kim

Ta chẳng nhường đường cho Hoàng đế— Ta giữ lối mình trước một Đức vua. Trước Ba Vương miện ta chẳng cúi đầu— Nhưng chuyện này lại khác hẳn! _Ta_ không giao chiến với các Quyền lực Trên Không— Lính gác, cho người đi qua! Hạ cầu kéo xuống—Người là Chúa tể của tất cả chúng ta— Kẻ Mộng mơ có giấc mơ thành sự thật!

_Cuộc Vây hãm các Tiên._

Cách Chini hai trăm dặm về phía bắc, trên tầng đá phiến xanh của Ladakh, Yankling Sahib, con người vui tính, đang nằm đó, giận dữ chĩa ống nhòm qua các rặng núi tìm một dấu hiệu của người dò đường cưng—một người xứ Ao-chung. Nhưng tên phản phúc ấy, với một khẩu Mannlicher mới và hai trăm viên đạn, lại ở nơi khác, bắn hươu xạ đem ra chợ bán; sang mùa sau Yankling Sahib sẽ được biết hắn đã đau ốm nặng đến chừng nào.

Ngược lên các thung lũng Bushahr—những con đại bàng Himalaya mắt nhìn muôn dặm lượn tránh chiếc ô mới ghép múi xanh trắng của ông—một người Bengal tất tả đi, xưa béo tốt coi được, nay gầy nhom, phong sương. Ông đã nhận lời cảm ơn của hai người ngoại quốc danh giá, được ông dẫn đường không đến nỗi vụng tới đường hầm Mashobra, nơi thông về kinh đô lớn lao và hoa lệ của Ấn Độ. Chẳng phải lỗi tại ông khi sương ướt trùm kín đã khiến ông dẫn họ đi quá trạm điện báo cùng khu kiều dân châu Âu ở Kotgarh. Cũng chẳng phải lỗi tại ông, mà tại các Thần—những vị ông đã diễn giải duyên dáng biết bao—khi ông đưa họ vào địa phận Nahan, nơi Rajah của xứ ấy ngỡ họ là lính Anh đào ngũ. Hurree Babu giảng giải sự cao quý và vinh quang của các bạn đồng hành trên chính quê hương họ, cho đến khi vị tiểu vương ngái ngủ mỉm cười. Ai hỏi ông cũng giảng—nhiều lần—thật to—mỗi lần một kiểu. Ông xin thức ăn, thu xếp chỗ ở, tỏ ra là thầy thuốc mát tay chữa một vết thương ở háng—thứ thương tích người ta có thể mắc phải khi lăn xuống sườn đồi lởm chởm đá trong đêm—và việc gì cũng không thể thiếu ông. Lý do khiến ông thân thiện thật đáng khen. Cùng hàng triệu đồng bào nô thuộc, ông đã học cách coi nước Nga là đấng giải phóng vĩ đại từ phương Bắc. Ông là người nhút nhát. Ông từng sợ mình không cứu nổi các chủ nhân lừng lẫy khỏi cơn giận của đám dân quê bị kích động. Riêng ông thì đánh một người tu hành cũng được mà không đánh cũng xong, nhưng... Ông vô cùng biết ơn và thành thực vui mừng vì đã làm được “chút khả năng nhỏ nhoi” của mình để đưa cuộc mạo hiểm của họ—trừ số hành lý thất lạc—đến kết cục thành công; ông đã quên những trận đòn, phủ nhận rằng đã có bất kỳ trận đòn nào xảy ra trong đêm đầu tiên chẳng lấy gì làm phải phép dưới rặng thông. Ông chẳng xin lương hưu cũng chẳng đòi tiền thù lao giữ chân, nhưng nếu họ thấy ông xứng đáng, liệu họ có thể viết cho ông một tờ chứng nhận không? Về sau nó có thể hữu dụng, nếu những người khác, bạn bè họ, vượt qua các đèo mà tới. Ông khẩn khoản xin họ, mai sau khi đạt tới địa vị cao sang, hãy nhớ đến ông, bởi ông “tinh tế nhận định” rằng chính ông, ngay cả ông, Mohendro Lal Dutt, thạc sĩ Đại học Calcutta, đã “có chút công lao với Nhà nước”.

Họ trao ông một tờ chứng nhận ca ngợi sự nhã nhặn, tận tâm và tài dẫn đường không hề sai lạc. Ông nhét nó vào đai lưng rồi nức nở vì xúc động; họ đã cùng nhau trải biết bao nguy hiểm. Giữa trưa, ông dẫn họ dọc con đường Mall đông nghịt người ở Simla tới Alliance Bank of Simla, nơi họ muốn xác lập danh tính. Từ đó ông tan biến như một áng mây bình minh trên Jakko.

Hãy nhìn ông, gầy khô đến chẳng còn mồ hôi để đổ, gấp gáp đến chẳng kịp khoe những vị thuốc trong chiếc hộp nhỏ viền đồng, đang trèo dốc Shamlegh, một chính nhân đã đạt viên mãn. Hãy nhìn ông, vứt bỏ hết dáng điệu Babu, giữa trưa ngồi hút thuốc trên chiếc giường dây, trong khi một người đàn bà đội mũ nạm ngọc lam chỉ qua đồng cỏ trơ trụi về phía đông nam. Kiệu, bà nói, không đi nhanh bằng người độc hành, nhưng những con chim của ông giờ hẳn đã xuống Đồng bằng. Người tu hành không chịu ở lại dù Lispeth nài ép. Babu rên lên nặng nề, thắt gọn tấm thân đồ sộ rồi lại lên đường. Ông không thích đi sau chạng vạng; nhưng những chặng đường ban ngày của ông—chẳng ai ghi chúng vào sổ—sẽ khiến những kẻ chế nhạo giống nòi ông phải kinh ngạc. Dân làng tử tế, còn nhớ người bán thuốc xứ Dacca hai tháng trước, cho ông chỗ trú để tránh tà ma trong rừng. Ông mơ thấy các Thần Bengal, sách giáo khoa sư phạm của Đại học, và Hội Hoàng gia tại London, nước Anh. Rạng sáng hôm sau, chiếc ô xanh trắng nhấp nhô lại tiến bước.

Bên rìa xứ Doon, Mussoorie đã ở xa phía sau và Đồng bằng trải ra trong bụi vàng phía trước, một chiếc kiệu mòn mỏi dừng nghỉ; trong đó—toàn vùng Đồi núi đều biết—nằm một lạt-ma đau yếu đang tìm một Dòng Sông để được chữa lành. Các làng suýt đánh nhau vì vinh dự được khiêng kiệu, bởi lạt-ma không chỉ ban phước cho họ mà đệ tử của ngài còn trả hậu hĩnh—đủ một phần ba giá các Sahib. Mỗi ngày chiếc _dooli_ đi mười hai dặm, như hai đầu đòn nhờn bóng, mòn nhẵn đã chứng tỏ, lại theo những con đường ít Sahib nào dùng. Qua đèo Nilang giữa bão, khi bụi tuyết cuốn đầy từng nếp áo của vị lạt-ma điềm nhiên; xuyên giữa hai chiếc sừng đen của Raieng, nơi họ nghe tiếng dê rừng huýt vọng qua mây; chòng chành, oằn trĩu trên tầng đá phiến phía dưới; ghì chặt giữa vai và quai hàm nghiến cứng khi vòng qua những khúc cua khủng khiếp của con Đường Xẻ dưới Bhagirati; đung đưa cót két theo nhịp chạy nước kiệu đều đặn trên đường đổ xuống Thung lũng Nước; thúc nhau qua những dải đất bằng hầm hập hơi nóng trong thung lũng khép kín ấy; lên, lên mãi rồi lại ra ngoài đón những luồng gió gầm thét từ Kedarnath; đặt xuống nghỉ giữa trưa trong bóng sẫm nâu của những rừng sồi hiền hậu; chuyền từ làng này sang làng khác trong cái rét ban mai, khi ngay cả tín đồ cũng đáng được tha thứ nếu họ nguyền rủa những vị tu hành nóng ruột; hoặc đi dưới ánh đuốc, khi kẻ ít nhát nhất cũng nghĩ tới ma—chiếc _dooli_ đã tới chặng cuối cùng. Những người miền núi nhỏ thó đổ mồ hôi trong cái nóng đã dịu bớt ở vùng Siwalik thấp, rồi tụ quanh các tu sĩ nhận lời ban phước và tiền công.

“Các ngươi đã tích được công đức,” lạt-ma nói. “Công đức lớn hơn điều các ngươi biết. Và các ngươi sẽ trở về miền Đồi núi,” ngài thở dài.

“Chắc chắn rồi. Trở về miền Đồi cao càng sớm càng tốt.” Người phu xoa vai, uống nước rồi phun ra, sửa lại chiếc dép cỏ. Kim—mặt hốc hác, mệt mỏi—lấy trong đai ra trả những đồng bạc rất nhỏ, nhấc túi lương thực ra, nhét một gói bọc vải dầu—đó là những kinh văn thiêng liêng—vào ngực áo, rồi đỡ lạt-ma đứng dậy. Vẻ bình an đã trở lại trong mắt ông già, và ngài không còn nhìn lên đồi núi như thể chúng sắp đổ xuống nghiền nát mình, như trong đêm kinh hoàng họ bị dòng sông lũ cản đường.

Đám phu nhấc chiếc _dooli_ lên, đung đưa khuất dạng giữa những bụi cây thấp.

Lạt-ma giơ một tay về phía thành lũy Himalaya. “Không phải giữa các ngươi, ôi miền phúc lành hơn mọi miền đồi núi, Mũi Tên của Đức Thế Tôn đã rơi xuống! Và ta sẽ chẳng bao giờ hít thở không khí của các ngươi nữa!”

“Nhưng trong khí trời lành này, thầy khỏe lên gấp mười lần,” Kim nói, bởi Đồng bằng hiền hòa với cỏ xén gọn thật quyến rũ tâm hồn mỏi mệt của cậu. “Mũi Tên rơi ở đây, hay quanh quẩn đâu đây, đúng vậy. Chúng ta sẽ đi thật chậm, có lẽ mỗi ngày một _kos_, vì cuộc Tìm kiếm chắc chắn sẽ thành. Nhưng túi nặng quá.”

“Phải, cuộc Tìm kiếm của chúng ta chắc chắn sẽ thành. Ta đã thoát khỏi một cám dỗ lớn.”

Giờ họ chẳng bao giờ đi quá hai dặm một ngày, và hai vai Kim gánh hết mọi sức nặng—gánh nặng của một ông già, gánh nặng của túi lương thực nặng trĩu cùng những cuốn sách khóa kín, gánh những kinh văn trước ngực, và mọi chi tiết của lệ thường hằng ngày. Rạng sáng cậu đi xin ăn, trải chăn cho lạt-ma tham thiền, giữa cơn nóng ban trưa cậu đỡ cái đầu mệt mỏi trên lòng, quạt ruồi đến đau nhức cổ tay; tối đến lại đi xin ăn và xoa bóp chân lạt-ma, người đền đáp cậu bằng lời hứa về Giải thoát—hôm nay, ngày mai, hoặc chậm nhất là ngày kia.

“Chưa từng có một _đệ tử_ nào như con. Đôi lúc ta tự hỏi liệu Ananda có chăm sóc Đức Thế Tôn tận tụy hơn chăng. Mà con là một Sahib ư? Khi ta còn là một người tráng kiện—đã lâu lắm rồi—ta quên mất điều ấy. Giờ ta thường nhìn con, và lần nào cũng nhớ ra con là một Sahib. Thật lạ.”

“Thầy đã nói không có đen cũng chẳng có trắng. Sao lại quấy rầy con bằng chuyện ấy, hỡi Thánh Nhân? Để con xoa chân bên kia. Chuyện đó làm con bực. Con _không phải_ Sahib. Con là _đệ tử_ của thầy, và cái đầu trên vai con nặng trĩu.”

“Ráng kiên nhẫn một chút! Chúng ta sẽ cùng đạt Giải thoát. Khi ấy con và ta, trên bờ xa của Dòng Sông, sẽ ngoảnh nhìn đời mình như ở miền Đồi núi chúng ta từng nhìn những chặng đường trong ngày trải ra phía sau. Có lẽ kiếp trước ta từng là một Sahib.”

“Con thề chẳng bao giờ có một Sahib nào như thầy.”

“Ta tin chắc người Giữ Tượng trong Nhà Kỳ Quan kiếp trước là một Viện trưởng rất mực thông thái. Nhưng ngay cả kính của ông ấy cũng không làm mắt ta nhìn rõ. Khi ta cố nhìn chăm chú, bóng tối lại sa xuống. Không sao—chúng ta biết những mánh khóe của cái xác thịt ngu độn đáng thương này—bóng nọ đổi thành bóng kia. Ta bị trói trong ảo tưởng của Thời gian và Không gian. Hôm nay thân xác chúng ta đi được bao xa?”

“Có lẽ nửa koss.” (Ba phần tư dặm, và đó là một chặng đường nhọc nhằn.)

“Nửa koss. Ha! Trong thần thức ta đã đi vạn vạn dặm. Chao ôi, tất cả chúng ta đều bị những thứ vô tri này bọc lấy, quấn lấy, cuốn chặt như trẻ sơ sinh.” Ngài nhìn bàn tay gầy guộc nổi gân xanh, đối với nó chuỗi hạt cũng quá nặng. “_Đệ tử_, con chưa bao giờ muốn rời ta sao?”

Kim nghĩ đến gói vải dầu và những cuốn sách trong túi lương thực. Giá có người được ủy quyền đàng hoàng đến nhận chúng thì Ván Cờ Lớn có tự chơi lấy cũng mặc, lúc ấy cậu chẳng thiết. Cậu mệt mỏi, đầu nóng ran, lại khổ sở vì một cơn ho bật lên từ bụng.

“Không,” cậu nói, giọng gần như nghiêm khắc. “Con đâu phải chó hay rắn mà quay lại cắn khi đã học được yêu thương.”

“Con quá mực dịu dàng với ta.”

“Cũng không phải thế. Có một việc con đã tự làm mà không hỏi thầy. Nhờ người đàn bà cho chúng ta sữa dê sáng nay, con đã gửi lời tới bà xứ Kulu, nói rằng thầy hơi yếu và sẽ cần một chiếc kiệu. Trong bụng con tự trách sao không làm thế ngay khi chúng ta vào xứ Doon. Chúng ta ở lại đây cho đến khi kiệu tới.”

“Ta bằng lòng. Như con nói, bà ấy có trái tim vàng, nhưng hay chuyện—cũng khá là hay chuyện.”

“Bà ấy sẽ không làm thầy mệt. Con cũng đã lo liệu chuyện đó. Hỡi Thánh Nhân, lòng con nặng trĩu vì bao lần bất cẩn với thầy.” Một tiếng nghẹn cuồng loạn dâng lên trong cổ cậu. “Con đã bắt thầy đi quá xa; không phải lúc nào con cũng chọn thức ăn lành cho thầy; con không để ý trời nóng; con mải nói chuyện với người trên đường, bỏ thầy một mình... Con đã—con đã... _Hai mai!_ Nhưng con yêu thầy... mà mọi sự đều quá muộn... Con chỉ là đứa trẻ... Ôi, sao con không phải một người trưởng thành?...” Bị sức căng, mệt nhọc và gánh nặng vượt quá tuổi mình đè bẹp, Kim suy sụp, nức nở dưới chân lạt-ma.

“Sao lại rối rít thế này!” ông già dịu dàng nói. “Con chưa hề bước lệch khỏi Đường Phục tùng dù chỉ bằng một sợi tóc. Bỏ bê ta ư? Con ơi, ta sống nhờ sức con như cây cổ thụ sống nhờ vôi của một bức tường mới. Ngày qua ngày, từ Shamlegh trở xuống, ta đã lấy trộm sức lực của con. _Bởi vậy_, không phải do bất kỳ tội lỗi nào của con, con mới suy yếu. Đó là Thân xác—cái Thân xác ngốc nghếch, ngu xuẩn—đang lên tiếng. Không phải Linh hồn vững tin. Hãy yên lòng! Ít nhất con cũng nên biết những con quỷ mình đang giao chiến. Chúng sinh từ đất—con cái của ảo tưởng. Chúng ta sẽ đến chỗ bà xứ Kulu. Bà ấy sẽ tích công đức nhờ cho chúng ta trú ngụ, và nhất là nhờ chăm sóc ta. Con sẽ được tự do chạy nhảy cho đến khi sức lực trở lại. Ta đã quên mất cái Thân xác ngu xuẩn. Nếu có lỗi, ta xin nhận. Nhưng chúng ta đã quá gần Cửa Giải thoát để còn cân nhắc lỗi lầm. Ta có thể ngợi khen con, nhưng cần gì? Chỉ một lát nữa—một lát rất ngắn nữa—chúng ta sẽ ngồi bên kia mọi nhu cầu.”

Và cứ thế ngài âu yếm, an ủi Kim bằng những lời răn khôn ngoan cùng các đoạn kinh trang trọng nói về con thú ít được thấu hiểu ấy—Thân xác chúng ta—thứ tuy chỉ là ảo ảnh nhưng cứ khăng khăng mạo nhận mình là Linh hồn, khiến Đường đi tối lại và vô số con quỷ không cần thiết sinh sôi.

“Hai! Hai! Hãy nói chuyện bà xứ Kulu. Con nghĩ bà ấy sẽ xin thêm một lá bùa cho các cháu trai chăng? Khi ta còn trẻ, lâu lắm rồi, ta cũng từng bị những cơn u uất này—và vài thứ khác—quấy nhiễu; ta tìm đến một Viện trưởng, một người rất thánh thiện và kiếm tìm chân lý, dù khi ấy ta chưa biết. Ngồi dậy nghe đây, Con của hồn ta! Ta kể xong chuyện mình. Ngài bảo ta: ‘_Đệ tử_, hãy biết điều này. Trên đời có nhiều lời dối trá và chẳng ít kẻ dối trá, nhưng không kẻ dối trá nào bằng thân xác chúng ta, trừ ra những cảm giác của chính thân xác ấy.’ Suy ngẫm điều đó, ta được an lòng; và do ân huệ lớn lao, ngài cho phép ta uống trà trước mặt ngài. Giờ con hãy cho ta uống trà, vì ta khát.”

Cười qua nước mắt, Kim hôn chân lạt-ma rồi bắt tay pha trà.

“Về phần thân xác, thầy dựa vào con, hỡi Thánh Nhân, nhưng trong vài chuyện khác con lại dựa vào thầy. Thầy có biết không?”

“Có lẽ ta đã đoán ra,” mắt lạt-ma lấp lánh. “Chúng ta phải thay đổi điều ấy.”

Bởi vậy, khi cùng tiếng chân kéo lê, tiếng cào sột soạt và một bầu không khí quan trọng nóng hầm hập, chẳng gì kém hơn chiếc kiệu riêng yêu quý của Sahiba được phái đi hai mươi dặm đã bơi tới, do chính người hầu Oorya tóc hoa râm ấy trông coi; và khi họ đến được cái trật tự lộn xộn của ngôi nhà trắng dài, tản mạn phía sau Saharunpore, lạt-ma tự có cách lo liệu.

Sau những lời thăm hỏi, Sahiba vui vẻ gọi từ cửa sổ tầng trên: “Lời khuyên của một bà già thì ích gì cho một ông già? Ta đã bảo thầy—ta _đã bảo_ thầy, hỡi Thánh Nhân, phải để mắt đến _đệ tử_. Thầy trông nom nó thế nào? Đừng trả lời ta! _Ta_ biết rồi. Nó đã chạy rông giữa đám đàn bà. Nhìn mắt nó kìa—hốc hác, trũng sâu—lại còn Đường Nét Phản Bội chạy từ mũi xuống! Nó đã bị vắt kiệt! Eo ôi! Eo ôi! Lại còn là thầy tu nữa chứ!”

Kim ngước lên, mệt quá chẳng cười nổi, chỉ lắc đầu phủ nhận.

“Đừng nói đùa,” lạt-ma bảo. “Thời ấy đã qua. Chúng ta đến đây vì việc lớn. Trên miền Đồi núi, ta mắc một căn bệnh của linh hồn, còn nó mắc bệnh của thể xác. Từ đó ta sống nhờ sức lực nó—ăn mòn nó.”

“Trẻ con cả đôi—đứa trẻ lẫn ông già,” bà khịt mũi, nhưng thôi không pha thêm trò đùa mới. “Mong lòng hiếu khách lần này phục hồi hai thầy trò! Chờ một lát, ta sẽ xuống chuyện trò về miền Đồi cao tốt lành.”

Đến tối—con rể bà đã về nên bà không cần đi một vòng thị sát trang trại—bà đi thẳng vào cốt lõi sự việc, được lạt-ma hạ giọng giải thích. Hai mái đầu già cùng gật gù thông thái. Kim đã lảo đảo vào một căn phòng có giường dây và đang ngủ lịm nặng nề. Lạt-ma đã cấm cậu trải chăn hay kiếm thức ăn.

“Ta biết—ta biết. Còn ai ngoài ta?” bà cười khành khạch. “Những kẻ đang đi xuống bãi hỏa táng như chúng ta cứ níu tay người từ Dòng Sông Sự Sống đi lên, mang vò nước đầy—phải, đầy tràn miệng vò. Ta đã nghĩ oan cho thằng bé. Nó cho thầy mượn sức lực ư? Quả thật người già ngày ngày ăn mòn người trẻ. Vậy thì bây giờ chúng ta phải làm nó hồi phục.”

“Bà đã nhiều lần tích được công đức—”

“Công đức của _ta_. Nó là gì chứ? Một túi xương già nấu cà ri cho những kẻ chẳng buồn hỏi ‘Ai nấu món này?’ Giá mà nó được dành dụm cho cháu trai ta—”

“Đứa từng đau bụng ấy ư?”

“Thánh Nhân mà còn nhớ _chuyện ấy!_ Ta phải kể cho mẹ nó. Thật là một vinh dự hiếm có! ‘Đứa từng đau bụng ấy’—Thánh Nhân nhớ ra ngay tức khắc. Nó sẽ hãnh diện lắm.”

“_Đệ tử_ của ta đối với ta cũng như con trai đối với kẻ chưa giác ngộ.”

“Đúng hơn phải gọi là cháu trai. Các bà mẹ đâu có sự khôn ngoan của tuổi chúng ta. Hễ con khóc là họ bảo trời sắp sập. Còn bà thì đã cách đủ xa nỗi đau sinh nở cùng niềm vui cho bú để xét xem tiếng khóc là do thói hư thuần túy hay do đầy hơi. Mà nhân thầy lại nói đến hơi, lần trước Thánh Nhân ở đây, có lẽ ta đã xúc phạm vì cứ nài xin bùa phép.”

“Này đạo tỷ,” lạt-ma nói, dùng cách xưng hô mà đôi khi một tăng sĩ Phật giáo có thể dùng với một ni cô, “nếu bùa phép khiến bà được an lòng—”

“Chúng còn hơn vạn ông thầy thuốc.”

“Ta nói rằng, nếu chúng khiến bà an lòng, thì ta, người từng là trụ trì tu viện Such-zen, sẽ làm bao nhiêu tùy ý bà muốn. Ta chưa từng thấy mặt bà—”

“Đến lũ khỉ chuyên trộm tì bà của nhà ta cũng coi _đó_ là một điểm tốt. Hi! Hi!”

“Nhưng như người đang ngủ trong kia đã nói,”—ngài gật về cánh cửa đóng kín của phòng khách bên kia sân trước—“bà có một trái tim vàng... Và về tinh thần, nó quả thật là ‘cháu trai’ của ta.”

“Tốt! Ta là bò cái của Thánh Nhân.” Đây là đạo Hindu thuần túy, nhưng lạt-ma chẳng để tâm. “Ta già rồi. Ta từng sinh những đứa con bằng xương thịt. Ôi, có thời ta làm đàn ông vui lòng! Bây giờ ta chữa cho họ lành.” Ngài nghe vòng tay bà leng keng như thể bà đang xắn tay áo để hành động. “Ta sẽ tiếp quản thằng bé, cho nó uống thuốc, nhồi nó ăn, làm nó lành lặn hoàn toàn. Hai! Hai! Người già chúng ta vẫn còn biết đôi điều.”

Bởi thế, khi Kim, xương cốt đau nhức, mở mắt ra và định xuống nhà bếp lấy thức ăn cho sư phụ, cậu thấy quanh mình là một sự cưỡng ép cứng rắn, còn ở cửa là một bóng người già che mạng, hai bên có người gia nhân tóc hoa râm đứng kèm; ông ta kể thật rành rọt những điều cậu tuyệt đối không được làm.

“Cậu cần có ư? Cậu sẽ chẳng được có gì hết. Sao? Một chiếc rương khóa để giữ kinh sách? Ồ, chuyện đó lại khác. Trời cấm ta xen giữa một thầy tu và lời cầu nguyện của người ấy! Rương sẽ được mang đến, còn cậu giữ chìa khóa.”

Họ đẩy chiếc rương xuống dưới giường dây, và Kim cất khẩu súng lục của Mahbub, gói thư bọc vải dầu cùng những cuốn sách và nhật ký khóa kín vào đó, thở phào nhẹ nhõm. Vì một lý do vô lý nào đó, sức nặng của chúng trên vai chẳng thấm gì so với sức nặng chúng đè lên tâm trí khốn khổ của cậu. Ban đêm cổ cậu đau nhức vì nó.

“Căn bệnh của cậu ngày nay hiếm thấy ở tuổi trẻ, vì đám trẻ đã thôi chăm nom bậc trên. Phương thuốc là ngủ và vài vị thuốc,” Sahiba nói; và cậu vui lòng buông mình vào khoảng trống rỗng vừa đe dọa vừa xoa dịu cậu.

Bà pha những thức uống trong một nơi bí ẩn nào đó, tương đương với phòng cất rượu thuốc của người châu Á—những liều thuốc nước bốc mùi dịch bệnh và có vị còn tệ hơn. Bà đứng trông Kim cho đến khi chúng trôi xuống, rồi tra hỏi cặn kẽ sau khi chúng trào lên. Bà ban lệnh cấm đối với sân trước và dùng một người có vũ khí để thi hành. Đúng là ông ta đã ngoài bảy mươi, còn thanh kiếm trong vỏ cụt ngay ở chuôi; nhưng ông đại diện cho quyền uy của Sahiba, nên xe hàng nặng trĩu, gia nhân huyên thuyên, bê con, chó, gà và mọi thứ tương tự đều đi vòng thật xa khỏi khu vực ấy. Hay nhất là khi thân thể cậu đã được thanh lọc, từ đám họ hàng nghèo chen chúc phía sau các dãy nhà—chúng ta gọi họ là chó nuôi trong nhà—bà chọn ra một góa phụ họ hàng, thành thạo thứ mà người châu Âu chẳng biết gì về nó vẫn gọi là xoa bóp. Hai người đặt cậu nằm theo hướng đông tây, để những luồng bí ẩn trong đất rung qua chất đất sét làm nên thân thể chúng ta có thể giúp sức chứ không cản trở, rồi tháo rời cậu suốt một buổi chiều dài—từng khúc xương, từng bắp thịt, từng dây chằng, và sau hết từng sợi thần kinh. Bị nhào thành một khối bột chẳng còn tự chủ, nửa mê nửa tỉnh vì những tấm _chudder_ che mắt họ cứ liên hồi phất lên rồi chỉnh lại đầy vướng víu, Kim trượt sâu mười ngàn dặm vào giấc ngủ—ba mươi sáu giờ liền—một giấc ngủ thấm đẫm như mưa sau hạn hán.

Rồi bà cho cậu ăn, khiến cả nhà quay cuồng theo tiếng quát tháo. Bà sai giết gà; sai đi kiếm rau khiến người làm vườn điềm đạm, chậm nghĩ, già gần bằng bà, phải đổ mồ hôi; bà lấy gia vị, sữa và hành, cùng những con cá nhỏ bắt ở suối—lát sau là chanh làm nước sherbet, chim cút béo từ bẫy, rồi gan gà xiên que xen giữa những lát gừng.

“Ta đã thấy đôi điều trên thế gian này,” bà nói bên những mâm thức ăn chất đầy, “và trên đời chỉ có hai hạng đàn bà—hạng rút sức lực khỏi đàn ông và hạng trả nó lại. Xưa ta là hạng kia, nay ta là hạng này. Nào—đừng lên mặt ông thầy tu con với ta. Ta chỉ nói đùa. Nếu bây giờ câu ấy chưa ứng, nó sẽ ứng khi cậu lại lên đường. Này em,”—bà nói với người họ hàng nghèo chẳng bao giờ chán ca tụng lòng từ thiện của ân nhân—“da nó đang lên sắc bóng như con ngựa mới chải lông. Công việc của chúng ta chẳng khác nào đánh bóng châu báu để ném cho một ả vũ nữ—phải không?”

Kim ngồi dậy mỉm cười. Cơn suy nhược khủng khiếp đã rời khỏi cậu như một chiếc giày cũ. Lưỡi cậu ngứa ngáy muốn lại được nói năng thoải mái, trong khi mới một tuần trước, lời nhẹ nhất cũng mắc lại như tro. Cơn đau cổ (hẳn cậu lây từ lạt-ma) đã biến mất cùng những trận đau mình mẩy dữ dội vì sốt xuất huyết và vị khó chịu trong miệng. Hai bà già, giờ giữ mạng che mặt cẩn thận hơn một chút nhưng cũng chẳng hơn bao nhiêu, vui vẻ cục tác như những con gà mái vừa mổ thóc vừa bước qua cửa mở vào phòng.

“Thánh Nhân của ta đâu?” cậu hỏi gặng.

“Nghe nó kìa! Thánh Nhân của cậu vẫn khỏe,” bà cay nghiệt quát. “Dù đó chẳng phải công đức của _ông ấy_. Nếu biết lá bùa nào khiến ông ấy khôn ra, ta sẽ bán nữ trang mà mua. Từ chối món ngon do chính tay ta nấu—lang thang ngoài đồng hai đêm với cái bụng rỗng—cuối cùng lại ngã nhào xuống suối—cậu gọi _đó_ là thánh thiện sao? Rồi sau khi suýt làm tan nát nốt phần trái tim cậu còn chừa lại cho ta vì lo lắng, ông ấy bảo ta rằng mình đã tích được công đức. Ôi, đàn ông sao mà giống nhau! Không, không phải thế—ông ấy bảo ta mình đã thoát sạch mọi tội lỗi. _Ta_ có thể nói điều ấy cho ông ấy từ trước khi ông ấy làm mình ướt như chuột lột. Giờ ông ấy khỏe rồi—chuyện xảy ra một tuần trước—nhưng thứ thánh thiện ấy thì đem đốt đi cho ta! Đứa bé ba tuổi còn làm khá hơn. Đừng tự làm mình khổ vì Thánh Nhân. Khi không lội suối nhà ta, ông ấy luôn dán cả hai mắt vào cậu.”

“Tôi không nhớ đã trông thấy thầy. Tôi chỉ nhớ ngày và đêm trôi qua như những song trắng rồi đen, mở ra rồi khép lại. Tôi không ốm; chỉ mệt thôi.”

“Một cơn mê ngủ theo lẽ thường phải vài chục năm nữa mới tới. Nhưng giờ nó đã qua.”

“Maharanee,” Kim bắt đầu, nhưng theo ánh mắt bà, cậu đổi sang danh xưng của tình yêu mộc mạc—“Mẹ, con nợ mẹ mạng sống. Con phải cảm tạ thế nào đây? Vạn lời ban phước cho nhà mẹ và—”

“Nhà cửa đừng có mà ban phước!” (Không thể diễn đạt chính xác lời của bà già.) “Nếu muốn thì làm thầy tu mà tạ ơn các Thần, nhưng nếu cậu có lòng, hãy cảm ơn ta như một đứa con. Trời cao ơi! Ta xoay cậu, nhấc cậu, đập cậu, vặn cả mười ngón chân cậu chỉ để nhận mấy câu kinh ném vào đầu ta sao? Ở nơi nào đó hẳn một người mẹ đã sinh cậu ra để cậu làm tan nát tim bà. Cậu đã đối xử với bà ấy ra sao—con trai?”

“Con không có mẹ, thưa mẹ,” Kim nói. “Người ta bảo bà mất khi con còn nhỏ.”

“_Hai mai!_ Vậy thì chẳng ai có thể nói ta cướp mất quyền gì của bà ấy nếu—khi cậu lại lên đường và ngôi nhà này chỉ còn là một trong ngàn nơi từng ghé trú rồi quên đi sau một lời chúc phúc buông dễ dàng. Không sao. Ta chẳng cần lời ban phước, nhưng—nhưng—” Bà giậm chân quát người họ hàng nghèo. “Bưng các mâm lên nhà. Đồ ăn nguội để trong phòng thì có ích gì, hỡi mụ đàn bà điềm gở?”

“Tôi c-cũng từng sinh một đứa con trai, nhưng nó chết rồi,” bóng người em còng lưng sau tấm _chudder_ thút thít. “Chị biết nó chết rồi mà! Tôi chỉ đợi lệnh dọn mâm đi thôi.”

“Chính ta mới là mụ đàn bà điềm gở,” bà già hối hận kêu lên. “Những kẻ đang đi xuống _chattris_ (những chiếc lọng lớn bên trên bãi hỏa táng, nơi các thầy tu nhận khoản lễ cuối cùng) cứ bám chặt lấy người mang _chattis_ (vò nước—ý bà chỉ đám trẻ tràn đầy niềm kiêu hãnh sống; nhưng cách chơi chữ thật vụng). Khi không còn nhảy múa trong hội được nữa thì đành nhìn qua cửa sổ, mà làm bà chiếm hết thời giờ của một người đàn bà. Sư phụ cậu cho ta đủ mọi lá bùa ta muốn cho đứa con đầu của con gái, bởi lẽ—có phải không?—ông ấy hoàn toàn sạch tội. Gã _hakim_ dạo này bị hạ thấp lắm. Hắn đi khắp nơi đầu độc gia nhân của ta vì thiếu người đáng trọng hơn để chữa.”

“_Hakim_ nào vậy, mẹ?”

“Chính cái gã người Dacca đã cho ta viên thuốc xé ta làm ba mảnh ấy. Một tuần trước hắn dạt tới như lạc đà đi lạc, thề rằng hắn với cậu từng là anh em kết nghĩa ở vùng Kulu và giả vờ lo lắng ghê gớm cho sức khỏe cậu. Hắn gầy đói lắm, nên ta ra lệnh nhồi cho hắn ăn luôn—nhồi cả hắn lẫn nỗi lo của hắn!”

“Nếu ông ấy còn đây, con muốn gặp.”

“Hắn ăn năm bữa một ngày và rạch nhọt cho tá điền nhà ta để khỏi trúng gió. Hắn lo sức khỏe cậu đến mức cứ dính lấy cửa nhà bếp, tự bồi bổ bằng đồ thừa. Hắn cứ chờ được. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ tống hắn đi nổi.”

“Sai ông ấy vào đây, mẹ,”—tia lấp lánh thoáng trở lại trong mắt Kim—“để con thử xem.”

“Ta sẽ sai gọi hắn, nhưng đuổi hắn đi là xử tệ. Ít nhất hắn cũng đủ khôn để vớt Thánh Nhân khỏi suối; nhờ thế, như lời Thánh Nhân _không hề_ nói, hắn tích được công đức.”

“Ông ấy là một _hakim_ rất thông thái. Mẹ sai gọi đi.”

“Thầy tu khen thầy tu ư? Kỳ tích! Nếu hắn là bạn cậu (lần gặp trước hai người cãi nhau), ta sẽ lấy thừng buộc ngựa lôi hắn vào đây và—và sau đó đãi hắn một bữa đúng phép đẳng cấp, con trai ta... Dậy mà ngắm thế gian! Nằm giường thế này là mẹ đẻ của bảy mươi con quỷ... con trai ta! Con trai ta!”

Bà lon ton đi gây một trận cuồng phong ngoài nhà bếp, và gần như lăn theo sát bóng bà là Babu, áo quấn tận vai như một hoàng đế La Mã, nọng cằm bạnh như Titus, đầu trần, đi đôi giày da láng mới, béo tốt đến độ sung mãn nhất, toát ra niềm vui cùng những lời chào hỏi.

“Trời đất ơi, Mister O’Hara, tôi _quả là_ vui sướng khi thấy cậu. Tôi xin phép đóng cửa. Thật đáng tiếc cậu đau bệnh. Cậu bệnh nặng lắm sao?”

“Giấy tờ—giấy tờ lấy từ chiếc _kilta_. Bản đồ và _murasla!_” Cậu nóng nảy chìa khóa ra; bởi lúc này nhu cầu trong lòng cậu là tống khứ chiến lợi phẩm.

“Cậu hoàn toàn đúng. Đó là quan điểm đúng chuẩn của Sở phải áp dụng. Cậu đã lấy đủ mọi thứ chứ?”

“Mọi thứ viết tay trong chiếc _kilta_, ta đều lấy. Phần còn lại ta ném xuống đồi.” Cậu nghe tiếng chìa nghiến trong ổ khóa, tiếng lớp vải dầu dính rít bị chậm rãi xé ra, rồi tiếng giấy sột soạt thật nhanh. Suốt những ngày đau ốm nằm không, cậu đã bực bội quá mức khi biết chúng nằm dưới mình—một gánh nặng không thể thổ lộ. Bởi thế, máu chạy rần rật khắp người cậu khi Hurree, nhảy nhót nặng nề như voi, lại bắt tay cậu.

“Thế này tuyệt! Tuyệt hảo nhất! Mister O’Hara! Cậu đã—ha! ha!—cuỗm cả túi mánh khóe—sạch từ khóa, báng tới nòng. Họ bảo tôi công trình tám tháng đã trôi tuột lên ống khói! Trời đất ơi, họ đánh tôi khiếp quá!... Xem này, thư từ Hilás đây!” Ông ngâm nga một hai câu tiếng Ba Tư cung đình, ngôn ngữ của nền ngoại giao được phép lẫn không được phép. “Mister Rajah Sahib gần như đã đặt chân lọt vào các lỗ. Ngài ấy sẽ phải giải thích một cách chính thức vì quỷ thần gì ngài viết thư tình cho Sa hoàng. Còn những bản đồ này rất tài tình... và ba hay bốn vị Thủ tướng vùng này bị thư từ lôi vào liên can. Trời đất, thưa ngài! Chính phủ Anh sẽ thay đổi ngôi kế vị ở Hilás và Bunár, rồi chỉ định những người thừa kế ngai vàng mới. ‘Phản-quốc hèn hạ nhất’... nhưng cậu không hiểu sao? Hả?”

“Chúng đã ở trong tay ông chưa?” Kim hỏi. Cậu chỉ quan tâm điều ấy.

“Cậu cứ vui vẻ mà cược với chính mình rằng đã ở đây rồi.” Ông cất toàn bộ kho báu quanh người theo cách chỉ người phương Đông mới làm được. “Chúng cũng sẽ lên Sở. Bà già tưởng tôi là vật cố định vĩnh viễn tại đây, nhưng tôi sẽ đi ngay với chúng—lập tức. Mr Lurgan sẽ là người đầy tự hào. Về chính thức cậu là cấp dưới của tôi, nhưng tôi sẽ đưa tên cậu vào báo cáo bằng miệng. Thật đáng tiếc chúng ta không được phép báo cáo bằng văn bản. Người Bengal chúng tôi xuất sắc trong môn khoa học chính xác đó.” Ông ném trả chìa khóa và cho cậu thấy chiếc rương đã trống không.

“Tốt. Thế là tốt. Ta đã mệt lắm. Thánh Nhân của ta cũng đau. Và thầy đã ngã xuống—”

“Ồ đúng vậy. Tôi là bạn tốt của ngài ấy, tôi bảo cậu rồi. Khi xuống đây sau cậu, tôi thấy ngài hành xử rất kỳ lạ, và nghĩ có lẽ ngài giữ giấy tờ. Tôi theo ngài trong các cuộc tham thiền, và cũng để thảo luận những điểm dân tộc học. Cậu thấy đấy, ngày nay ở đây tôi là nhân vật rất nhỏ bé so với mọi bùa phép của ngài. Trời đất ơi, O’Hara, cậu có biết ngài mắc chứng suy nhược co giật không. Đúng, tôi bảo cậu. Chứng giữ nguyên tư thế nữa, nếu không phải thêm cả động kinh. Tôi thấy ngài trong trạng thái ấy dưới một gốc cây, _in articulo mortem_, rồi ngài bật dậy, bước xuống suối và suýt chết đuối nếu không có tôi. Tôi kéo ngài lên.”

“Bởi ta không có mặt!” Kim nói. “Thầy có thể đã chết.”

“Đúng, ngài có thể đã chết, nhưng giờ đã khô rồi và quả quyết rằng mình vừa trải qua biến hình.” Babu gõ gõ trán vẻ hiểu biết. “Tôi đã ghi chép lời trình bày của ngài để dành cho Hội Hoàng gia—_in posse_. Cậu phải mau chóng khỏe hẳn rồi trở lại Simla, tôi sẽ kể cậu nghe toàn bộ câu chuyện của tôi ở nhà Lurgan. Tuyệt diệu lắm. Gấu quần họ rách _hoàn toàn_, và Rajah già xứ Nahan tưởng họ là lính châu Âu đào ngũ.”

“Ồ, mấy người Nga ấy ư? Họ ở với ông bao lâu?”

“Một người là người Pháp. Ôi, ngày nối ngày nối ngày! Bây giờ tất cả dân miền núi tin mọi người Nga đều là ăn mày. Trời đất ơi! Họ không có lấy một thứ chết tiệt nào mà tôi không xin cho họ. Tôi còn kể dân thường—ồ, _biết bao_ chuyện và giai thoại!—tôi sẽ kể cậu ở nhà Lurgan già khi cậu lên. Chúng ta sẽ có—à—một đêm vui chơi! Đó là một thành tích đáng tự hào của cả hai ta! Đúng, và họ cho tôi một tờ chứng nhận. Đó là trò đùa phủ đầy kem. Giá cậu thấy họ ở Alliance Bank xác minh danh tính! Và đội ơn Đức Chúa Toàn năng cậu đã lấy giấy tờ của họ ngon lành đến thế! Cậu không cười nhiều lắm, nhưng khi khỏe cậu sẽ cười. Giờ tôi sẽ đi thẳng ra đường sắt và rời khỏi đây. Cậu sẽ được đủ mọi loại công trạng cho ván chơi của mình. Bao giờ cậu đi theo? Chúng tôi rất tự hào về cậu, dù cậu làm chúng tôi kinh sợ ghê gớm. Nhất là Mahbub.”

“Phải, Mahbub. Ông ấy ở đâu?”

“Dĩ nhiên đang bán ngựa trong vùng phụ-cận này.”

“Ở đây! Tại sao? Nói chậm thôi. Đầu ta vẫn còn đặc sệt.”

Babu rụt rè nhìn xuống theo sống mũi. “À, cậu thấy đấy, tôi là người nhút nhát, và tôi không thích trách nhiệm. Cậu đau bệnh, cậu thấy đấy, mà tôi không biết giấy tờ quỷ quái ở đâu, và nếu có thì bao nhiêu. Bởi vậy khi xuống tới đây, tôi bí mật gửi điện cho Mahbub—ông ấy đang ở Meerut xem đua ngựa—và tôi kể ông ấy tình hình vụ việc. Ông ấy cùng người của mình tới, kết giao với lạt-ma, rồi gọi tôi là đồ ngốc và rất thô lỗ—”

“Nhưng vì sao—vì sao?”

“Đó chính là điều _tôi_ hỏi. Tôi chỉ đề nghị rằng nếu có ai lấy trộm giấy tờ thì tôi muốn vài người khỏe mạnh, dũng cảm cướp chúng trở lại. Cậu thấy đấy, chúng quan trọng sống còn, mà Mahbub Ali không biết cậu ở đâu.”

“Mahbub Ali đi cướp nhà Sahiba ư? Ông điên rồi, Babu,” Kim phẫn nộ nói.

“Tôi cần giấy tờ. Giả sử bà ấy đã lấy trộm thì sao? Tôi nghĩ đó chỉ là đề nghị thực tiễn. Cậu không hài lòng, hả?”

Một câu tục ngữ bản xứ—không tiện dẫn ra—cho thấy sự phản đối của Kim đen tối đến mức nào.

“Thôi được,”—Hurree nhún vai—“khẩu vị thì không sao giải thích. Mahbub cũng giận. Ông ấy đã bán ngựa khắp vùng này, và bảo bà già là một bà già _pukka_ (thứ thiệt), sẽ không hạ mình làm chuyện thiếu phong cách quân tử như thế. _Tôi_ chẳng quan tâm. Tôi đã có giấy tờ, và rất vui vì được Mahbub hỗ trợ tinh thần. Tôi bảo cậu, tôi là người nhút nhát, nhưng chẳng hiểu sao càng nhút nhát thì tôi càng lọt vào những chỗ khốn kiếp chặt cứng. Bởi vậy tôi mừng vì cậu đi Chini với tôi, và mừng vì Mahbub ở gần. Bà già đôi khi rất thô lỗ với tôi và những viên thuốc tuyệt đẹp của tôi.”

“Cầu Allah từ bi!” Kim chống khuỷu tay ngồi dậy, hân hoan nói. “Một Babu là giống thú kỳ lạ đến nhường nào! Và người này đã đi một mình—nếu quả thật ông có đi—cùng những kẻ ngoại quốc bị cướp, đang giận dữ!”

“Ồ, chuyện đó chẳng là gì sau khi họ đã đánh tôi; nhưng nếu tôi làm mất giấy tờ thì khá là cực kỳ nghiêm trọng. Mahbub cũng suýt đánh tôi, và ông ấy đi kết giao với lạt-ma mãi không thôi. Từ nay tôi sẽ bám lấy các cuộc khảo cứu dân tộc học. Giờ tạm biệt, Mister O’Hara. Nếu nhanh chân tôi có thể bắt chuyến 4 giờ 25 chiều đi Umballa. Sẽ là thời gian vui vẻ khi tất cả chúng ta kể câu chuyện trên nhà Mr Lurgan. Trong báo cáo chính thức, tôi sẽ nói tốt hơn về cậu. Tạm biệt, bạn thân mến, và lần sau khi xúc động, xin đừng dùng từ ngữ Hồi giáo trong y phục Tây Tạng.”

Ông bắt tay hai lần—một Babu từ đầu đến gót giày—rồi mở cửa. Khi ánh nắng đổ xuống gương mặt vẫn còn khải hoàn, ông trở lại làm gã lang băm Dacca thấp hèn.

“Ông ấy đã cướp họ,” Kim nghĩ, quên mất phần mình trong Ván Cờ. “Ông ấy lừa họ. Ông ấy nói dối họ như một người Bengal. Họ cho ông ấy một tờ _chit_ (giấy chứng nhận). Ông ấy biến họ thành trò cười dù nguy hiểm đến tính mạng—_ta_ sẽ chẳng bao giờ đi xuống chỗ họ sau những phát súng lục—rồi ông ấy lại bảo mình là người nhút nhát... Mà ông ấy _đúng là_ người nhút nhát. Ta phải trở lại với thế gian.”

Thoạt đầu chân cậu cong oằn như những ống điếu tồi, còn luồng không khí chan hòa nắng ùa tới làm cậu lóa mắt. Cậu ngồi xổm bên bức tường trắng, tâm trí lục lọi những sự việc trong chuyến đi dài bằng _dooli_, những cơn suy yếu của lạt-ma, và giờ đây khi sự kích thích của cuộc trò chuyện đã mất, cả nỗi tự thương thân—thứ người bệnh như cậu luôn có sẵn rất nhiều. Bộ óc suy nhược tránh né mọi thứ bên ngoài, như con ngựa chưa thuần, một khi đã bị thúc đinh, cứ lách mình né cựa. Thế là đủ, quá đủ rồi: chiến lợi phẩm trong chiếc _kilta_ đã đi khỏi—rời khỏi tay cậu—không còn do cậu nắm giữ. Cậu cố nghĩ đến lạt-ma—cố tự hỏi sao ngài lại ngã xuống suối—nhưng vẻ mênh mông của thế gian nhìn qua cổng sân trước đã quét sạch mọi dòng suy nghĩ nối tiếp. Rồi cậu nhìn cây cối và đồng ruộng rộng lớn, với những túp lều mái rạ ẩn giữa mùa màng—nhìn bằng đôi mắt xa lạ không sao nắm được kích thước, tỷ lệ và công dụng của sự vật—cứ nhìn trân trân nửa giờ yên lặng. Suốt lúc ấy cậu cảm thấy, dù chẳng thể nói thành lời, rằng linh hồn mình đã trật khớp với cảnh vật chung quanh—một bánh răng không ăn vào bất cứ cỗ máy nào, hệt bánh răng nằm không của chiếc máy ép mía Beheea rẻ tiền bị bỏ trong góc. Gió nhẹ phe phẩy qua cậu, vẹt ré lên với cậu, những âm thanh từ ngôi nhà đông đúc phía sau—cãi vã, mệnh lệnh và quở trách—dội vào đôi tai điếc đặc.

“Ta là Kim. Ta là Kim. Và Kim là ai?” Linh hồn cậu lặp đi lặp lại.

Cậu không muốn khóc—cả đời chưa bao giờ ít muốn khóc đến thế—nhưng bỗng nhiên những giọt nước mắt ngớ ngẩn, dễ dàng chảy dọc sống mũi; và với một tiếng khớp gần như nghe thấy được, cậu cảm thấy những bánh xe trong con người mình lại ăn khớp với thế giới bên ngoài. Những sự vật một thoáng trước còn trôi vô nghĩa trên nhãn cầu giờ trượt về đúng tỷ lệ. Đường là để đi, nhà là để ở, gia súc là để lùa, ruộng là để cày, còn đàn ông đàn bà là để trò chuyện. Tất cả đều có thật và chân thực—đứng vững vàng trên đôi chân—hoàn toàn dễ hiểu—đất sét cùng thứ đất sét với cậu, không hơn không kém. Cậu giũ mình như con chó có bọ chét trong tai rồi đi tha thẩn ra cổng. Sahiba, người được những đôi mắt canh chừng báo lại hành động này, nói: “Cứ để nó đi. Ta đã làm xong phần mình. Mẹ Đất phải làm phần còn lại. Khi Thánh Nhân thiền xong trở về, hãy nói cho ông ấy biết.”

Trên một gò đất nhỏ cách đó nửa dặm có chiếc xe bò trống không, phía sau là cây đa non—tựa một vọng đài trông xuống những dải đất vừa cày; và khi tới gần, đôi mi cậu được khí trời êm dịu tắm mát, dần nặng xuống. Mặt đất là lớp bụi sạch sẽ, tốt lành—không phải cỏ non vừa sống đã đi được nửa đường tới cái chết, mà là lớp bụi đầy hy vọng chứa hạt giống của mọi sự sống. Cậu cảm nó giữa các ngón chân, vỗ nó bằng lòng bàn tay, rồi từng khớp một, thở dài khoan khoái, nằm duỗi hết người trong bóng chiếc xe ghép chốt gỗ. Và Mẹ Đất cũng tận tụy như Sahiba. Mẹ thở xuyên qua cậu để phục hồi thế cân bằng cậu đã đánh mất khi nằm quá lâu trên giường dây, cách lìa những luồng sinh lực lành của Mẹ. Đầu cậu bất lực tựa trên ngực Mẹ, đôi bàn tay mở ra phó mình cho sức mạnh của Mẹ. Cây đa muôn rễ phía trên, và ngay cả khối gỗ chết bị bàn tay người chế tác bên cạnh, đều biết điều cậu tìm kiếm, dù chính cậu không biết. Giờ này qua giờ khác, cậu nằm sâu hơn cả giấc ngủ.

Về chiều, khi bụi đàn bò trở về khiến mọi chân trời mù khói, lạt-ma và Mahbub Ali đi tới, cả hai đều đi bộ, bước thận trọng, bởi người trong nhà đã cho họ biết cậu đi đâu.

“Allah! Chơi trò ngu ngốc gì giữa đồng trống thế này!” người buôn ngựa lẩm bẩm. “Nó có thể bị bắn cả trăm lần—nhưng đây đâu phải miền Biên giới.”

“Và,” lạt-ma nói, lặp lại câu chuyện đã kể bao lần, “chưa từng có một _đệ tử_ như nó. Tiết độ, nhân hậu, khôn ngoan, tính tình không hề miễn cưỡng, lòng vui vẻ trên đường, chẳng bao giờ quên, uyên bác, chân thật, nhã nhặn. Phần thưởng của nó thật lớn lao!”

“Tôi biết thằng bé—như đã nói rồi.”

“Và nó có đủ mọi đức tính ấy sao?”

“Có vài đức tính—nhưng tôi vẫn chưa tìm thấy lá bùa của Mũ Đỏ nào khiến nó chân thật quá mức. Chắc chắn nó đã được chăm sóc rất chu đáo.”

“Sahiba có trái tim vàng,” lạt-ma thành khẩn nói. “Bà coi nó như con trai.”

“Hừm! Dường như nửa xứ Hind đều có ý ấy. Tôi chỉ muốn biết chắc thằng bé không gặp tai họa và được tự mình hành động. Như ông biết, nó với tôi là bạn cũ từ những ngày đầu hai thầy trò cùng hành hương.”

“Đó là mối dây gắn kết chúng ta.” Lạt-ma ngồi xuống. “Chúng ta đã tới cuối cuộc hành hương.”

“Chẳng nhờ công ông mà cuộc hành hương của ông đã không bị chặt đứt vĩnh viễn một tuần trước. Tôi nghe Sahiba nói gì với ông khi chúng tôi khiêng ông lên đây trên giường dây rồi.” Mahbub cười, vuốt bộ râu mới nhuộm.

“Lúc ấy ta đang tham thiền về những chuyện khác. Chính _hakim_ từ Dacca đã phá ngang cuộc tham thiền của ta.”

“Nếu không,”—ông nói bằng tiếng Pushtu để giữ lễ—“ông đã kết thúc cuộc tham thiền bên nóng bức của Địa ngục—vì dù ngây thơ như trẻ nhỏ, ông vẫn là kẻ vô đạo thờ thần tượng. Nhưng giờ, Mũ Đỏ, phải làm gì đây?”

“Ngay đêm nay,”—từng lời chậm rãi thốt ra, rung lên niềm khải hoàn—“ngay đêm nay nó sẽ giống ta, thoát khỏi mọi vết nhơ tội lỗi—và như ta, được bảo đảm rằng khi rời thân xác này, nó sẽ Giải thoát khỏi Bánh xe Luân hồi. Ta có một dấu hiệu”—ngài đặt tay lên tấm đồ hình rách trong ngực áo—“rằng thời gian của ta chẳng còn bao lâu; nhưng ta sẽ che chở nó suốt những năm tháng ấy. Hãy nhớ, ta đã đạt tới Tri kiến, như ta nói với ông mới ba đêm trước.”

“Hẳn lời vị giáo sĩ Tirah nói khi ta trộm vợ người anh em họ của lão là đúng: ta là một _sufi_ (người tư tưởng tự do); vì ta ngồi đây,” Mahbub tự nhủ, “uống lấy những lời báng bổ không thể tưởng tượng... Ta nhớ câu chuyện rồi. Theo đó, nó sẽ đến _Jannatu l’Adn_ (Vườn Địa đàng). Nhưng bằng cách nào? Ông sẽ giết nó hay dìm nó xuống dòng sông kỳ diệu mà Babu đã kéo ông ra?”

“Ta không bị kéo ra khỏi dòng sông nào cả,” lạt-ma bình thản nói. “Ông quên chuyện đã xảy ra rồi. Ta tìm thấy nó bằng Tri kiến.”

“Ồ, phải. Đúng vậy,” Mahbub lắp bắp, bị giằng co giữa phẫn nộ tột cùng và buồn cười ghê gớm. “Tôi đã quên mất diễn tiến chính xác của sự việc. Ông đã tìm thấy nó một cách đầy hiểu biết.”

“Còn nói ta sẽ đoạt mạng sống thì—không phải tội lỗi, mà chỉ là cơn điên. _Đệ tử_ đã giúp ta tới Dòng Sông. Nó có quyền được tẩy sạch tội lỗi—cùng ta.”

“Phải, nó cần được tẩy sạch. Nhưng sau đó, ông già—sau đó thì sao?”

“Dưới khắp các tầng Trời, điều ấy có gì quan trọng? Nó chắc chắn đạt Nibban—được giác ngộ—như ta.”

“Nói hay lắm. Tôi từng sợ nó sẽ cưỡi Ngựa của Mohammed mà bay đi mất.”

“Không—nó phải lên đường làm một người thầy.”

“Aha! Giờ tôi hiểu rồi! Đó là dáng chạy đúng cho con ngựa non. Chắc chắn nó phải lên đường làm một người thầy. Chẳng hạn, Nhà nước đang cần nó làm thư lại một cách khá cấp bách.”

“Nó đã được chuẩn bị cho mục đích ấy. Ta tích được công đức nhờ bố thí vì nó. Một việc thiện không chết đi. Nó giúp ta trong cuộc Tìm kiếm của ta. Ta giúp nó trong cuộc tìm kiếm của nó. Bánh xe Luân hồi thật công bằng, hỡi người buôn ngựa phương Bắc. Cứ để nó làm thầy; cứ để nó làm thư lại—có gì quan trọng? Cuối cùng nó sẽ đạt Giải thoát. Phần còn lại chỉ là ảo tưởng.”

“Có gì quan trọng ư? Trong khi sáu tháng nữa tôi phải đưa nó theo vượt qua Balkh! Tôi tới đây với mười con ngựa què và ba người lưng khỏe—nhờ gã Babu nhát như gà kia—để dùng sức mạnh kéo một thằng bé đau ốm ra khỏi nhà một mụ ngựa cái già. Xem ra tôi lại đứng nhìn một Sahib trẻ được Mũ Đỏ già kéo lên cái Thiên đường của kẻ thờ thần tượng mà Allah mới biết là thứ gì. Còn chính tôi cũng được kể là tay chơi ít nhiều trong Ván Cờ! Nhưng lão điên yêu quý thằng bé; mà hẳn tôi cũng điên một cách rất có lý.”

“Ông đang đọc lời cầu nguyện gì vậy?” lạt-ma hỏi, khi tiếng Pushtu thô ráp rum rum trong bộ râu đỏ.

“Chẳng có gì quan trọng; nhưng giờ hiểu rằng thằng bé tuy chắc suất Thiên đường vẫn có thể vào phục vụ Chính phủ, lòng tôi đã nhẹ hơn. Tôi phải về với đàn ngựa. Trời tối dần rồi. Đừng đánh thức nó. Tôi không muốn nghe nó gọi ông là sư phụ.”

“Nhưng nó _đúng là_ đệ tử của ta. Còn có thể là gì khác?”

“Nó đã nói với tôi rồi.” Mahbub nuốt xuống chút bực bội và đứng dậy cười. “Tôi không hoàn toàn theo đức tin của ông, Mũ Đỏ—nếu chuyện nhỏ nhặt ấy khiến ông bận tâm.”

“Chẳng đáng gì,” lạt-ma nói.

“Tôi cũng nghĩ thế. Bởi vậy, hỡi người vô tội, mới tắm sạch và còn chết đuối đến ba phần, ông sẽ không dao động khi tôi gọi ông là một người tốt—một người rất tốt. Chúng ta đã chuyện trò bốn năm buổi tối rồi, và dù chỉ là tay buôn ngựa, như người ta vẫn nói, tôi còn nhìn thấy sự thánh thiện bên kia bốn chân ngựa. Phải, cũng nhìn thấy vì sao ngay từ đầu Bạn Nhỏ của Cả Thế Gian đã đặt tay nó vào tay ông. Hãy đối đãi tử tế với nó, và cho phép nó trở về thế gian làm một người thầy, sau khi ông đã—tắm chân cho nó, nếu đó là phương thuốc đúng cho con ngựa non.”

“Sao ông không tự mình đi theo Đường, để cùng đi với thằng bé?”

Mahbub sững sờ nhìn vẻ xấc xược tráng lệ của lời yêu cầu—một lời mà bên kia Biên giới ông hẳn đã đáp lại bằng hơn một cú đánh. Rồi chất hài hước của nó chạm tới tâm hồn trần tục của ông.

“Từ từ—từ từ thôi—mỗi lần một chân, như con ngựa thiến què vượt rào ở Umballa. Có lẽ sau này tôi sẽ tới Thiên đường—tôi có những vận hành theo hướng ấy—những chuyển động lớn lao—và tôi nợ chúng ở sự giản dị của ông. Ông chưa từng nói dối sao?”

“Có gì cần?”

“Ôi Allah, xin Người nghe ông ấy! ‘Có gì cần’ trong thế gian này của Người! Cũng chưa từng làm hại ai sao?”

“Một lần—bằng hộp bút—trước khi ta có trí.”

“Vậy ư? Tôi càng coi trọng ông. Những lời dạy của ông rất tốt. Ông đã khiến một người tôi biết rời khỏi con đường tranh đấu.” Ông cười vang trời. “Người ấy tới đây với đầu óc rộng mở để thực hiện một vụ _dacoity_ (cướp nhà bằng bạo lực). Phải, để chém, cướp, giết và mang đi thứ mình muốn.”

“Một sự ngu xuẩn lớn!”

“Ồ! Cũng là nỗi nhục đen tối. Người ấy đã nghĩ vậy sau khi gặp ông—và vài người khác, cả nam lẫn nữ. Thế là người ấy từ bỏ; và giờ đi đánh một gã Babu béo phị.”

“Ta không hiểu.”

“Cầu Allah đừng để ông hiểu! Có người mạnh ở tri thức, Mũ Đỏ ạ. Sức mạnh của ông còn mạnh hơn. Hãy giữ lấy—tôi nghĩ ông sẽ giữ được. Nếu thằng bé không phải đầy tớ tốt, hãy vặn đứt tai nó.”

Giật lại chiếc đai Bokhariot bản rộng, người Pathan nghênh ngang đi vào bóng chạng vạng, còn lạt-ma từ mây cao hạ xuống vừa đủ để nhìn tấm lưng rộng ấy.

“Người ấy thiếu lễ độ và bị cái bóng của hình tướng đánh lừa. Nhưng ông ấy nói tốt về _đệ tử_ của ta, kẻ giờ đây sắp nhận phần thưởng. Hãy để ta đọc lời cầu nguyện!... Tỉnh dậy, hỡi người may mắn hơn mọi kẻ do đàn bà sinh ra. Tỉnh dậy! Đã tìm thấy rồi!”

Kim trồi lên khỏi những chiếc giếng sâu ấy, còn lạt-ma chiều theo thú vui ngáp dài của cậu; ngài búng ngón tay đúng phép để chặn tà ma.

“Con đã ngủ một trăm năm. Ở đâu—? Hỡi Thánh Nhân, _thầy_ ở đây lâu chưa? Con ra ngoài tìm thầy, nhưng”—cậu cười ngái ngủ—“dọc đường con lại ngủ mất. Giờ con khỏe hẳn rồi. Thầy ăn chưa? Chúng ta về nhà đi. Đã nhiều ngày con không chăm nom thầy. Sahiba có cho thầy ăn uống tử tế không? Ai xoa bóp chân cho thầy? Còn những cơn suy yếu—ở bụng, ở cổ, và tiếng đập trong tai—thì sao?”

“Hết rồi—hết cả rồi. Con không biết sao?”

“Con chẳng biết gì ngoài chuyện đã lâu bằng cả đời một con khỉ con không gặp thầy. Biết chuyện gì?”

“Lạ thay tri kiến không vươn tới con, khi mọi ý nghĩ của ta đều hướng về con.”

“Con không nhìn rõ mặt, nhưng giọng thầy như tiếng cồng. Sahiba dùng tài nấu nướng biến thầy thành trai trẻ rồi sao?”

Cậu nheo mắt nhìn bóng người ngồi xếp bằng, hiện thành một nét đen nhánh trên dải sáng màu chanh. Vị Bồ-tát bằng đá trông xuống những cửa xoay tự động ghi số đã được cấp bằng sáng chế của Bảo tàng Lahore cũng ngồi như thế.

Lạt-ma giữ im lặng. Ngoài tiếng lách cách của chuỗi hạt và tiếng _lộp cộp_ mơ hồ từ bước chân Mahbub đang rời xa, sự tĩnh lặng mềm mại, bảng lảng khói của buổi tối Ấn Độ ôm chặt lấy họ.

“Hãy nghe ta! Ta mang tin đến.”

“Nhưng chúng ta hãy—”

Bàn tay vàng dài bất chợt vươn ra buộc cậu im lặng. Kim ngoan ngoãn thu chân vào dưới mép áo.

“Hãy nghe ta! Ta mang tin đến! Cuộc Tìm kiếm đã hoàn tất. Giờ đến Phần thưởng... Như thế này. Khi chúng ta ở miền Đồi núi, ta sống nhờ sức lực con cho đến khi cành non oằn xuống, gần gãy. Khi ra khỏi miền Đồi núi, ta lo cho con và cho những việc khác ta giữ trong lòng. Con thuyền linh hồn ta mất phương hướng; ta không thể nhìn thấu Căn nguyên của Vạn vật. Vì vậy ta giao hẳn con cho người đàn bà đức hạnh. Ta không ăn. Ta không uống nước. Ta vẫn không thấy Đường. Họ ép thức ăn cho ta và kêu gọi trước cánh cửa đóng kín. Bởi vậy ta chuyển mình tới một hõm đất dưới gốc cây. Ta không ăn. Ta không uống nước. Ta ngồi tham thiền hai ngày hai đêm, rút tâm trí khỏi ngoại vật; hít vào và thở ra theo đúng phép... Sang đêm thứ hai—phần thưởng của ta lớn lao đến thế—Linh hồn thông tuệ tự cởi khỏi Thân xác ngu ngốc và được tự do. Trước đây ta chưa từng đạt tới điều này, dù đã đứng trên ngưỡng cửa. Hãy suy xét, bởi đây là một kỳ tích!”

“Quả là kỳ tích. Hai ngày hai đêm không ăn! Sahiba ở đâu?” Kim nói khe khẽ.

“Phải, Linh hồn ta được tự do, và khi lượn vòng như đại bàng, nó quả thực thấy rằng không có Teshoo Lama, cũng chẳng có bất kỳ linh hồn nào khác. Như giọt nước tìm về nước, Linh hồn ta tiến gần Đại Hồn ở bên kia mọi sự. Tại điểm ấy, được nâng cao trong quán tưởng, ta thấy toàn cõi Hind, từ Ceylon giữa biển tới miền Đồi núi, cùng những Vách Đá Vẽ của riêng ta ở Such-zen; ta thấy mọi trại và mọi làng, cho đến nơi nhỏ nhất mà chúng ta từng dừng chân. Ta thấy tất cả trong cùng một thời điểm và tại cùng một nơi; vì chúng đều nằm trong Linh hồn. Nhờ vậy ta biết Linh hồn đã vượt khỏi ảo tưởng của Thời gian, Không gian và Sự vật. Nhờ vậy ta biết mình đã tự do. Ta thấy con nằm trên giường dây, và thấy con ngã xuống sườn đồi dưới tay kẻ thờ thần tượng—trong cùng một thời điểm, tại cùng một nơi, ở trong Linh hồn ta, thứ như ta đã nói, chạm tới Đại Hồn. Ta cũng thấy thân xác ngu ngốc của Teshoo Lama nằm đó, còn _hakim_ từ Dacca quỳ bên cạnh, hét vào tai nó. Rồi Linh hồn ta hoàn toàn đơn độc, và ta không thấy gì, bởi ta là vạn vật, đã đạt tới Đại Hồn. Ta tham thiền suốt ngàn ngàn năm, không còn dục vọng, thấu suốt Căn nguyên của Vạn vật. Khi ấy một giọng nói kêu lên: ‘Thằng bé sẽ ra sao nếu ngươi chết?’ và lòng thương con lay chuyển ta tới lui trong chính mình; ta nói: ‘Ta sẽ trở về với _đệ tử_ của ta, kẻo nó lạc Đường.’ Bấy giờ Linh hồn ta, tức Linh hồn của Teshoo Lama, tự rút khỏi Đại Hồn bằng những giằng co, khao khát, nôn mửa và thống khổ không lời nào kể xiết. Như trứng rời cá, như cá rời nước, như nước rời mây, như mây rời không khí đặc, Linh hồn của Teshoo Lama sinh ra như thế, nhảy vọt ra như thế, kéo mình lìa xa như thế, bốc lên khỏi Đại Hồn như thế. Rồi một tiếng nói kêu: ‘Dòng Sông! Hãy lưu tâm Dòng Sông!’ và ta nhìn xuống toàn thế gian, vẫn như ta từng thấy trước đó—hợp nhất trong thời gian, hợp nhất trong không gian—và ta thấy rõ Sông Mũi Tên dưới chân mình. Vào giờ ấy Linh hồn ta bị vướng bởi một thứ ác nào đó mà ta chưa được tẩy sạch hoàn toàn; nó đè trên hai tay ta và quấn quanh eo ta; nhưng ta gạt nó sang bên, rồi lao đi như đại bàng đang bay tới chính nơi có Dòng Sông. Vì con, ta đẩy hết thế giới này đến thế giới khác sang một bên. Ta thấy Dòng Sông bên dưới—Sông Mũi Tên—và khi ta hạ xuống, nước sông khép lại trên đầu ta; và kìa, ta lại ở trong thân xác Teshoo Lama, nhưng đã sạch tội, còn _hakim_ từ Decca đang đỡ đầu ta giữa nước Dòng Sông. Nó ở đây! Nó ở phía sau rặng xoài nơi đây—ngay chính nơi đây!”

“Allah kerim! Ôi, may mà Babu có mặt! Thầy có ướt lắm không?”

“Sao ta phải bận tâm? Ta nhớ _hakim_ lo lắng cho thân xác Teshoo Lama. Ông ấy dùng hai tay kéo nó ra khỏi nước thiêng, rồi sau đó người buôn ngựa phương Bắc của con tới cùng một chiếc giường dây và mấy người nữa; họ đặt thân xác lên giường rồi khiêng tới nhà Sahiba.”

“Sahiba nói gì?”

“Ta đang tham thiền trong thân xác ấy nên không nghe. Như vậy cuộc Tìm kiếm đã kết thúc. Nhờ công đức ta đã tích được, Sông Mũi Tên ở ngay đây. Như ta đã nói, nó tuôn ra dưới chân chúng ta. Ta đã tìm thấy nó. Con của hồn ta, ta đã giằng Linh hồn mình trở lại từ Ngưỡng cửa Giải thoát để giải thoát con khỏi mọi tội lỗi—như ta đã tự do và sạch tội! Bánh xe Luân hồi thật công bằng! Sự giải thoát của chúng ta là chắc chắn! Lại đây!”

Ngài đặt hai bàn tay đan nhau trên lòng và mỉm cười, như một người đã giành được cứu độ cho chính mình cùng người mình yêu quý.