Kim — Chương 14

Chương 14 / 15 · Bài review Kim

Anh em ta quỳ lạy (Kabir nói vậy) trước đá cùng đồng theo lối ngoại đạo, nhưng trong tiếng anh em ta, ta nghe nỗi thống khổ của chính mình chưa được đáp lời. Thần của người do Số mệnh an bài—lời cầu của người là lời cầu của cả thế gian—và của ta.

KABIR.

Khi trăng mọc, đám phu thận trọng lên đường. Lạt-ma, nhờ giấc ngủ và rượu mà hồi sức, chỉ cần tựa vai Kim để bước đi—một người im lặng, sải chân nhanh. Suốt một giờ họ men theo bãi cỏ rắc đầy đá phiến, vòng qua vai một vách núi trường tồn, rồi trèo vào một miền đất mới hoàn toàn khuất khỏi tầm nhìn xuống thung lũng Chini. Một đồng cỏ mênh mông xòe hình quạt vươn lên tận tuyết vĩnh cửu. Dưới chân nó có chừng nửa mẫu đất bằng, trên đó dựng vài túp lều đất và gỗ. Phía sau những túp lều—bởi theo lối miền núi, chúng chênh vênh bên rìa vạn vật—mặt đất đổ thẳng hai nghìn bộ xuống bãi rác Shamlegh, nơi chưa từng có chân người đặt tới.

Những người đàn ông chưa hề tính chuyện chia chiến lợi phẩm cho đến khi tận mắt thấy lạt-ma đã nằm yên trong gian phòng tốt nhất nơi ấy, còn Kim đang xoa bóp chân thầy theo kiểu Hồi giáo.

“Chúng tôi sẽ gửi thức ăn,” người Ao-chung nói, “và cái _kilta_ nắp đỏ. Đến rạng sáng sẽ chẳng còn gì làm chứng, bất kể theo chiều nào. Nếu trong _kilta_ có thứ gì không cần đến—xem đây!”

Y chỉ qua cửa sổ—mở ra khoảng không tràn ánh trăng phản chiếu từ tuyết—rồi ném ra ngoài một chai whisky rỗng.

“Không cần lắng nghe tiếng nó rơi đâu. Đây là tận cùng thế giới,” y nói rồi đi ra. Lạt-ma nhìn ra ngoài, hai tay đặt trên hai bậu cửa, đôi mắt sáng như hoàng ngọc. Từ cái vực khổng lồ trước mặt thầy, những đỉnh núi trắng ngẩng lên khát khao hướng về ánh trăng. Phần còn lại tối như khoảng không giữa các vì sao.

“Quả thực đây,” thầy chậm rãi nói, “là Núi non của ta. Con người nên sống như thế này, ngự trên thế gian, lìa xa mọi lạc thú, suy xét những điều lớn lao.”

“Vâng; miễn là người ấy có một _đệ tử_ pha trà, gấp chăn kê đầu và đuổi mấy con bò cái đang đẻ ra ngoài.”

Một ngọn đèn ám khói cháy trong hốc tường, nhưng ánh trăng tròn lấn át nó; trong thứ ánh sáng pha trộn ấy, cúi mình trên túi thức ăn và chén tách, Kim di chuyển như một bóng ma cao nghều.

“Ai! Nhưng giờ máu đã nguội, đầu ta vẫn đập thình thịch như trống, và sau gáy như có một sợi dây siết quanh.”

“Có gì lạ đâu. Cú ấy nặng lắm. Cầu cho kẻ giáng nó—”

“Nếu không vì những dục vọng của chính ta thì đã chẳng có điều ác nào.”

“Điều ác nào? Thầy đã cứu hai Sahib khỏi cái chết mà họ đáng chịu cả trăm lần.”

“Bài học chưa được lĩnh hội thấu đáo, _đệ tử_ ạ.” Lạt-ma tựa mình lên một tấm chăn gấp, trong khi Kim bắt tay vào công việc thường lệ buổi tối. “Cú đánh chỉ là cái bóng phủ lên một cái bóng. Tự nó là điều ác—mấy ngày gần đây chân ta mỏi nhanh quá!—và nó gặp điều ác trong ta: phẫn nộ, cuồng giận cùng ham muốn lấy ác trả ác. Những thứ ấy khuấy động trong máu ta, gây náo loạn trong bụng ta và làm tai ta choáng váng.” Đến đây thầy trịnh trọng uống trà đen nóng bỏng, nhận chén nóng từ tay Kim. “Nếu ta không còn dục vọng, cú đánh độc ác kia chỉ gây hại cho thân xác—một vết sẹo hay vết bầm—mà thân xác vốn là ảo ảnh. Nhưng tâm ta _không_ lìa khỏi ngoại vật, vì ngay tức khắc ham muốn để người Spiti giết họ đã xông vào. Khi chống lại ham muốn ấy, hồn ta bị xé và vặn đau hơn nghìn cú đánh. Mãi đến khi ta tụng đi tụng lại các Phúc lành” (ý thầy là những lời phúc lành của Phật giáo) “ta mới đạt được tĩnh lặng. Nhưng điều ác gieo vào ta bởi một phút bất cẩn ấy vẫn vận hành đến tận cùng. Luân hồi thật công chính, không chệch một sợi tóc! Hãy học lấy bài học này, _đệ tử_.”

“Điều ấy quá cao xa đối với con,” Kim lẩm bẩm. “Con vẫn còn run rẩy cả người. Con mừng vì đã làm tên ấy bị thương.”

“Ta đã cảm thấy điều đó khi ngủ trên đầu gối con dưới cánh rừng phía dưới. Nó quấy nhiễu giấc mơ ta—cái ác trong hồn con xuyên sang hồn ta. Nhưng mặt khác”—thầy tháo chuỗi hạt—“ta đã tích được công đức nhờ cứu hai mạng người—mạng của những kẻ đã hại ta. Giờ ta phải thấu xét Căn nguyên Vạn vật. Con thuyền linh hồn ta đang chao đảo.”

“Thầy hãy ngủ để lại sức. Như thế là khôn ngoan nhất.”

“Ta thiền định. Có một sự cần thiết lớn hơn điều con biết.”

Cho đến rạng đông, hết giờ này sang giờ khác, khi ánh trăng nhạt dần trên những đỉnh cao, và cái từng là dải tối đen trên sườn các ngọn đồi xa hiện ra thành rừng xanh non, lạt-ma vẫn đăm đăm nhìn vào tường. Thỉnh thoảng thầy rên lên. Bên ngoài cánh cửa cài then, nơi đàn bò thất thế kéo đến đòi lại chuồng cũ, dân Shamlegh và đám phu mặc sức cướp bóc, chè chén tưng bừng. Người Ao-chung cầm đầu họ, và một khi đã mở đồ hộp của các Sahib, nếm thấy rất ngon, họ không còn dám quay đầu. Bãi rác nhà bếp Shamlegh nuốt chửng những thứ đồ lỉnh kỉnh.

Sáng hôm sau, sau một đêm đầy ác mộng, Kim lẻn ra ngoài đánh răng trong cái lạnh ban mai thì một người đàn bà nước da sáng, đội khăn nạm ngọc lam, kéo cậu sang bên.

“Những người kia đi rồi. Họ để lại cho ngươi cái _kilta_ này như đã hứa. Ta không ưa các Sahib, nhưng để đáp lại, ngươi sẽ làm cho chúng ta một lá bùa. Chúng ta không muốn Shamlegh nhỏ bé mang tiếng xấu vì cái—tai nạn ấy. Ta là Người đàn bà Shamlegh.” Nàng nhìn khắp người cậu bằng đôi mắt sáng, táo bạo, không giống cái liếc lén lút thường thấy ở phụ nữ miền núi.

“Nhất định rồi. Nhưng phải làm trong bí mật.”

Nàng nhấc bổng chiếc _kilta_ nặng như nhấc một món đồ chơi rồi quăng nó vào lều mình.

“Ra ngoài và cài cửa lại! Đừng để ai đến gần trước khi xong việc,” Kim nói.

“Nhưng sau đó—chúng ta có thể chuyện trò chứ?”

Kim dốc chiếc _kilta_ xuống sàn—một dòng thác dụng cụ trắc địa, sách vở, nhật ký, thư từ, bản đồ và thư tín bản xứ có mùi lạ tuôn ra. Tận đáy là một túi thêu bọc văn kiện niêm phong, mạ vàng, trang trí lộng lẫy như thứ một vị Vua gửi cho một vị Vua khác. Kim nín thở vì thích thú và xem xét tình thế theo quan điểm của một Sahib.

“Mình không cần sách. Vả lại, đó là các bảng lôgarit—dùng cho trắc địa, chắc vậy.” Cậu đặt chúng sang bên. “Thư thì mình không hiểu, nhưng Colonel Creighton sẽ hiểu. Phải giữ lại tất cả. Bản đồ—họ vẽ bản đồ giỏi hơn mình—dĩ nhiên. Tất cả thư từ bản xứ—ồ hô!—và đặc biệt là _murasla_.” Cậu ngửi chiếc túi thêu. “Thứ này hẳn từ Hilás hoặc Bunár, và Hurree Babu đã nói thật. Lạy Chúa! Quả là một mẻ lớn. Giá Hurree biết được... Những thứ còn lại phải bay ra cửa sổ.” Cậu mân mê một chiếc la bàn lăng kính tuyệt hảo và nắp sáng loáng của một máy kinh vĩ. Nhưng suy cho cùng, một Sahib không thể nào ăn cắp, và sau này những thứ ấy có thể trở thành chứng vật phiền toái. Cậu lựa ra mọi mẩu bản thảo, mọi tấm bản đồ và những bức thư bản xứ. Chúng hợp thành một phiến hơi mềm. Cậu để riêng ba cuốn sách khóa kín có sống bọc kim loại cùng năm cuốn sổ tay đã sờn.

“Thư và _murasla_ mình phải mang trong áo, dưới thắt lưng, còn sách viết tay phải bỏ vào túi thức ăn. Sẽ nặng lắm đây. Không. Mình không nghĩ còn gì nữa. Nếu còn thì đám phu đã ném nó xuống _khud_, vậy _thế_ là ổn. Giờ mày cũng đi đi.” Cậu xếp lại vào _kilta_ tất cả những thứ mình định vứt bỏ, rồi khuân nó lên bậu cửa sổ. Một nghìn bộ bên dưới là một dải sương dài, lững lờ, lưng tròn, còn chưa bị nắng mai chạm tới. Thấp hơn một nghìn bộ nữa là khu rừng thông trăm tuổi. Mỗi khi một xoáy gió làm mây mỏng đi, cậu có thể thấy những ngọn cây xanh như một thảm rêu.

“Không! Tao không nghĩ có ai đuổi theo _mày_ đâu!”

Chiếc giỏ xoay tròn phun hết ruột ra trong lúc rơi. Máy kinh vĩ va vào một gờ đá nhô ra và nổ tung như đạn pháo; sách, nghiên mực, hộp màu, la bàn và thước trong vài giây hiện ra như một đàn ong. Rồi chúng biến mất; và dù Kim nhoài nửa người khỏi cửa sổ, căng đôi tai trẻ tuổi, vẫn không một âm thanh nào từ vực sâu vọng lên.

“Năm trăm—một nghìn rupee cũng không mua nổi chúng,” cậu buồn bã nghĩ. “Rất phí phạm, nhưng mình có tất cả những thứ khác của họ—mọi việc họ đã làm—mình hy vọng thế. Giờ làm thế quái nào báo cho Hurree Babu, và mình phải làm _cái gì_ quái đây? Ông già của mình lại đang bệnh. Mình phải bọc thư bằng vải dầu. Trước hết phải làm việc ấy—không thì chúng sẽ ướt đẫm mồ hôi... Mà mình lại đơn độc!” Cậu bó chúng thành một gói gọn ghẽ, ép chặt miếng vải dầu cứng và dính ở các góc, bởi cuộc đời lang bạt đã khiến cậu ngăn nắp như một thợ săn già trong những chuyện đường sá. Rồi cậu thận trọng gấp đôi khi cất những cuốn sách xuống đáy túi thức ăn.

Người đàn bà gõ cửa.

“Nhưng ngươi chưa làm bùa,” nàng vừa nói vừa nhìn quanh.

“Không cần đâu.” Kim đã hoàn toàn quên mất phải nói đôi lời phù phép. Người đàn bà bật cười bất kính trước vẻ lúng túng của cậu.

“Với ngươi thì không cần. Chỉ chớp mắt một cái ngươi cũng đủ bỏ bùa người ta. Nhưng khi ngươi đi rồi, hãy nghĩ đến đám dân nghèo chúng ta. Đêm qua tất cả bọn họ say quá, chẳng nghe lời đàn bà. Ngươi không say đấy chứ?”

“Ta là tu sĩ.” Kim đã lấy lại bình tĩnh, và vì người đàn bà chẳng có gì xấu xí, cậu thấy tốt nhất nên giữ tư thế đúng với địa vị của mình.

“Ta đã cảnh báo họ rằng các Sahib sẽ nổi giận, sẽ mở cuộc điều tra và làm báo cáo gửi Rajah. Lại còn Babu đi cùng họ nữa. Bọn thư lại lắm lời lắm.”

“Nỗi lo của nàng chỉ có vậy thôi sao?” Kế hoạch hiện lên trọn vẹn trong đầu Kim, và cậu nở một nụ cười mê hồn.

“Không chỉ thế,” người đàn bà đáp, chìa một bàn tay nâu rắn rỏi đeo đầy ngọc lam gắn bạc.

“Việc ấy ta giải quyết trong một hơi thở,” cậu nói nhanh. “Babu chính là vị _hakim_ (nàng đã nghe nói đến ông ta chứ?) từng lang thang trên đồi gần Ziglaur. Ta biết ông ta.”

“Ông ta sẽ khai để lấy thưởng. Các Sahib không phân biệt nổi người miền núi này với người miền núi khác, nhưng các Babu có mắt nhìn đàn ông—và đàn bà.”

“Hãy chuyển cho ông ta một lời của ta.”

“Không có gì ta không làm cho ngươi.”

Cậu bình thản nhận lời tán tỉnh, như đàn ông phải làm ở những miền nơi đàn bà chủ động chuyện ái tình, xé một tờ khỏi sổ tay và dùng bút chì không phai kiểu mới viết bằng lối chữ Shikast nguệch ngoạc—thứ chữ bọn trẻ hư dùng để viết lời tục tĩu lên tường: “_Tôi có tất cả những gì họ đã viết: hình vẽ xứ sở và nhiều thư từ. Đặc biệt là murasla. Cho tôi biết phải làm gì. Tôi đang ở Shamlegh-dưới-Tuyết. Ông già đang bệnh._”

“Mang cái này đến cho ông ta. Nó sẽ bịt miệng ông ta hoàn toàn. Hẳn ông ta chưa đi xa.”

“Quả thật chưa. Họ vẫn ở trong rừng bên kia mỏm núi. Khi trời sáng, trẻ con chúng ta đã đi theo dõi và truyền tin về từng bước di chuyển của họ.”

Kim để lộ vẻ kinh ngạc; nhưng từ mép đồng cỏ chăn cừu vọng tới một tràng âm cao, lanh lảnh như tiếng diều hâu. Một đứa trẻ chăn gia súc đã nhận được tín hiệu từ anh hay chị em nó ở phía xa sườn dốc nhìn xuống thung lũng Chini.

“Các ông chồng ta cũng ra đó kiếm củi.” Nàng rút một nắm quả óc chó từ ngực áo, khéo léo bổ một quả rồi bắt đầu ăn. Kim làm bộ chẳng hiểu gì.

“Thầy tu không biết ý nghĩa quả óc chó sao?” nàng e lệ hỏi rồi đưa cậu hai nửa vỏ.

“Nghĩ hay lắm.” Cậu nhanh tay luồn mảnh giấy vào giữa. “Nàng có chút sáp để gắn chúng lại quanh bức thư này không?”

Người đàn bà thở dài thành tiếng, và Kim mềm lòng.

“Chưa làm xong việc thì chưa có phần thưởng. Mang cái này đến cho Babu và nói nó do Con trai của Bùa gửi.”

“Ai! Đúng thế! Đúng thế! Do một pháp sư—giống như một Sahib.”

“Không, Con trai của Bùa; rồi hỏi xem có lời đáp nào không.”

“Nhưng nếu ông ta giở thói sỗ sàng thì sao? Ta—ta sợ.”

Kim bật cười. “Hẳn là ông ta đang rất mệt và rất đói. Núi non là bạn chung giường lạnh lẽo. Hai, bà...” Tiếng “Mẹ” đã chực bật khỏi đầu lưỡi, nhưng cậu đổi thành “Chị”—“chị là một người đàn bà khôn ngoan, hóm hỉnh. Đến lúc này mọi làng đều biết chuyện xảy đến với các Sahib rồi—phải không?”

“Đúng. Tin đã tới Ziglaur vào nửa đêm, và ngày mai hẳn sẽ đến Kotgarh. Các làng vừa sợ vừa giận.”

“Không cần. Bảo dân làng cho các Sahib ăn và để họ yên ổn đi qua. Chúng ta phải lặng lẽ đưa họ ra khỏi các thung lũng của mình. Trộm cắp là một chuyện—giết người là chuyện khác. Babu sẽ hiểu, và sau này sẽ không có lời khiếu nại nào. Đi nhanh lên. Ta phải chăm sóc sư phụ khi thầy thức giấc.”

“Cứ thế đi. Làm xong việc—ngươi đã nói thế chứ?—thì có phần thưởng. Ta là Người đàn bà Shamlegh, được Rajah ban quyền cai quản. Ta không phải hạng đàn bà chỉ biết đẻ con tầm thường. Shamlegh là của ngươi: móng, sừng, da, sữa và bơ. Nhận hay bỏ tùy ngươi.”

Nàng quả quyết quay lên dốc, những vòng cổ bạc lách cách trên bộ ngực rộng, đi đón nắng mai cao hơn họ một nghìn năm trăm bộ. Lần này Kim suy nghĩ bằng tiếng bản xứ trong khi trét sáp lên các mép vải dầu bọc gói giấy.

“Làm sao một người có thể theo Đạo hay theo Ván Cờ Lớn khi cứ bị đàn bà—quấy rầy mãi thế này? Nào cô gái ở Akrola bên Khúc Cạn; nào vợ anh phụ bếp sau chuồng bồ câu—chưa kể những người khác—giờ lại đến người này! Khi mình còn nhỏ thì chẳng sao, nhưng giờ mình đã là đàn ông mà họ lại không chịu coi mình là đàn ông. Quả óc chó, thật tình! Hô! Hô! Dưới Đồng bằng phải là hạnh nhân!”

Cậu ra ngoài trưng thu đồ của làng—không phải bằng bình bát khất thực, thứ có lẽ hợp ở miền xuôi, mà theo phong thái một vương công. Dân số mùa hè của Shamlegh chỉ gồm ba gia đình—bốn phụ nữ và tám hay chín đàn ông. Tất cả đều no nê thịt hộp và rượu pha tạp, từ quinine ammoniac đến vodka trắng, vì họ đã lấy trọn phần mình trong cuộc cướp bóc đêm qua. Những chiếc lều Âu châu gọn ghẽ đã bị cắt ra chia nhau từ lâu, và nồi nhôm kiểu mới nằm rải rác khắp nơi.

Nhưng họ coi sự hiện diện của lạt-ma là vật bảo đảm tuyệt đối chống lại mọi hậu quả, nên không chút ăn năn đem những thứ ngon nhất mời Kim—kể cả một chén _chang_—thứ bia lúa mạch từ miền Ladakh. Rồi họ hong mình trong nắng, ngồi buông chân trên những vực sâu vô tận, vừa chuyện trò, cười đùa vừa hút thuốc. Họ phán xét Ấn Độ và Chính quyền chỉ dựa vào kinh nghiệm với các Sahib lang bạt từng thuê họ hoặc bạn bè họ làm _shikarris_. Kim nghe những câu chuyện về các phát súng bắn trượt dê núi ibex, sơn dương serow hay dê markhor của những Sahib đã nằm dưới mồ hai mươi năm—mọi chi tiết đều sáng rực từ phía sau như cành con trên ngọn cây hiện ra trước ánh chớp. Họ kể cho cậu nghe những chứng bệnh vặt của mình, và quan trọng hơn, bệnh của đàn gia súc nhỏ bé, chân vững vàng; kể những chuyến đi xa tận Kotgarh, nơi các giáo sĩ kỳ lạ sinh sống, thậm chí xa hơn nữa tới Simla kỳ diệu, nơi đường phố lát bạc và, nghe đây, bất cứ ai cũng có thể vào phục dịch các Sahib, những người ngồi xe hai bánh đi khắp nơi và xúc tiền tiêu bằng xẻng. Một lát sau, lạt-ma, nghiêm trang và xa cách, bước chân rất nặng nề, nhập vào cuộc chuyện trò dưới mái hiên, và mọi người giãn rộng chỗ cho thầy. Không khí loãng làm thầy tỉnh khoẻ; thầy ngồi bên bờ vực như bất cứ ai trong họ, và khi câu chuyện lắng xuống lại ném sỏi vào khoảng không. Cách đó ba mươi dặm theo đường chim đại bàng bay là dãy núi kế tiếp, đầy những đường nứt, rãnh xẻ và hố lõm với các mảng cây bụi nhỏ—mỗi mảng là một cánh rừng phải mất trọn một ngày lầm lũi mới vượt qua. Sau lưng làng, chính đồi Shamlegh chắn kín mọi tầm nhìn về phương nam. Cảm giác như đang ngồi trong tổ chim én dưới mái hiên của nóc nhà thế giới.

Thỉnh thoảng lạt-ma duỗi tay; chỉ cần được khe khẽ gợi hỏi đôi lời, thầy lại chỉ ra con đường tới Spiti và hướng bắc băng qua Parungla.

“Ngoài kia, nơi những ngọn đồi chen dày nhất, là De-ch’en” (ý thầy là Han-lé’), “Đại Tu viện. s’Tag-stan-ras-ch’en đã xây nên nó, và về người có câu chuyện này.” Rồi thầy kể chuyện: một thiên truyện kỳ ảo tầng tầng lớp lớp về bùa mê cùng phép lạ khiến cả Shamlegh há hốc miệng. Hơi xoay về phía tây, thầy hướng tới những ngọn đồi xanh của Kulu và tìm Kailung dưới các sông băng. “Bởi thuở xa xưa ta đã tới đó. Từ Leh ta đến, vượt qua Baralachi.”

“Vâng, vâng; chúng tôi biết nơi ấy,” những người Shamlegh từng đi xa nói.

“Và ta đã ngủ hai đêm với các tu sĩ Kailung. Đây là Núi non ta yêu dấu! Những chiếc bóng được ban phúc hơn hết thảy mọi bóng hình! Ở đó mắt ta mở ra trên cõi đời này; ở đó mắt ta được khai mở để thấy cõi đời này; ở đó ta tìm thấy Giác ngộ; và ở đó ta thắt lưng bắt đầu cuộc Tìm kiếm. Ta từ Núi non đi xuống—Núi non cao vời cùng gió lớn. Ôi, Luân hồi thật công chính!” Thầy lần lượt ban phúc cho từng thứ—những sông băng vĩ đại, đá trơ trụi, các ụ băng tích chất chồng và đá phiến đổ nghiêng; cao nguyên khô cằn, hồ muối ẩn khuất, rừng cổ thụ và những thung lũng phì nhiêu rạch đầy dòng nước, như một người hấp hối ban phúc cho thân quyến; còn Kim kinh ngạc trước niềm say mê của thầy.

“Vâng—vâng. Không nơi nào sánh được với Núi non của chúng ta,” dân Shamlegh nói. Rồi họ lấy làm lạ không hiểu con người sống thế nào trên Đồng bằng nóng nực khủng khiếp, nơi bò lớn bằng voi, chẳng thể dùng cày sườn núi; nơi làng nối liền làng suốt cả trăm dặm, họ nghe nói vậy; nơi người ta kết bè kết đảng đi trộm cướp, và thứ gì bọn cướp chừa lại thì Cảnh sát khuân sạch không còn một mẩu.

Cứ thế buổi sớm tĩnh lặng trôi qua, và khi nó sắp hết, người đưa tin của Kim từ đồng cỏ dốc đứng đi xuống, hơi thở vẫn nhẹ nhàng như lúc khởi hành.

“Con đã nhắn một lời cho _hakim_,” Kim giải thích trong khi nàng kính cẩn cúi chào.

“Ông ấy đã nhập bọn với những kẻ thờ tượng sao? Không, ta nhớ ông ấy từng chữa trị cho một người trong bọn. Ông ấy đã tích được công đức, dù kẻ được chữa lành đã dùng sức lực làm điều ác. Luân hồi thật công chính! _Hakim_ nói gì?”

“Con sợ thầy bị thương và—và con biết ông ấy thông tuệ.” Kim nhận lấy vỏ quả óc chó gắn sáp và đọc dòng tiếng Anh viết sau mảnh giấy của mình: _Đã nhận thư của anh. Hiện giờ chưa thể thoát khỏi những người đang đi cùng, nhưng sẽ đưa họ vào Simla. Sau đó hy vọng trở lại với hai người. Không nên đi theo các quý ông đang giận dữ. Hãy về theo con đường cũ, tôi sẽ đuổi kịp. Vô cùng mãn nguyện về số thư từ có được nhờ sự lo xa của tôi._ “Bạch Thánh nhân, ông ấy nói sẽ trốn khỏi những kẻ thờ tượng và trở về với chúng ta. Vậy chúng ta đợi một thời gian ở Shamlegh nhé?”

Lạt-ma nhìn những ngọn đồi thật lâu, đầy trìu mến, rồi lắc đầu.

“Không thể thế, _đệ tử_. Từ tận xương tủy ta khao khát điều ấy, nhưng nó bị cấm. Ta đã thấy Căn nguyên Vạn vật.”

“Tại sao? Khi Núi non mỗi ngày đều trả lại sức lực cho thầy? Hãy nhớ dưới kia, trong thung lũng Doon, chúng ta từng yếu ớt, lả đi.”

“Ta khỏe lên để làm điều ác và để quên lãng. Ta đã là một kẻ gây gổ, một tên vung gươm hiếu chiến trên sườn núi.” Kim cố nén một nụ cười. “Luân hồi thật công chính và hoàn hảo, không chệch một sợi tóc. Thuở ta còn trai tráng—cách đây đã lâu lắm—ta hành hương tới Guru Ch’wan giữa những hàng bạch dương” (thầy chỉ về hướng Bhotan), “nơi họ nuôi Con Ngựa Thiêng.”

“Im lặng, im lặng!” dân Shamlegh đồng loạt nói. “Ngài đang nói về Jam-lin-nin-k’or, Con Ngựa Có Thể Đi Vòng Quanh Thế Giới Trong Một Ngày.”

“Ta chỉ nói với _đệ tử_ của ta thôi,” lạt-ma dịu dàng quở trách, và họ tản đi như sương giá trên mái hiên phía nam vào buổi sớm. “Những ngày ấy ta không tìm chân lý, mà tìm chuyện luận bàn giáo pháp. Tất cả đều là ảo ảnh! Ta uống bia, ăn bánh của Guru Ch’wan. Hôm sau có người nói: ‘Chúng ta xuống thung lũng đánh Sangor Gutok để xem’ (hãy lại lưu ý Dục vọng gắn với Sân hận ra sao!) ‘vị Tu viện trưởng nào sẽ cai quản thung lũng và hưởng lợi từ những lời cầu nguyện họ in tại Sangor Gutok.’ Ta đi, và chúng ta giao chiến suốt một ngày.”

“Nhưng đánh thế nào, bạch Thánh nhân?”

“Bằng những hộp bút dài của chúng ta, như ta đã có thể chỉ cho con... Ta nói, chúng ta đánh nhau dưới hàng bạch dương, cả hai Tu viện trưởng cùng toàn thể tăng chúng, và một người bổ trán ta toác đến tận xương. Xem đây!” Thầy ngửa mũ ra sau, để lộ một vết sẹo bạc nhăn nhúm. “Luân hồi thật công chính và hoàn hảo! Hôm qua vết sẹo ngứa lên, và sau năm mươi năm ta nhớ lại nó đã bị gây ra thế nào cùng khuôn mặt kẻ gây ra nó; ta đã lưu lại đôi chút trong ảo ảnh. Rồi xảy đến điều con đã thấy—xung đột và ngu muội. Luân hồi thật công chính! Cú đánh của kẻ thờ tượng rơi đúng vết sẹo. Khi ấy hồn ta rung chuyển: hồn ta tối lại, và con thuyền linh hồn ta chao đảo trên vùng nước ảo ảnh. Mãi đến lúc tới Shamlegh, ta mới có thể thiền định về Căn nguyên Vạn vật, mới lần theo được những rễ cỏ lan dài của Điều ác. Ta đã gắng sức suốt đêm dài.”

“Nhưng bạch Thánh nhân, thầy vô can với mọi điều ác. Cầu cho con được hiến mình thay thầy!”

Kim thật lòng đau buồn trước nỗi khổ của ông già, và câu nói của Mahbub Ali vô tình tuột khỏi miệng cậu.

“Lúc rạng đông,” lạt-ma tiếp tục với giọng nghiêm trang hơn, chuỗi hạt sẵn trong tay lách cách giữa những câu nói chậm rãi, “Giác ngộ đã đến. Chính là đây... Ta là một ông già... sinh ra ở núi, nuôi lớn ở núi, vậy mà không bao giờ được ngồi lại giữa Núi non của mình. Ba năm ta đi khắp Hind, nhưng—đất nào có thể mạnh hơn Đất Mẹ? Từ dưới kia, thân xác ngu muội của ta khao khát Núi non cùng tuyết trên Núi non. Ta đã nói, và đúng là vậy, cuộc Tìm kiếm của ta chắc chắn thành công. Thế rồi, tại nhà người đàn bà Kulu, ta quay về phía núi, bị chính mình thuyết phục quá mức. Không thể trách _hakim_. Ông ấy—đi theo Dục vọng—đoán trước Núi non sẽ khiến ta mạnh lên. Chúng làm ta mạnh để làm điều ác, để quên cuộc Tìm kiếm. Ta vui sướng trong sự sống và lòng tham sống. Ta khao khát những sườn dốc hiểm trở để trèo. Ta nhìn quanh tìm kiếm chúng. Ta đem sức mạnh của thân xác, vốn là điều ác, ra đọ với Núi cao; ta chế giễu con khi con hụt hơi dưới Jamnotri. Ta đùa cợt khi con không dám đối mặt tuyết trên đèo.”

“Nhưng có hại gì đâu? Con _đã_ sợ. Điều đó là đúng. Con không phải người miền núi; và con yêu thầy vì sức mạnh mới của thầy.”

“Ta nhớ hơn một lần”—thầy buồn bã tựa má vào tay—“ta đã tìm lời khen của con và của _hakim_ chỉ vì đôi chân mình khỏe. Cứ thế điều ác này theo sau điều ác khác cho đến khi chén đầy. Luân hồi thật công chính! Suốt ba năm, toàn cõi Hind dành cho ta mọi niềm tôn kính. Từ Suối nguồn Minh triết trong Nhà Kỳ Quan cho đến”—thầy mỉm cười—“một đứa trẻ nhỏ chơi bên khẩu đại bác lớn—thế gian đã sửa soạn đường đi cho ta. Và vì sao?”

“Bởi chúng con yêu thầy. Chỉ là cơn sốt từ cú đánh mà thôi. Chính con vẫn còn bệnh và run rẩy.”

“Không! Đó là vì ta đang đi trên Đạo—được chỉnh âm như những chiếc _si-nen_ (chũm chọe) cho đúng với mục đích của Giáo pháp. Ta đã lìa khỏi khuôn phép ấy. Âm điệu đứt đoạn: hình phạt theo sau. Trên Núi non của chính ta, bên rìa quê hương ta, ngay tại nơi dục vọng xấu xa của ta, cú đánh giáng xuống—đây!” (Thầy chạm vào trán.) “Như một chú tiểu bị đánh khi đặt nhầm chén, ta cũng bị đánh, ta, người từng là Tu viện trưởng Such-zen. Không một lời nào, con thấy đấy, chỉ một cú đánh, _đệ tử_ ạ.”

“Nhưng các Sahib đâu biết thầy, bạch Thánh nhân?”

“Chúng ta rất xứng đôi. Ngu muội và Dục vọng gặp Ngu muội và Dục vọng trên đường, rồi sinh ra Sân hận. Cú đánh là một dấu hiệu cho ta, kẻ chẳng hơn gì con bò yak đi lạc, rằng chỗ của ta không ở đây. Ai đọc được Căn nguyên một hành động là đã đi nửa đường đến Giải thoát! ‘Quay lại con đường,’ Cú đánh nói. ‘Núi non không dành cho ngươi. Ngươi không thể vừa chọn Giải thoát vừa chịu xiềng xích trước lạc thú của đời sống.’”

“Giá chúng ta chưa từng gặp tên Nga đáng nguyền rủa ấy!”

“Ngay cả Đức Thế Tôn cũng không thể khiến Luân hồi quay ngược. Và nhờ công đức đã tích được, ta nhận thêm một dấu hiệu nữa.” Thầy thò tay vào ngực áo, lấy ra Bánh xe Luân hồi. “Nhìn xem! Sau khi thiền định, ta đã suy xét điều này. Phần không bị kẻ thờ tượng xé chỉ còn rộng bằng móng tay ta.”

“Con thấy.”

“Vậy bấy nhiêu là khoảng đời ta còn lại trong thân xác này. Ta đã phụng sự Luân hồi suốt đời. Giờ Luân hồi phụng sự ta. Nếu không vì công đức ta tích được khi dẫn dắt con trên Đạo, ta còn phải chịu thêm một kiếp nữa trước khi tìm thấy Sông của mình. Con hiểu rõ chưa, _đệ tử_?”

Kim nhìn chằm chằm vào tấm biểu đồ bị tàn phá phũ phàng. Vết rách chạy chéo từ trái sang phải—từ Cung thứ Mười Một, nơi Dục vọng sinh ra Đứa trẻ (theo cách người Tây Tạng vẽ)—xuyên qua cõi người và cõi thú đến Cung thứ Năm—Cung trống rỗng của Giác quan. Lý lẽ ấy không thể bác bỏ.

“Trước khi Đức Thế Tôn đạt Giác ngộ”—lạt-ma kính cẩn gấp cất tất cả—“Người đã bị cám dỗ. Ta cũng đã bị cám dỗ, nhưng chuyện ấy đã hết. Mũi Tên rơi xuống Đồng bằng—không phải Núi non. Vậy chúng ta làm gì ở đây?”

“Ít nhất chúng ta có nên đợi _hakim_ không?”

“Ta biết mình còn sống trong thân xác này bao lâu. Một _hakim_ có thể làm gì?”

“Nhưng thầy đang bệnh và run rẩy cả người. Thầy không thể đi được.”

“Làm sao ta có thể bệnh khi đã thấy Giải thoát?” Thầy đứng dậy, chân không vững.

“Vậy con phải lấy thức ăn trong làng. Ôi, Đường đi mệt mỏi!” Kim cảm thấy chính mình cũng cần nghỉ ngơi.

“Điều đó hợp lẽ. Ta hãy ăn rồi đi. Mũi Tên rơi xuống Đồng bằng... nhưng ta đã khuất phục trước Dục vọng. Hãy sửa soạn, _đệ tử_.”

Kim quay sang người đàn bà đội khăn nạm ngọc lam, bấy giờ đang lơ đãng ném sỏi qua vách đá. Nàng mỉm cười rất đỗi ân cần.

“Ta tìm thấy ông ta như con trâu đi lạc giữa ruộng ngô—Babu ấy; khịt mũi, hắt hơi vì lạnh. Ông ta đói đến nỗi quên cả phẩm giá và nói với ta những lời ngọt ngào. Các Sahib chẳng còn gì.” Nàng xòe bàn tay trống không. “Một người đau bụng dữ lắm. Việc của ngươi đấy chứ?”

Kim gật đầu, mắt sáng lên.

“Trước hết ta nói với người Bengal—sau đó nói với dân một làng gần đây. Các Sahib sẽ được cho thức ăn tùy nhu cầu—và dân làng sẽ không đòi tiền. Chiến lợi phẩm đã chia xong. Babu nói dối các Sahib. Sao ông ta không bỏ họ đi?”

“Vì tấm lòng vĩ đại của ông ấy.”

“Chưa người Bengal nào có tấm lòng lớn hơn một quả óc chó khô. Nhưng không sao... Giờ nói đến quả óc chó. Làm xong việc thì có phần thưởng. Ta đã nói cả làng là của ngươi.”

“Thật thiệt thòi cho ta,” Kim mở lời. “Ngay lúc này ta đã ấp ủ trong lòng những điều đáng ao ước mà”—không cần phải thuật lại hết những lời khách sáo thích hợp cho dịp như thế này. Cậu thở dài não nuột... “Nhưng sư phụ ta, được một linh kiến dẫn đường—”

“Hừ! Mắt già nhìn thấy gì ngoài một bình bát đầy?”

“—lại rời làng này trở về Đồng bằng.”

“Bảo ông ấy ở lại.”

Kim lắc đầu. “Ta biết Thánh nhân của ta và cơn thịnh nộ của thầy nếu bị trái ý,” cậu đáp đầy uy lực. “Lời nguyền của thầy làm Núi non rung chuyển.”

“Tiếc là chúng không cứu nổi đầu ông ấy khỏi bị đánh vỡ! Ta nghe nói ngươi mới là người gan hùm đã đánh gục Sahib. Cứ để ông ấy mơ thêm một chút. Ở lại đi!”

“Hỡi người đàn bà miền núi,” Kim nghiêm nghị nói, dù vẻ nghiêm nghị không thể làm những đường nét trên gương mặt trái xoan non trẻ của cậu cứng lại, “những chuyện này quá cao xa đối với nàng.”

“Cầu Thần linh che chở chúng ta! Từ bao giờ đàn ông và đàn bà lại là gì khác ngoài đàn ông và đàn bà?”

“Tu sĩ là tu sĩ. Thầy nói sẽ đi ngay trong giờ này. Ta là _đệ tử_ của thầy, thầy đi đâu ta đi đó. Chúng ta cần thức ăn đi Đường. Thầy là thượng khách trong mọi làng, nhưng”—cậu bỗng nở nụ cười thuần khiết của một cậu bé—“thức ăn ở đây ngon lắm. Cho ta một ít.”

“Nếu ta không cho ngươi thì sao? Ta là người đàn bà cai quản làng này.”

“Vậy ta sẽ nguyền nàng—một chút thôi—không nặng, nhưng đủ để nhớ đời.” Cậu không nhịn được cười.

“Ngươi đã nguyền ta rồi, bằng đôi mi rủ xuống và chiếc cằm ngẩng lên ấy. Nguyền rủa ư? Ta cần gì quan tâm đến mấy lời suông?” Nàng siết hai tay trước ngực... “Nhưng ta không muốn ngươi giận dữ bỏ đi, nghĩ xấu về ta—một kẻ nhặt phân bò và cắt cỏ ở Shamlegh, nhưng dù sao vẫn là một người đàn bà có của.”

“Ta chẳng nghĩ gì,” Kim nói, “ngoài việc buồn vì phải đi, bởi ta mệt lắm; và chúng ta cần thức ăn. Túi đây.”

Người đàn bà giận dữ giật lấy cái túi. “Ta thật ngu ngốc,” nàng nói. “Người đàn bà của ngươi dưới Đồng bằng là ai? Trắng hay đen? Ta từng trắng trẻo. Ngươi cười sao? Thuở xưa, lâu lắm rồi, nếu ngươi tin nổi, một Sahib từng ưu ái nhìn ta. Thuở xưa, lâu lắm rồi, ta mặc y phục Âu châu tại nhà Truyền giáo đằng kia.” Nàng chỉ về phía Kotgarh. “Thuở xưa, lâu lắm rồi. Ta là người _Cơ-rít-ti-an_ và nói tiếng Anh—như các Sahib nói. Phải. Sahib của ta bảo sẽ trở lại cưới ta—phải, cưới ta. Chàng ra đi—ta đã săn sóc chàng khi chàng đau ốm—nhưng chàng không bao giờ trở lại. Khi ấy ta hiểu các Thần của người Cơ-rít-ti-an nói dối, và ta trở về với dân tộc mình... Từ đó ta chưa hề nhìn thấy một Sahib nào. (Đừng cười ta. Cơn ấy qua rồi, chú tu sĩ bé.) Gương mặt, dáng đi và lối nói của ngươi khiến ta nhớ đến Sahib của ta, dù ngươi chỉ là một kẻ hành khất lang thang được ta bố thí. Nguyền rủa ta ư? Ngươi chẳng thể nguyền cũng chẳng thể ban phúc!” Nàng chống hai tay lên hông, cười cay đắng. “Các Thần của ngươi là dối trá; việc làm của ngươi là dối trá; lời nói của ngươi là dối trá. Dưới khắp các tầng Trời chẳng có Thần nào. Ta biết... Nhưng trong chốc lát ta ngỡ Sahib của ta đã trở về, và chàng là vị Thần của ta. Phải, có một thời ta chơi nhạc trên chiếc _pi-a-nô_ trong nhà Truyền giáo ở Kotgarh. Giờ ta bố thí cho các tu sĩ _ngoại đạo_.” Nàng kết thúc bằng từ tiếng Anh ấy rồi buộc miệng chiếc túi đầy căng.

“Ta đang đợi con, _đệ tử_,” lạt-ma nói, tựa vào cột cửa.

Người đàn bà đưa mắt nhìn khắp thân hình cao lớn. “Ông ấy đi bộ! Ông ấy không đi nổi nửa dặm. Bộ xương già định đi đâu?”

Đến đây, Kim, vốn đã rối trí vì lạt-ma suy sụp và còn hình dung ra sức nặng của chiếc túi, thực sự nổi nóng.

“Ông ấy đi đâu thì liên quan gì đến nàng, hỡi người đàn bà điềm gở?”

“Chẳng liên quan—nhưng lại liên quan đến ngươi, thầy tu có gương mặt Sahib. Ngươi sẽ cõng ông ấy trên vai sao?”

“Ta về Đồng bằng. Không ai được cản ta trở lại. Ta đã vật lộn với linh hồn mình đến cạn kiệt sức lực. Thân xác ngu muội đã kiệt quệ, mà chúng ta còn cách xa Đồng bằng.”

“Nhìn đi!” nàng chỉ nói vậy rồi tránh sang bên để Kim tự thấy mình hoàn toàn bất lực. “Nguyền rủa ta đi. Có lẽ như thế sẽ làm ông ấy khỏe lên. Làm bùa đi! Cầu vị Thần vĩ đại của ngươi. Ngươi là tu sĩ mà.” Nàng quay đi.

Lạt-ma đã mềm nhũn ngồi xổm xuống, tay vẫn bám cột cửa. Không thể đánh gục một ông già rồi mong ông hồi phục trong đêm như một cậu bé. Sự suy yếu kéo thầy gục xuống đất, nhưng đôi mắt dõi theo Kim vẫn sống động và van nài.

“Mọi việc đều ổn,” Kim nói. “Không khí loãng làm thầy yếu đi. Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ đi! Đó là chứng say núi. Bụng con cũng hơi khó chịu,”—cậu quỳ xuống, an ủi thầy bằng những lời nghèo nàn nào vừa hiện lên đầu môi. Rồi người đàn bà quay lại, dáng càng thẳng hơn bao giờ hết.

“Thần của ngươi vô dụng, hả? Thử Thần của ta đi. Ta là Người đàn bà Shamlegh.” Nàng cất tiếng gọi khàn khàn, và từ một chuồng bò đi ra hai ông chồng của nàng cùng ba người khác khiêng một chiếc _dooli_, thứ kiệu thô sơ của dân miền núi, dùng để chở người bệnh và cho những chuyến viếng thăm long trọng. “Mấy con vật này”—nàng chẳng thèm hạ mình nhìn họ—“thuộc về ngươi chừng nào ngươi còn cần.”

“Nhưng chúng tôi sẽ không đi đường Simla. Chúng tôi sẽ không đến gần các Sahib,” người chồng thứ nhất kêu lên.

“Họ sẽ không chạy trốn như những kẻ kia, cũng không lấy cắp hành lý. Ta biết hai người là đồ yếu đuối. Sonoo và Taree, vào đứng chỗ đòn sau.” Họ mau lẹ vâng lời. “Hạ xuống, rồi đỡ vị thánh nhân kia vào kiệu. Ta sẽ trông nom làng cùng những bà vợ đức hạnh của các ngươi cho tới khi các ngươi trở về.”

“Bao giờ mới về?”

“Hỏi các tu sĩ ấy. Đừng quấy rầy ta. Đặt túi thức ăn dưới chân, như thế cân bằng hơn.”

“Ôi, bạch Thánh nhân, Núi non của thầy tử tế hơn Đồng bằng của chúng ta!” Kim nhẹ nhõm kêu lên khi lạt-ma loạng choạng bước tới kiệu. “Đây đúng là giường của một vị vua—một chỗ danh dự và êm ái. Và chúng ta có được nó nhờ—”

“Một người đàn bà điềm gở. Ta cần lời ban phúc của ngươi cũng như cần lời nguyền của ngươi vậy. Đây là lệnh của _ta_, không phải của ngươi. Nâng lên, đi thôi! Này! Ngươi có tiền đi đường không?”

Nàng ngoắc Kim vào lều mình rồi cúi xuống một chiếc két tiền kiểu Anh móp méo đặt dưới giường.

“Ta không cần gì cả,” Kim nói, giận dữ ở chỗ đáng lẽ phải biết ơn. “Ta đã bị chất lên người một cách thô bạo quá nhiều ân huệ rồi.”

Nàng ngước lên với nụ cười lạ lùng và đặt một tay lên vai cậu. “Ít nhất cũng cảm ơn ta đi. Mặt ta xấu xí, ta là đàn bà miền núi, nhưng theo lối nói của ngươi, ta đã tích được công đức. Ta có nên chỉ cho ngươi biết các Sahib cảm ơn thế nào không?” Đôi mắt cứng rắn của nàng dịu lại.

“Ta chỉ là một tu sĩ lang thang,” Kim nói, đôi mắt đáp lại bằng một tia sáng. “Nàng chẳng cần lời ban phúc cũng chẳng cần lời nguyền của ta.”

“Không. Nhưng chỉ trong một khoảnh khắc nhỏ thôi—mười bước là ngươi đuổi kịp _dooli_—_nếu_ ngươi là một Sahib, ta có nên chỉ ngươi biết ngươi sẽ làm gì không?”

“Nếu ta đoán ra thì sao?” Kim nói, rồi vòng tay quanh eo nàng, hôn lên má và nói thêm bằng tiếng Anh: “Cảm ơn cô rất nhiều, cô em thân mến.”

Hôn gần như là việc xa lạ đối với người châu Á, có lẽ vì vậy nàng ngả người ra sau, mắt mở tròn, gương mặt hoảng hốt.

“Lần sau,” Kim tiếp tục, “cô chớ quá tin chắc vào các tu sĩ ngoại đạo của cô. Giờ tôi nói lời từ biệt.” Cậu chìa tay theo kiểu Anh. Nàng máy móc nắm lấy. “Tạm biệt, cô em thân mến.”

“Tạm biệt, và—và”—nàng đang nhớ lại từng từ tiếng Anh một—“anh sẽ quay lại nữa chứ? Tạm biệt, và—Thần phù hộ anh.”

Nửa giờ sau, khi chiếc kiệu cót két xóc nảy trên con đường mòn lên núi chạy về đông nam từ Shamlegh, Kim trông thấy một hình người bé xíu đứng ở cửa lều, vẫy một mảnh vải trắng.

“Nàng ấy đã tích được công đức vượt hơn mọi người,” lạt-ma nói. “Bởi đưa một người lên đường tới Giải thoát là công đức lớn bằng một nửa so với chính nàng tìm thấy Giải thoát.”

“Ừm,” Kim trầm ngâm nói, ngẫm lại chuyện vừa qua. “Có lẽ con cũng đã tích được công đức... Ít nhất nàng ấy không đối xử với con như trẻ nhỏ.” Cậu xốc lại vạt trước áo dài, nơi cất phiến thư từ cùng bản đồ, xếp lại túi thức ăn quý giá dưới chân lạt-ma, đặt tay lên mép kiệu rồi ép mình theo nhịp chân chậm chạp của những ông chồng đang thở phì phò.

“Những người này cũng đang tích công đức,” lạt-ma nói sau ba dặm.

“Hơn thế nữa, họ sẽ được trả bằng bạc,” Kim phán. Người đàn bà Shamlegh đã đưa bạc cho cậu; và cậu lý luận rằng công bằng nhất là để những người đàn ông của nàng tự kiếm lại số bạc ấy.