Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa — Chương 1: Tập I — Vòng hoa · Phần I — Jørundgaard · Chương I

Chương 1 / 23 · Bài review Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa

Trong cuộc phân chia gia sản sau khi Ivar Gjesling trẻ ở Sundbu qua đời vào năm 1306, phần điền sản của ông ở Sil về tay con gái là Ragnfrid và chồng nàng, Lavrans Bjørgulfsøn. Trước đó họ sống ở trang Skog của Lavrans tại Follo, gần Oslo, nhưng nay dọn đến Jørundgaard ở đầu trên những cánh đồng Sil.

Lavrans thuộc về dòng họ mà ở xứ này người ta gọi là dòng Quan Pháp. Dòng ấy sang đây từ Thụy Điển cùng với Laurentius, vị pháp quan vùng Östergötland, người đã đưa Bengta, em gái của Bjelbojarl, ra khỏi tu viện Vreta rồi trốn sang Na Uy với nàng. Ngài Laurentius ở bên vua Haakon Già và được nhà vua hết sức yêu quý; vua ban cho ông điền trang Skog. Nhưng sau khi ở đất này được tám năm, ông chết vì bệnh, còn quả phụ của ông, người con gái họ Folkung mà dân Na Uy gọi là con gái vua, thì trở về quê nhà và giảng hòa với họ hàng. Về sau bà tái giá rất giàu ở một xứ khác. Bà và ngài Laurentius không có con chung, nên em trai của Laurentius là Ketil thừa kế Skog. Ông ấy là ông nội của Lavrans Bjørgulfsøn.

Lavrans lấy vợ từ khi còn trẻ; lúc ông đến Sil ông mới hai mươi tám tuổi, lại còn kém vợ ba tuổi. Thuở thiếu niên, ông từng ở trong đội cận thần và được nuôi dạy tử tế; nhưng sau khi thành hôn ông sống yên ổn trên điền trang của mình, vì Ragnfrid là người có phần khác thường và u uất, không hợp sống giữa đám người miền nam xứ sở. Sau cái bất hạnh phải mất liền ba đứa con trai nhỏ ngay từ trong nôi, nàng gần như trở nên lánh người. Chính cũng phần nhiều vì muốn cho vợ được ở gần bà con và người quen hơn mà Lavrans dọn lên Gudbrandsdalen. Khi họ đến đó, họ chỉ còn một đứa con sống sót, một bé gái nhỏ tên là Kristin.

Nhưng khi đã yên bề gia thất ở Jørundgaard, họ vẫn sống lặng lẽ ở đó như trước và rất ít giao du; trông không có vẻ gì là Ragnfrid quan tâm nhiều đến bà con mình, vì nàng chẳng lui tới họ thường hơn mức phải làm cho phải phép. Cũng phần nào vì Lavrans và Ragnfrid là những người đặc biệt mộ đạo và kính sợ Chúa, năng đến nhà thờ, thường vui lòng cho những người phụng sự Chúa và những ai đi việc nhà thờ hoặc khách hành hương tá túc khi họ đi ngược thung lũng lên Nidaros, và họ tỏ lòng kính trọng hết mực đối với cha xứ của mình, người là láng giềng gần nhất của họ và sống ở Romundgaard. Nhưng ngoài ra, người trong thung lũng vẫn nghĩ rằng việc nhà Chúa đã khiến họ tốn kém đủ rồi về thuế thập phân, hoa lợi và tiền bạc, nên họ cho rằng chẳng cần phải ép mình quá mức vào chay tịnh và cầu nguyện, hay rước linh mục và tu sĩ về nhà, trừ khi thật có việc cần.

Dẫu vậy, người nhà Jørundgaard rất được kính trọng và cũng được quý mến, nhất là Lavrans, vì ông nổi tiếng là một người mạnh mẽ và can đảm, nhưng hiền hòa, điềm tĩnh và ngay thẳng, xử sự ôn hòa mà phong nhã, lại là một chủ điền cực kỳ giỏi giang và một tay săn cừ khôi; đặc biệt ông săn sói, gấu và mọi loài thú hại rất hăng. Chỉ trong ít năm ông đã gom được nhiều đất đai vào tay mình, nhưng ông là một người chủ tốt và hay giúp đỡ đối với những tá điền của mình.

Ragnfrid ít khi ra mặt đến nỗi chẳng bao lâu người ta cũng thôi không còn bàn tán nhiều về nàng nữa. Lúc đầu, sau khi nàng trở về quê cũ trong thung lũng, nhiều người lấy làm lạ, vì họ còn nhớ nàng thuở sống ở Sundbu. Nàng chưa bao giờ là người đẹp, nhưng khi ấy trông nàng hiền hậu và vui vẻ; còn bây giờ nàng đã héo mòn đi nhiều đến mức người ta dễ tưởng nàng hơn chồng những mười năm chứ không phải ba. Người ta cho rằng nàng mang nặng chuyện con cái một cách quá mức, bởi ngoài điều ấy ra thì nàng vẫn hơn phần lớn đàn bà khác ở mọi bề, nàng sống trong sung túc và được trọng vọng, lại thuận hòa với chồng, ít ra là theo chỗ người ta thấy: Lavrans không dan díu với đàn bà khác, ông bàn bạc với vợ rất nhiều trong mọi chuyện, và không nói với nàng một lời cộc cằn nào, dù khi tỉnh hay lúc say. Mà nàng cũng chưa già đến nỗi không còn có thể sinh thêm nhiều con nữa, nếu Chúa muốn ban cho nàng ơn ấy.

Họ có phần khó kiếm người trẻ đến làm ở Jørundgaard, vì bà chủ nhà mang nỗi u uất ấy và vì họ giữ mọi kỳ chay tịnh quá nghiêm. Còn ngoài ra, người trong nhà ở đó sống khá tốt, hiếm khi có lời nặng tiếng hay quở mắng; chính Lavrans và Ragnfrid cũng tự mình làm gương trong mọi công việc. Người chồng, theo cách riêng của ông, cũng là người vui tính và có thể cùng nhập một điệu nhảy hay cất tiếng hát dẫn, khi đám thanh niên vui chơi trong những đêm thức trên đồi nhà thờ. Nhưng dẫu vậy, phần nhiều vẫn là những người đứng tuổi tìm đến Jørundgaard; họ rất vừa ý ở đó và ở lại lâu.

Khi đứa trẻ Kristin lên bảy, có một lần xảy ra là nó được theo cha lên trại hè của nhà họ.

Đó là một buổi sáng đẹp vào khoảng đầu mùa hè. Kristin đứng trên gác, nơi cả nhà ngủ trong mùa này; nó thấy nắng đang chiếu ngoài kia và nghe cha cùng mấy người đàn ông nói chuyện dưới sân, thì mừng đến nỗi không thể đứng yên trong khi mẹ mặc quần áo cho, mà cứ nhảy nhót giữa mỗi món đồ được khoác lên người. Nó chưa bao giờ lên núi cao, chỉ mới từng vượt qua khe núi sang Vågå khi được đi thăm bà con bên ngoại ở Sundbu, và vào những khu rừng gần nhất cùng mẹ với người nhà, lúc họ ra hái quả dại để Ragnfrid thả vào thứ bia loãng của mình. Bà cũng làm một thứ bã chua bằng quả lingon và nam việt quất, bà ăn với bánh mì thay bơ trong mùa Chay.

Mẹ quấn mái tóc vàng dài của Kristin lên và giấu vào trong chiếc mũ xanh cũ của nó, rồi hôn con gái lên má, và Kristin chạy xuống với cha. Lavrans đã ngồi yên trên yên ngựa; ông nhấc nó lên phía sau mình, chỗ ông đã gấp áo choàng lại làm gối trên lưng ngựa. Ở đó Kristin ngồi dạng chân và bám vào thắt lưng cha. Rồi họ gọi lời từ biệt mẹ, nhưng bà chạy từ hành lang ngoài xuống với chiếc áo choàng mũ của Kristin, đưa cho Lavrans và dặn ông trông nom đứa bé cẩn thận.

Mặt trời chiếu sáng, nhưng đêm qua mưa rất to, nên khắp nơi suối đều tung bọt và reo xuống các sườn dốc, còn từng vệt sương mù lùa bên dưới sườn núi. Nhưng phía trên sống núi, những cụm mây trắng của ngày đẹp trời đang dâng lên trong nền không xanh, và Lavrans cùng các người của ông nói rằng hẳn sẽ là một ngày nóng khi về trưa. Lavrans dẫn theo bốn gia nhân, và tất cả đều vũ trang đầy đủ, vì vào thời ấy có lắm hạng người kỳ quái ẩn náu trong núi, dẫu rằng họ đông như thế và chỉ đi vào một quãng ngắn, thì thật cũng khó mà đụng phải chuyện ấy. Kristin quý cả bốn người gia nhân; ba người là đàn ông đứng tuổi, còn người thứ tư, Arne Gyrdsøn ở Finsbrekken, là một cậu trai mới lớn và là bạn thân nhất của Kristin; cậu cưỡi sát ngay sau Lavrans và hai cha con, vì chính cậu sẽ nói cho nó biết về mọi điều họ thấy dọc đường.

Họ cưỡi qua giữa các nhà ở Romundgaard và trao lời chào với cha Eirik. Ông đang đứng ngoài sân cãi mắng con gái mình, người quán xuyến nhà cửa cho ông, về một mớ sợi mới nhuộm mà nàng đã quên phơi ngoài trời hôm trước; bây giờ nó đã hỏng vì mưa.

Trên gò đất phía trên nhà xứ là nhà thờ, không lớn nhưng thanh nhã, đẹp đẽ, được giữ gìn cẩn thận và mới quét hắc ín. Trước cây thánh giá ngoài cổng nghĩa địa, Lavrans và các người của ông đều bỏ mũ cúi đầu; rồi người cha quay mình trên yên, và ông cùng Kristin vẫy tay xuống chỗ người mẹ mà họ còn trông thấy đang đứng ngoài bãi cỏ trước trang trại nhà mình; bà phất lại bằng một góc khăn trùm đầu.

Ở đây, trên đồi nhà thờ và trong nghĩa địa, Kristin vẫn thường chơi gần như mỗi ngày; nhưng hôm nay, khi nó sắp ra đi một quãng xa đến thế, đứa trẻ lại thấy cảnh quen của nhà mình và của cả miền quê bỗng trở nên hoàn toàn mới lạ và kỳ diệu. Cụm nhà ở Jørundgaard dường như đã nhỏ hơn và xám hơn khi nằm dưới khoảng bằng, cả sân trong lẫn sân ngoài. Con sông uốn lượn sáng loáng, và thung lũng mở ra với những bờ cỏ xanh rộng cùng những vùng đầm lầy dưới đáy, và những nông trang với ruộng nương, đồng cỏ trải lên sườn dốc dưới chân những vách núi xám dựng đứng.

Tận dưới kia, nơi những dãy núi khép lại và chặn ngang, Kristin biết là Loptsgaard nằm ở đó. Ở đấy có Sigurd và Jon, hai ông già râu trắng; mỗi khi đến Jørundgaard, họ lúc nào cũng đùa nghịch và chọc cười nó. Nó quý Jon, vì ông thường tạc cho nó những con thú gỗ đẹp nhất, và đã có lần ông cho nó một chiếc nhẫn vàng. Nhưng lần cuối ông đến thăm nhà họ, vào dịp lễ Hiện Xuống, ông mang theo cho nó một người hiệp sĩ được chạm trổ đẹp đến thế và tô vẽ khéo đến thế, khiến Kristin thấy rằng chưa bao giờ mình được món quà nào quý hơn. Đêm nào nó cũng phải đem chàng hiệp sĩ ấy lên giường cùng mình, nhưng sáng ra khi tỉnh dậy thì hiệp sĩ lại đứng trên bậc lên trước giường, nơi nó nằm ngủ cùng cha mẹ. Cha nó bảo chàng nhảy lên lúc gà gáy đầu tiên, nhưng Kristin hiểu rõ là mẹ đã cất chàng đi khi nó ngủ rồi, bởi nó từng nghe bà nói rằng món ấy cứng và khó chịu lắm nếu đêm đến mà họ nằm đè lên. Còn Sigurd ở Loptsgaard thì Kristin sợ và không thích bị ông bế lên gối, vì ông thường bảo rằng khi nó lớn thành người, ông sẽ ngủ trong vòng tay nó. Ông đã sống lâu hơn hai bà vợ, và tự nói rồi ông cũng sẽ sống lâu hơn cả bà thứ ba nữa; khi đó Kristin có thể thành bà thứ tư. Nhưng khi nó khóc vì điều ấy, Lavrans chỉ cười và nói ông không tin Margit lại sớm trút hơi thở đến thế, còn nếu chẳng may xảy ra thật và Sigurd đến cầu hôn, thì ông sẽ bị từ chối, vậy nên nó chẳng cần phải sợ điều gì khác.

Khoảng một tầm tên về phía bắc nhà thờ, bên đường có một khối đá lớn, quanh đó là một lùm dày toàn bạch dương và dương rung. Bọn trẻ vẫn thường chơi trò nhà thờ ở đó, và Tomas, đứa cháu ngoại nhỏ nhất của cha Eirik, đứng lên đọc ngân nga theo ông ngoại, rảy nước thánh và làm phép rửa mỗi khi có nước mưa đọng trong các hốc đá. Nhưng mùa thu năm trước đã có lần chúng gặp vạ vì trò ấy. Trước hết Tomas làm lễ thành hôn cho nó với Arne, Arne tuy chẳng lớn hơn bao nhiêu nhưng có khi vẫn theo bọn trẻ con chơi đùa, nếu cậu kiếm được lúc rảnh. Sau đó Arne bắt một con lợn con đang đi quanh đó, và chúng mang nó đến chịu phép rửa. Tomas xức bùn lên mình nó, dìm nó xuống một vũng nước rồi bắt chước ông ngoại, ngân nga tiếng Latinh và mắng rằng chúng cúng dâng chẳng đủ gì cả, bọn trẻ bật cười vì chúng từng nghe người lớn nói về thói tham tiền vô độ của Eirik. Và chúng càng cười, Tomas lại càng nghĩ ra những trò quá quắt hơn; rồi nó bảo đứa trẻ này được hoài thai trong mùa Chay, nên cha mẹ nó phải nộp phạt cho linh mục và cho nhà thờ vì tội lỗi của mình. Bọn con trai lớn cười rú lên, còn Kristin thì xấu hổ đến nỗi gần phát khóc, đứng đó ôm con lợn trong tay. Và trong lúc chúng đang bày trò như thế, chẳng may chính Eirik lại cưỡi ngựa về từ một chuyến đi ban phép cho người bệnh trong xứ. Khi hiểu lũ trẻ đang làm gì, ông nhảy phắt xuống ngựa, dúi các bình thánh cho Bentein, đứa cháu ngoại lớn nhất đang đi cùng ông, nhanh đến nỗi Bentein suýt làm rơi con bồ câu bạc đựng Mình Thánh xuống đất; rồi vị linh mục lao vào giữa bọn trẻ và đánh được đứa nào thì đánh. Kristin đánh rơi con lợn, nó ré lên chạy bổ xuống đường, kéo lê theo tấm vải làm khăn rửa tội, khiến lũ ngựa của cha xứ dựng cả hai chân trước lên vì sợ; cha xứ cũng lắc mạnh cả Kristin đến ngã lăn, rồi còn thúc chân vào nó, khiến mấy ngày sau hông nó vẫn còn đau. Khi nghe kể lại, Lavrans cho rằng Eirik dẫu sao cũng đã quá nghiêm với Kristin, vì nó còn quá nhỏ. Ông bảo sẽ nói chuyện này với cha xứ, nhưng Ragnfrid xin ông đừng làm thế, vì đứa trẻ chẳng phải chịu gì hơn điều nó đáng chịu, khi dám tham dự vào một trò nhạo báng phạm thượng như thế. Thế là Lavrans không nhắc gì thêm về việc ấy, nhưng ông đã cho Arne một trận đòn nặng nhất mà cậu từng phải chịu.

Bởi vậy, khi họ cưỡi ngang qua tảng đá, Arne kéo tay áo Kristin. Cậu không dám nói gì trước mặt Lavrans, nhưng lại nhăn mặt, cười và vỗ vào mông mình. Còn Kristin cúi đầu xuống, xấu hổ.

Con đường chui vào rừng rậm. Họ cưỡi dưới Hammeraas; thung lũng hẹp lại và tối xuống, tiếng sông gầm nghe mạnh hơn, dữ hơn, còn khi họ thoáng thấy Laagen thì dòng nước xanh băng giá cuộn bọt trắng giữa những bức tường đá dựng đứng. Núi đen đặc rừng ở cả hai phía thung lũng; trong khe núi ấy vừa tối tăm vừa dữ dằn vừa chật hẹp, và cái lạnh âm u cứ tạt vào người. Họ qua cây cầu ván bắc trên Rostaaen, rồi chẳng bao lâu đã thấy cây cầu qua sông ở dưới lòng thung lũng. Trong một vũng sâu cách cầu không xa có một con ma nước ở; Arne muốn kể cho Kristin nghe chuyện ấy, nhưng Lavrans nghiêm giọng bắt cậu im những lời như thế trong khu rừng này. Và khi họ đến cầu, ông nhảy khỏi ngựa rồi dắt nó sang bằng dây cương, trong khi cánh tay kia ôm chặt ngang lưng đứa trẻ.

Bên kia sông, một lối ngựa leo dốc gắt lên cao, nên đám đàn ông đều xuống ngựa mà đi bộ, còn người cha nhấc Kristin lên phía trước yên để nó giữ lấy vòng cung yên, rồi cho nó một mình cưỡi Guldsveinen.

Những mỏm núi xám mới và những đỉnh xanh lam có vệt tuyết dần nhô lên phía trên các sườn núi theo mỗi lúc họ lên cao hơn, và bây giờ giữa các thân cây Kristin đã lờ mờ thấy thấp thoáng miền quê ở phía bắc khe núi, còn Arne chỉ tay và nói cho nó biết những nông trang mà họ còn có thể nhận ra tên.

Cao mãi trên sườn dốc họ đến một nhà nhỏ. Họ dừng lại bên hàng rào gỗ; Lavrans cất tiếng gọi, và âm vang cứ dội mãi, hết lần này đến lần khác giữa núi non. Hai người đàn ông chạy xuống qua những khoảnh ruộng nhỏ. Đó là cả hai người con trai trong nhà. Họ là những người đốt nhựa thông rất giỏi, và Lavrans định thuê họ đốt nhựa cho mình. Mẹ họ theo sau, mang một bát lớn sữa mát lạnh, vì ngày đã trở nên nóng như đám đàn ông đã đoán.

“Tôi thấy anh đem theo con gái đấy,” bà nói khi chào hỏi xong, “tôi nghĩ thế nào cũng phải nhìn con bé cho biết. Anh cởi mũ cho nó đi; người ta đồn nó có một mái tóc đẹp lắm.”

Lavrans làm theo lời người đàn bà, và tóc Kristin xõa xuống tận yên ngựa. Tóc nó dày và vàng như lúa chín. Người đàn bà, Isrid, chạm tay vào đó và nói:

“Đúng là bây giờ tôi mới thấy, lời đồn về cô con gái nhỏ của anh chẳng hề nói quá đâu, một đóa huệ nhỏ đấy, lại trông như con của một nhà hiệp sĩ nữa. Mắt nó cũng hiền lắm, nó giống anh chứ không giống người Gjesling. Cầu Chúa cho anh được hưởng niềm vui nơi con bé, Lavrans Bjørgulfsøn! Và con ngồi trên Guldsveinen thẳng lưng như một cận thần ấy,” bà nói đùa, giữ cái bát cho Kristin uống.

Đứa trẻ đỏ mặt lên vì vui sướng, vì nó thừa biết cha mình được xem là người đàn ông đẹp nhất trong cả vùng rộng lớn, và ông trông như một hiệp sĩ khi đứng giữa những người của mình, dù quần áo ông phần nhiều theo lối nông dân, như ông vẫn mặc ở nhà hằng ngày. Ông mặc một chiếc áo chẽn ngắn, khá rộng, bằng dạ nhuộm xanh, hở ở cổ để lộ chiếc áo lót bên trong; ngoài ra ông mang bít tất và giày bằng da không nhuộm, trên đầu đội một chiếc mũ len vành rộng kiểu cũ. Trang sức ông chỉ có một chiếc khóa bạc trơn ở thắt lưng và một chiếc ghim nhỏ cài ở cổ áo sơ mi; thêm nữa, nơi cổ còn lộ ra một chút dây chuyền vàng. Lavrans lúc nào cũng đeo sợi dây ấy, và trên đó có treo một cây thánh giá bằng vàng nạm những hạt pha lê đá lớn; cây thánh giá ấy mở ra được, bên trong có giữ một chút vải liệm và tóc của thánh nữ Elin ở Skøvde, vì dòng Quan Pháp vẫn kể tông hệ mình từ một người con gái của vị nữ thánh phúc lành ấy. Nhưng khi Lavrans ở trong rừng hoặc đi coi việc, ông thường nhét cây thánh giá vào trong ngực trần để khỏi đánh mất.

Nhưng trong bộ quần áo thô mặc ở nhà, ông vẫn toát ra vẻ cao quý hơn lắm hiệp sĩ và người hầu cận trong y phục dự tiệc. Dáng ông đẹp lạ thường, cao, vai rộng, hông thon; đầu nhỏ và đặt cân đối trên cổ, còn các nét mặt thì thanh tú, hơi dài, với đôi má vừa đủ đầy, chiếc cằm tròn đẹp và khuôn miệng cân xứng. Nước da ông sáng, sắc mặt tươi, mắt xám, tóc dày, thẳng và vàng mượt như tơ.

Ông đứng lại trò chuyện với Isrid về những chuyện của bà, cũng hỏi thăm Tordis, người chị em họ bên chồng của Isrid đang trông nom trại hè của Jørundgaard vào mùa này. Nàng vừa mới sinh một đứa con; Isrid chỉ còn đợi có dịp được người hộ tống chắc chắn qua rừng, rồi bà sẽ bế thằng bé xuống để nó được chịu phép rửa. Lavrans bèn nói rằng bà cứ đi tiếp lên cùng họ: ông sẽ trở xuống vào tối hôm sau, và như thế sẽ tốt và an toàn cho bà biết bao, khi có đông đàn ông đi cùng bà và đứa trẻ còn ngoại giáo ấy.

Isrid cảm ơn: “Nói thật ra thì chính là tôi vẫn chờ dịp này. Bọn người nghèo chúng tôi sống trên này dưới sườn núi vẫn biết rằng anh sẽ làm cho chúng tôi một việc tốt, nếu anh có thể, mỗi khi anh đến đây.” Bà chạy ngược lên dốc để lấy một gói đồ và một chiếc áo choàng.

Lavrans vốn thấy dễ chịu giữa những người dân nghèo sống trên các khoảnh đất khai hoang và những mảnh đất thuê ở tít rìa trên của thung lũng; ở với họ, ông bao giờ cũng vui vẻ, hay đùa. Ông chuyện trò với họ về đường đi lối lại của thú rừng, về tuần lộc trên các cao nguyên, về mọi giống ma quái vẫn lảng vảng ở những nơi như thế. Ông giúp họ bằng lời khuyên, bằng việc làm và chính đôi tay mình, chăm nom gia súc đau ốm của họ, cùng họ làm việc trong lò rèn và dựng nhà gỗ, đôi khi còn đem sức lực phi thường của mình góp vào khi họ phải bật lên những tảng đá hay rễ cây cứng đầu nhất. Bởi vậy, những người ấy bao giờ cũng vui mừng đón Lavrans Bjørgulfsøn và Guldsveinen, con ngựa đực đỏ lớn ông cưỡi. Đó là một con vật đẹp, lông bóng mượt, bờm và đuôi trắng, mắt sáng — khỏe và gan đến nỗi tiếng tăm truyền khắp các vùng, nhưng với Lavrans thì nó hiền như cừu non; ông thường nói mình quý nó như một người em trai.

Việc đầu tiên Lavrans phải làm là xem xét đài hiệu lửa trên Heimhaugen. Bởi trong những thời loạn lạc dữ dội cách đó một trăm năm hoặc hơn, ở vài nơi dọc các thung lũng, nông dân đã dựng những đài hiệu lửa trên núi, giống như các đài canh lửa trong những khu trưng binh đường biển ven bờ; nhưng các đài trong thung lũng không thuộc hệ thống phòng thủ của đất nước. Những hội nông dân giữ gìn chúng, các hội viên luân phiên nhau trông nom.

Khi đến trại chăn hè đầu tiên, Lavrans thả tất cả ngựa, trừ con ngựa thồ, vào bãi cỏ rào kín ở đó, rồi họ men theo một lối bộ hành dốc ngược lên cao. Chẳng bao lâu cây cối đã thưa hẳn. Những cây thông lớn đứng chết, trắng như xương giữa các đầm lầy — và lúc này Kristin thấy khắp nơi những đỉnh trọc màu xám nhô lên nền trời. Có những quãng dài họ phải trèo qua bãi đá vụn, đôi khi một dòng suối chảy ngay trên lối đi khiến cha phải bế nàng. Trên này gió thổi mạnh và trong lành, quả mọng đen kín các bụi cây thấp, nhưng Lavrans bảo bây giờ họ không thể dừng lại hái. Arne lúc chạy lên trước, lúc tụt xuống sau, bứt những cành đầy quả cho nàng và kể các trại chăn hè họ nhìn thấy phía dưới trong rừng là của nhà nào — bởi thời ấy rừng còn phủ khắp Høvringsvangen.

Giờ đây họ đã ở dưới chân ngọn đồi tròn trọc cuối cùng, nhìn thấy bộ khung gỗ đồ sộ in lên nền trời và căn lều canh nép dưới một vách đá.

Khi họ vừa lên khỏi mép dốc, gió ập vào, quất phần phật áo quần — khiến Kristin tưởng như một sinh vật sống ngự trên này đang ra đón và chào họ. Gió ào ào, áo quần phấp phới, trong lúc nàng cùng Arne bước qua những mảng rêu. Hai đứa trẻ ngồi xuống tận ngoài cùng một mỏm đất, và Kristin mở to mắt nhìn — nàng chưa bao giờ hình dung thế giới lại rộng lớn đến thế.

Khắp phía dưới nàng là những miền núi cao nguyên rậm lông rừng; thung lũng chỉ như một vệt lõm giữa những khối núi khổng lồ, còn các thung lũng nhánh lại là những vệt lõm nhỏ hơn nữa; có rất nhiều vệt như vậy, thế mà phần thung lũng vẫn ít, phần núi non vẫn nhiều. Khắp nơi, những đỉnh xám loang lổ địa y vàng nhô lên khỏi tấm thảm rừng, và xa tít nơi chân trời là những dãy núi xanh với các vệt tuyết trắng lóa, trước mắt hòa lẫn cùng những đám mây mùa hạ xanh xám, sáng trắng. Nhưng về phía đông bắc, ngay gần đó — chỉ bên kia khu rừng quanh các trại chăn hè — là một cụm đồi khổng lồ màu xanh đá, với những vạt tuyết mới chạy xuống sườn. Kristin hiểu đó hẳn là Raanekampene mà nàng từng nghe nói tới, bởi quả thực chúng giống một đàn lợn đực khổng lồ đang đi sâu vào núi, chĩa mông về phía làng mạc. Thế mà Arne bảo chỉ cần cưỡi ngựa nửa ngày là tới được đó.

Kristin vẫn tưởng chỉ cần vượt qua đỉnh những ngọn núi quê nhà là nàng sẽ nhìn xuống một miền khác giống hệt miền mình, với những gia trang và đồng ruộng đã được khai phá; bởi vậy, lòng nàng bỗng trĩu xuống một cách kỳ lạ khi thấy những nơi có người ở cách nhau xa đến thế. Nàng nhìn những đốm nhỏ màu vàng và xanh dưới đáy thung lũng, cùng những khoảnh rừng quang bé xíu có các chấm nhà màu xám trong rừng núi; nàng bắt đầu đếm, nhưng khi đã đếm đến ba tá thì không sao nhớ nổi nữa. Vậy mà chỗ cư ngụ của con người vẫn chỉ như hư không giữa chốn hoang vu.

Nàng biết trong rừng hoang, sói và gấu ngự trị, dưới tất cả những tảng đá kia là nơi ở của quỷ khổng lồ, thổ quỷ và giống tiên; nàng đâm sợ, bởi không ai biết chúng đông đến đâu, nhưng ắt hẳn chúng phải nhiều gấp bội người có đạo. Nàng lớn tiếng gọi cha, song ông không nghe thấy giữa tiếng gió trên này — ông và các gia nhân đang hì hục lăn những tảng đá lớn lên sườn đá nhẵn để chèn quanh các thân gỗ của đài hiệu.

Nhưng Isrid đến bên hai đứa trẻ và chỉ cho Kristin dãy núi phía tây Vaage. Còn Arne chỉ Graafjeldet, nơi dân các vùng bắt tuần lộc bằng hố bẫy và những người bẫy chim ưng của nhà vua trú trong các lều đá. Chính Arne cũng định theo nghề ấy — nhưng cậu còn muốn học cách luyện chim đi săn — rồi cậu giơ hai tay lên như đang thả một con diều hâu.

Isrid lắc đầu.

“Đó là một cuộc đời xấu xa, Arne Gyrdsøn — mẹ cậu sẽ đau lòng lắm nếu cậu trở thành người bẫy chim ưng, con ạ. Không ai sống nổi trong ấy nếu không kết bạn đồng hành với cả những kẻ tồi tệ nhất lẫn những giống còn tệ hơn chúng.”

Lavrans vừa bước đến và nghe được những lời cuối:

“Phải,” ông nói, “trong ấy hẳn có hơn một chốn cư ngụ chẳng nộp tô tức cũng chẳng đóng thuế thập phân —”

“Hẳn anh đã trông thấy chuyện này chuyện khác rồi, Lavrans,” Isrid gặng hỏi. “Anh vẫn đi sâu vào trong ấy đến thế —”

“À — à,” Lavrans kéo dài giọng. “Có lẽ — nhưng tôi không nghĩ người ta nên nói về những chuyện như vậy. Những kẻ đã tự đánh mất sự bình yên dưới làng thì cũng nên được hưởng chút bình yên họ tìm thấy trong núi, tôi cho là thế. Vả chăng, tôi từng thấy những ruộng lúa vàng và những đồng cỏ cắt đẹp đẽ ở nơi rất ít người biết rằng có thung lũng — tôi cũng từng thấy những đàn gia súc lớn nhỏ, nhưng chúng thuộc về người hay thuộc về giống nào khác thì tôi không biết —”

“Phải rồi,” Isrid nói. “Gấu và sói vẫn bị đổ tội cho số gia súc mất tích ở các trại chăn hè, nhưng trong núi còn có những phường trộm cướp tệ hơn chúng.”

“Chị gọi họ là tệ hơn sao?” Lavrans trầm ngâm hỏi và vuốt chiếc mũ của con gái. “Một lần, trong núi phía nam Raanekampene, tôi trông thấy ba đứa bé trai, đứa lớn nhất chỉ bằng Kristin đây — tóc chúng vàng, mặc áo da. Chúng nhe răng với tôi như lũ sói con rồi chạy đi ẩn mất. Cũng chẳng lạ gì nếu người cha khốn khó có chúng muốn kiếm lấy một hai con bò —”

“Ồ, cả sói lẫn gấu đều có con đấy thôi,” Isrid giận dữ nói. “Thế mà anh có tha cho chúng đâu, Lavrans, cả chúng lẫn con non của chúng. Dẫu sao chúng cũng chưa từng được dạy luật pháp hay đạo Chúa, không như những kẻ gian ác mà anh rộng lòng với họ đến thế —”

“Chị cho rằng tôi quá rộng lòng với họ chỉ vì tôi mong họ được khá hơn điều tệ hại nhất một chút sao?” Lavrans nói và khẽ mỉm cười. “Nhưng đi thôi, để xem hôm nay Ragnfrid đã cho chúng ta mang theo những thức ăn gì.” Ông nắm tay Kristin, dắt nàng đi cùng. Rồi ông cúi xuống bên nàng, nói khẽ: “Cha vừa nghĩ đến ba đứa em trai bé bỏng của con đấy, Kristin nhỏ của cha.”

Họ nhìn vào trong lều canh đài hiệu, nhưng trong đó ngột ngạt và nồng mùi ẩm mốc. Kristin được phép nhìn quanh một lát, song chẳng có gì ngoài vài bệ đất dọc các vách, một bếp lửa giữa sàn, cùng những thùng nhựa thông, những bó đuốc gỗ thông dầu và vỏ bạch dương. Lavrans cho rằng nên ăn ngoài trời, và thấp xuống một chút, trên sườn mọc bạch dương, họ tìm thấy một bãi cỏ xanh đẹp đẽ.

Họ dỡ đồ khỏi con ngựa thồ rồi duỗi mình trên cỏ. Trong túi lương của Ragnfrid có rất nhiều thức ăn ngon — bánh mì mềm và bánh dẹt mỏng hảo hạng, bơ và pho mát, thịt lợn muối và thịt tuần lộc hong gió, ức bò luộc béo ngậy, hai thùng lớn đựng bia Đức và một vò rượu mật ong nhỏ. Mọi người mau chóng xẻ thịt chia nhau, trong lúc Halvdan, người lớn tuổi nhất trong đám gia nhân, đánh lửa — ở đây giữa rừng, có lửa sưởi vẫn an toàn hơn là không.

Isrid và Arne bứt thạch nam cùng cành bạch dương núi ném vào đống lửa; ngọn lửa cắn vào màu xanh tươi của cành lá nghe xèo xèo, khiến những mảnh tro cháy trắng li ti bay vút trên bờm đỏ của nó; khói cuộn dày và sẫm lên nền trời trong vắt. Kristin ngồi nhìn; nàng tưởng như ngọn lửa đang vui sướng vì được ở ngoài trời, được tự do vui đùa. Nó khác hẳn khi ngồi trên bếp lửa ở nhà, phải làm lụng nấu thức ăn và soi sáng cho họ trong gian phòng.

Nàng ngồi tựa vào cha, một cánh tay đặt ngang đầu gối ông; ông cho nàng ăn thỏa thích mọi món ngon nhất, bảo nàng uống bia được bao nhiêu tùy sức và chịu khó nếm rượu mật ong.

“Con bé sẽ say đến nỗi không đi xuống trại chăn hè nổi đâu,” Halvdan cười nói, nhưng Lavrans vuốt đôi má tròn của nàng:

“Thì ở đây hẳn có đủ người để khiêng con bé — thứ này tốt cho nó — Arne, con cũng uống đi — các con vẫn còn đang lớn, những ân huệ của Chúa chỉ đem lại điều lành chứ không gây hại cho các con — chúng cho dòng máu đỏ ngọt lành và giấc ngủ ngon, nhưng không khơi dậy sự cuồng loạn hay ngu dại —”

Bấy giờ đám đàn ông cũng uống nhiều và uống sâu; Isrid cũng chẳng chịu kém, chẳng bao lâu tiếng nói của họ cùng tiếng lửa gầm và rít đã hóa thành một âm vang xa xôi trong tai Kristin — đầu nàng bắt đầu nặng trĩu. Nàng vẫn còn nhận biết rằng họ đang gặng hỏi Lavrans, muốn ông kể về những điều kỳ lạ ông từng cảm nhận trong các chuyến đi săn. Nhưng ông không chịu nói nhiều, và nàng thấy mọi sự thật yên ổn, dễ chịu biết bao — mà nàng lại no căng.

Cha nàng cầm một miếng bánh lúa mạch mềm; ông ngắt những mẩu nhỏ giữa các ngón tay, nặn cho giống hình ngựa, xé những miếng thịt con con đặt dạng chân lên lưng ngựa bánh; rồi ông cho chúng cưỡi qua đùi mình, đi thẳng vào miệng Kristin. Nhưng chẳng bao lâu nàng mệt đến nỗi không còn sức há miệng hay nhai nữa — rồi nàng ngã vật xuống đất và ngủ thiếp đi.

Khi tỉnh lại, nàng thấy mình nằm trong vòng tay cha, vừa ấm vừa tối — ông đã quấn áo choàng quanh cả hai cha con. Kristin ngồi dậy, lau mồ hôi trên mặt rồi tháo mũ, để không khí hong khô mái tóc ẩm của nàng.

Hẳn ngày đã về chiều, bởi ánh nắng đã vàng hẳn, những bóng râm kéo dài và giờ đây đổ về phía đông nam. Không còn một ngọn gió nào lay động, muỗi và ruồi vo ve, rì rầm quanh đám người đang ngủ. Kristin ngồi im phăng phắc, gãi đôi bàn tay đầy vết muỗi đốt và nhìn quanh — ngọn đồi phía trên họ trắng rêu, vàng địa y dưới nắng cháy, còn bộ khung bằng gỗ dãi dầu mưa gió đứng in lên trời như bộ xương của một con vật kỳ quái.

Nàng bắt đầu thấy bất an — trông tất cả mọi người ngủ giữa ánh sáng ban ngày trần trụi thế này thật kỳ lạ. Nếu có lúc tỉnh giấc ở nhà trong đêm, nàng vẫn nằm ấm áp trong bóng tối, một bên là mẹ, bên kia là tấm thảm dệt căng trên những súc gỗ vách. Khi ấy nàng biết gian nhà đã đóng kín lỗ thoát khói và cài then, ngăn đêm tối cùng mưa gió bên ngoài, còn những tiếng động của giấc ngủ phát ra từ những người đang nằm êm ấm, an toàn giữa da thú và gối. Nhưng tất cả những thân thể vặn vẹo, xiêu lệch trên mặt đất quanh đống tro nhỏ trắng đen này nom rất có thể đã chết — người nằm sấp, kẻ nằm ngửa với hai đầu gối co lên, và những âm thanh phát ra từ họ khiến nàng sợ hãi. Cha nàng ngáy nặng nề, còn mỗi khi Halvdan hít vào, mũi ông ta lại phát ra tiếng rít và tiếng huýt. Arne nằm nghiêng, mặt vùi xuống cánh tay, mái tóc nâu sáng bóng xõa trên thạch nam; cậu nằm im đến nỗi Kristin sợ cậu đã chết. Nàng phải cúi tới chạm vào cậu — bấy giờ cậu mới hơi trở mình trong giấc ngủ.

Bỗng Kristin nghĩ biết đâu họ đã ngủ qua cả một đêm và đây là ngày hôm sau — nàng hoảng hốt lay cha, nhưng ông chỉ ậm ừ rồi ngủ tiếp. Đầu Kristin vẫn còn nặng, song nàng không dám nằm xuống ngủ nữa. Nàng bò đến bên đống lửa, lấy một que khều tro — bên dưới vẫn còn chút than hồng. Nàng bỏ thêm thạch nam cùng những cành nhỏ nhổ quanh chỗ ngồi, nhưng không dám bước ra ngoài vòng người đang ngủ để tìm cành lớn.

Bấy giờ mặt đất gần đó bỗng rung chuyển, dội lên những tiếng thình thình — tim Kristin chùng xuống và nàng lạnh buốt vì kinh hãi. Rồi nàng trông thấy một thân hình đỏ giữa các thân cây; Guldsveinen xuyên qua những bụi bạch dương non, đứng đó nhìn nàng bằng đôi mắt trong veo, sáng màu. Nàng mừng đến nỗi bật dậy chạy về phía con ngựa đực. Con ngựa nâu Arne đã cưỡi cũng ở đó, cùng cả con ngựa thồ. Bấy giờ nàng lại thấy yên lòng và an toàn; nàng đi đến vỗ lên hông cả ba con, nhưng Guldsveinen cúi đầu xuống để nàng có thể vuốt ve hai má nó, vò mớ tóc trước trán màu vàng trắng; nó dí chiếc mõm mềm vào hai bàn tay nàng, hít ngửi.

Ba con ngựa vừa gặm cỏ vừa chậm rãi đi xuống sườn bạch dương, và Kristin đi theo chúng, bởi nàng tin rằng mình sẽ không gặp nguy hiểm chừng nào còn ở gần Guldsveinen — trước kia nó từng trị được cả gấu. Việt quất mọc dày vô kể trong này, đứa trẻ lại khát và miệng có vị khó chịu; lúc này nàng không thật muốn uống bia, còn những quả mọng ngọt mọng nước kia thì ngon như rượu vang. Ở một bãi đá vụn đằng xa, nàng còn trông thấy cả mâm xôi — nàng liền nắm bờm Guldsveinen, dịu dàng xin nó đi cùng mình tới đó, và con ngựa đực ngoan ngoãn theo cô bé. Nàng càng đi sâu xuống sườn dốc, mỗi khi nàng gọi, nó lại theo, còn hai con ngựa kia đi sau Guldsveinen.

Nàng nghe tiếng một dòng suối róc rách, róc rách đâu đó gần bên; nàng lần theo âm thanh cho đến khi tìm thấy nó, rồi nằm sấp trên một phiến đá lớn, rửa khuôn mặt đẫm mồ hôi, đầy vết muỗi đốt cùng hai bàn tay. Dưới phiến đá, nước đọng thành một vũng lặng màu đen, bởi ngay phía đối diện có một vách đá dựng thẳng sau mấy cây bạch dương nhỏ và những bụi liễu — đó là một tấm gương tuyệt đẹp, và Kristin cúi mình trên mặt nước nhìn chính mình, bởi nàng muốn biết có đúng như Isrid nói, rằng nàng giống cha hay không.

Nàng mỉm cười, gật đầu rồi cúi sát xuống, cho đến khi tóc nàng chạm vào mái tóc sáng màu bao quanh khuôn mặt trẻ thơ tròn trịa, mắt mở lớn mà nàng nhìn thấy trong dòng suối.

Khắp chung quanh mọc vô vàn những chùm hoa hồng nhạt thanh mảnh gọi là nữ lang — ở đây bên dòng suối núi, chúng đỏ hơn và đẹp hơn nhiều so với những khóm mọc dọc con sông quê nhà. Kristin liền hái hoa, vừa hái vừa dùng cọng cỏ buộc lại, cho đến khi làm được một vòng hoa hồng nhạt đẹp nhất, dày nhất. Đứa trẻ ấn vòng hoa xuống quanh mái tóc rồi chạy tới vũng nước để xem mình trông ra sao, giờ đây khi đã trang điểm như một thiếu nữ trưởng thành sắp đi dự hội múa.

Nàng nghiêng mình trên mặt nước và nhìn hình bóng tối sẫm của chính mình từ đáy vũng trồi lên, càng đến gần nàng càng rõ nét — bấy giờ trong gương suối, nàng thấy một người đứng giữa những cây bạch dương bên bờ đối diện, cúi về phía nàng. Nàng đột ngột ngồi thẳng trên hai đầu gối và nhìn sang. Thoạt tiên nàng chỉ thấy vách núi cùng những thân cây bám quanh chân vách. Nhưng rồi bất chợt nàng nhận ra một khuôn mặt giữa đám lá — một phu nhân đứng bên ấy, mặt trắng, mái tóc vàng màu sợi lanh cuộn bồng bềnh — đôi mắt lớn màu xám sáng và hai cánh mũi hồng nhạt phập phồng khiến nàng nhớ đến Guldsveinen. Bà ta mặc một thứ y phục xanh lá bóng mượt, cành cây và nhánh lá che khuất đến tận bộ ngực rộng, nơi phủ đầy những trâm cài cùng dây chuyền sáng loáng.

Kristin nhìn trân trân vào cảnh tượng ấy — bấy giờ phu nhân giơ một bàn tay lên, cho nàng thấy một vòng hoa bằng những bông hoa vàng; bà ta dùng nó vẫy gọi nàng.

Phía sau, nàng nghe Guldsveinen hí vang đầy kinh hãi — nàng ngoảnh đầu lại — con ngựa đực chồm lên, thét vang đến dội cả núi rừng, quay phắt rồi lao ngược lên dốc khiến mặt đất rung chuyển. Hai con ngựa kia chạy theo — chúng phóng thẳng lên bãi đá vụn, khiến đá ầm ầm lăn xuống, cành cây và rễ cây gãy răng rắc, xào xạc.

Kristin thét lên vang trời. “Cha!” nàng gào, “cha!” Nàng đứng bật dậy, chạy ngược lên theo đàn ngựa, không dám ngoảnh đầu nhìn lại, trèo lên bãi đá vụn, giẫm phải gấu váy rồi trượt xuống một quãng, lại trèo tiếp, hai bàn tay rớm máu bấu lấy mọi chỗ có thể bám, bò bằng đôi đầu gối trầy xước, bầm dập, lúc gọi Guldsvein, lúc lại kêu cha — mồ hôi túa ra khắp người nàng, chảy như nước vào mắt, tim nện như muốn vỡ tan trên lồng ngực; tiếng khóc vì kinh hãi nghẹn cứng trong cổ nàng.

“Ôi cha, ôi cha!”

Bấy giờ nàng nghe thấy tiếng cha ở đâu đó phía trên. Nàng trông thấy ông nhảy những bước dài xuống bãi đá vụn — bãi đá sáng trắng dưới mặt trời; những cây bạch dương nhỏ và dương lá rung đứng im trên sườn dốc, lá loé lên từng ánh bạc li ti — sườn núi tĩnh lặng và sáng ngời đến thế, nhưng cha nàng đang chạy xuống, miệng gọi tên nàng, và Kristin khuỵu xuống, hiểu rằng giờ mình đã được cứu.

“Thánh Maria!” Lavrans quỳ xuống bên con gái và ôm nàng vào lòng — mặt ông tái nhợt, quanh miệng có một vẻ khác thường khiến Kristin càng hoảng sợ; dường như chỉ khi nhìn vào gương mặt cha, nàng mới thấy hết hiểm nguy mình vừa lâm phải lớn đến chừng nào.

“Con ơi, con ơi…” Ông nâng hai bàn tay đẫm máu của nàng lên, nhìn chúng, rồi nhìn vòng hoa trên mái tóc để trần của nàng và đưa tay chạm vào. “Chuyện gì thế này — sao con lại đến được đây, Kristin bé bỏng…”

“Con đi với Guldsvein,” nàng nức nở, nép vào ông. “Con sợ quá vì mọi người đều ngủ, nhưng rồi Guldsvein đến… Rồi có người vẫy con ở dưới suối kia…”

“Ai vẫy con — một người đàn ông à?”

“Không, đó là một bà — bà ấy vẫy con bằng một vòng hoa vàng — con nghĩ đó là thiếu nữ người lùn, cha ạ…”

“Lạy Chúa Jesus Kitô,” Lavrans khẽ nói rồi làm dấu thánh giá trên mình đứa trẻ và chính mình.

Ông dìu nàng đi lên cho tới khi họ đến một doi cỏ; bấy giờ ông bế nàng lên. Nàng ôm ghì cổ cha, khóc nức nở — không sao nín được, mặc ông dỗ dành mãi.

Một lát sau họ gặp những người đàn ông và Isrid. Bà chắp hai tay lại khi nghe chuyện đã xảy ra:

“Phải rồi, hẳn đó là nàng tiên — nó muốn dụ đứa trẻ xinh đẹp này vào trong núi, mọi người phải biết thế…”

“Im đi,” Lavrans nghiêm giọng ra lệnh. “Đáng lẽ chúng ta không nên nói những chuyện như vừa nói ở đây trong rừng — chẳng ai biết được kẻ nào ở dưới những tảng đá và nghe rõ từng lời.”

Ông kéo sợi dây chuyền vàng từ dưới áo ra, đeo nó cùng cây thánh giá đựng thánh tích vào cổ Kristin, rồi nhét vào sát làn da trần của nàng.

“Nhưng tất cả mọi người,” ông nói, “phải hết sức giữ miệng, vì tuyệt đối không được để Ragnfrid nghe biết đứa trẻ đã lâm vào hiểm nguy như thế này.”

Bấy giờ họ bắt được những con ngựa đã chạy vào rừng, rồi nhanh chóng đi xuống bãi cỏ quanh trại núi, nơi những con ngựa khác đang gặm cỏ. Tất cả lên ngựa và cưỡi sang trại núi của Jørundgaard; đường không xa.

Mặt trời sắp lặn khi họ tới nơi; gia súc đã ở trong quây, Tordis và những người chăn đang vắt sữa. Trong căn nhà trại, cháo đã nấu sẵn cho họ, vì người ở trại đã trông thấy họ trên chỗ ụ đá từ đầu ngày, nên biết họ sẽ đến.

Đến lúc ấy Kristin mới thôi khóc. Nàng ngồi trong lòng cha, ăn cháo với kem chua bằng cùng một chiếc thìa với ông.

Ngày hôm sau Lavrans phải đi tới một hồ nước ở sâu hơn trong núi; mấy người chăn của ông đang ở đó cùng đàn bò đực. Đáng lẽ Kristin được đi theo, nhưng giờ ông bảo nàng phải ở lại trong căn nhà trại: “Cả Tordis lẫn Isrid phải cẩn thận giữ cửa đóng và lỗ thoát khói đậy kín cho tới khi chúng tôi trở về, vì Kristin và cả đứa bé chưa chịu phép rửa đang nằm trong nôi.”

Tordis sợ đến nỗi không dám ở lại trên này với đứa con nhỏ, mà sau kỳ sinh nở bà vẫn chưa được vào nhà thờ — bà chỉ mong được xuống núi và ở lại trong làng ngay. Lavrans nói ông thấy như thế cũng phải; bà có thể cùng họ xuống núi vào tối hôm sau; ông nghĩ mình có thể đưa một bà goá lớn tuổi đang làm việc ở Jørundgaard lên thay bà.

Tordis đã trải cỏ núi tươi thơm dưới những tấm da trên ghế phản; mùi cỏ nồng nàn dễ chịu, và Kristin gần như thiếp đi trong lúc cha đọc kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng trên mình nàng.

“Phải lâu nữa cha mới lại đưa con vào núi,” Lavrans nói và vỗ nhẹ lên má nàng.

Kristin giật mình tỉnh hẳn:

“Cha — vậy mùa thu này con cũng không được theo cha xuống miền nam như cha đã hứa sao…”

“Chuyện ấy rồi chúng ta sẽ tính,” Lavrans nói, và ngay sau đó Kristin ngủ ngon lành giữa những tấm da cừu.