Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa — Chương 2: Tập I — Vòng hoa · Phần I — Jørundgaard · Chương II

Chương 2 / 23 · Bài review Kristin Lavransdatter I: Vòng hoa

Mỗi mùa hè, Lavrans Bjørgulfsøn thường cưỡi ngựa về phương nam một chuyến để thăm nom gia trang của ông ở Follo. Những chuyến đi ấy của cha giống như các mốc năm tháng trong đời Kristin – những tuần lễ chậm chạp khi ông vắng nhà, và niềm vui lớn lao lúc ông trở về, mang theo những món quà đẹp đẽ, vải vóc ngoại quốc cho rương đồ cưới của nàng, quả vả, nho khô và bánh mật từ Oslo – cùng bao nhiêu chuyện lạ để kể cho nàng nghe.

Nhưng năm ấy Kristin hiểu rằng chuyến đi của cha có điều gì khác thường. Chuyến đi cứ bị hoãn hết lần này đến lần khác; hai ông bà già ở Loptsgaard chốc chốc lại cưỡi ngựa tới, ngồi bên bàn với cha mẹ nàng, bàn chuyện thừa kế, quyền đất tổ truyền, quyền chuộc đất, những khó khăn khi phải trông coi gia trang từ nơi này, và chuyện tòa giám mục cùng vương trang ở Oslo đã thu hút quá nhiều nhân công khỏi việc đồng áng trong vùng. Họ hầu như chẳng có lúc nào chơi với nàng, mà sai nàng ra nhà bếp với các cô hầu. Cậu nàng, Trond Ivarsøn ở Sundbu, cũng lên thăm họ thường xuyên hơn trước – nhưng ông vốn chẳng bao giờ đùa giỡn hay âu yếm Kristin.

Dần dần nàng hiểu ra đôi chút đầu đuôi câu chuyện. Ngay từ khi đến Sil, cha nàng đã tìm cách gom đất đai trong vùng về tay mình, và giờ đây hiệp sĩ Andres Gudmundsøn đề nghị Lavrans đổi Formo, điền trang tổ truyền bên ngoại của ngài Andres, lấy Skog, vì Skog thuận tiện hơn cho ngài ấy, bởi ngài phục vụ trong đoàn tùy tùng của nhà vua và hiếm khi về thung lũng này. Lavrans không muốn rời bỏ Skog, vốn là đất tổ của ông – điền trang ấy đã vào tay dòng họ ông nhờ một ân ban của nhà vua; tuy vậy, cuộc trao đổi sẽ có lợi cho ông về nhiều mặt. Nhưng em trai Lavrans là Aasmund Bjørgulfsøn cũng muốn chuộc Skog về cho mình – hiện ông sống ở Hadeland và nhờ hôn nhân mà có một gia trang tại đó – nên chưa biết Aasmund có chịu từ bỏ quyền đất tổ của mình hay không.

Nhưng một hôm Lavrans bảo Ragnfrid rằng năm ấy ông muốn đưa Kristin cùng đến Skog – dẫu sao con bé cũng nên được nhìn thấy gia trang nơi nó chào đời và là quê cha đất tổ của ông, nếu nơi ấy sắp rời khỏi tay họ. Ragnfrid thấy đó là một mong muốn hợp lẽ, tuy bà hơi sợ phải để một đứa trẻ còn nhỏ như vậy đi một chặng đường dài, trong khi chính bà không thể đi cùng.

Trong thời gian đầu sau khi trông thấy nàng tiên, Kristin sợ hãi đến nỗi chỉ muốn ở trong nhà bên mẹ – nàng sợ cả việc nhìn thấy bất cứ ai đã cùng lên núi hôm ấy và biết chuyện gì đã xảy ra với nàng. Nàng mừng vì cha đã cấm mọi người nhắc đến cảnh tượng ấy.

Nhưng sau một thời gian, nàng lại cảm thấy mình muốn nói về chuyện đó. Trong lòng, nàng kể lại cho một người nào đó nghe – chính nàng cũng không biết là ai – và điều kỳ lạ là thời gian càng trôi qua, nàng càng thấy mình nhớ rõ hơn, hình ảnh vị phu nhân tuyệt sắc ấy càng lúc càng sáng tỏ –.

Nhưng lạ lùng nhất là mỗi khi nghĩ đến nàng tiên, Kristin lại thấy khao khát chuyến đi đến Skog biết bao, và nàng càng lúc càng sợ cha sẽ không cho nàng đi cùng.

Cuối cùng, một sáng nọ nàng thức dậy trên gác kho và thấy bà Gunhild già cùng mẹ ngồi trên bậc cửa xem xét những xấp da sóc của Lavrans. Gunhild là một góa phụ vẫn đi từ gia trang này sang gia trang khác, may lớp lót lông cho áo choàng và những thứ tương tự. Nghe họ trò chuyện, Kristin hiểu rằng lần này chính nàng sẽ có áo choàng mới, lót da sóc và viền lông chồn mactet. Bấy giờ nàng biết mình sẽ được đi cùng cha, liền bật dậy trên giường và reo lên vì sung sướng.

Mẹ bước lại bên nàng, vuốt má nàng:

“Con vui đến thế sao, con gái của mẹ, vì sắp được đi xa mẹ đến vậy?”

Ragnfrid lại nói câu ấy vào buổi sáng họ rời gia trang. Mọi người thức dậy từ lúc tinh mơ; bên ngoài trời còn tối, sương mù dày đặc giữa các nếp nhà khi Kristin thò đầu qua cửa nhìn thời tiết – sương cuộn như khói xám quanh những ngọn đèn và trước các cửa nhà đang mở. Người ta chạy đi chạy lại giữa chuồng ngựa và kho chứa; phụ nữ từ nhà bếp mang sang những nồi cháo bốc hơi cùng các máng gỗ đựng thịt luộc và thịt lợn muối – họ phải ăn thật nhiều thức ăn chắc bụng trước khi cưỡi ngựa lên đường trong cái lạnh ban mai.

Trong nhà, những túi da đựng hành lý cứ được tháo dây rồi buộc lại để bỏ thêm những món đồ bị quên. Ragnfrid nhắc chồng mọi việc ông phải thu xếp hộ bà, rồi nói đến bà con và người quen dọc đường – ông phải gửi lời thăm người này và đừng quên hỏi tin người kia.

Kristin chạy ra chạy vào, từ biệt mọi người trong nhà hết lần này đến lần khác, không sao đứng yên được ở đâu.

“Con vui đến thế sao, Kristin, vì sắp xa mẹ lâu đến vậy, lại đi xa đến vậy?” mẹ nàng hỏi. Kristin vừa buồn vừa cụt hứng, chỉ ước gì mẹ đừng nói câu ấy. Nhưng nàng đáp khéo hết sức mình:

“Không đâu, mẹ yêu quý của con, nhưng con vui vì được đi cùng cha.”

“Ừ, hẳn là con vui rồi,” Ragnfrid nói và thở dài. Rồi bà hôn con, sửa sang lại đôi chút y phục của cô bé.

– Và cuối cùng cả đoàn lữ hành cũng đã ngồi trên yên ngựa – Kristin cưỡi Morvin, trước kia từng là ngựa cưỡi của cha nàng; nó đã già, khôn ngoan và vững chân. Ragnfrid nâng chiếc cốc bạc đựng ngụm rượu bồi sức cuối cùng lên cho chồng, đặt một tay lên đầu gối con gái và dặn nàng phải nhớ mọi điều mẹ đã căn dặn.

Rồi họ rời gia trang trong ánh rạng đông xám nhạt. Sương mù phủ trắng thung lũng như sữa. Nhưng một lúc sau sương bắt đầu loãng đi, rồi ánh mặt trời thấm xuyên qua. Đẫm sương mai, những bãi cỏ xanh non sau vụ cắt, những cánh đồng gốc rạ nhợt màu, những hàng cây vàng úa và những cây thanh lương trà trĩu quả đỏ bóng dần hiện lên trong màn hơi trắng. Sườn núi thấp thoáng màu lam, vươn lên giữa sương và hơi nước – rồi màn sương rách toạc, trôi thành từng đám giữa các triền dốc, và họ cưỡi ngựa xuôi thung lũng dưới ánh nắng huy hoàng nhất, Kristin đi đầu đoàn bên cạnh cha.

Họ đến Hamar vào một buổi tối tối tăm đầy mưa, Kristin ngồi phía trước trên yên ngựa của cha, bởi nàng mệt đến nỗi mọi vật đều chao đảo trước mắt – mặt hồ sáng nhợt ở phía bên phải, những thân cây tối sẫm nhỏ nước xuống họ mỗi khi ngựa đi luồn bên dưới, và những cụm nhà đen sì như lông thú trên các cánh đồng ướt át, bạc màu dọc đường.

Nàng đã thôi đếm ngày – nàng cảm thấy như mình đã rong ruổi trên đường lâu vô tận. Họ ghé thăm họ hàng và bằng hữu dọc theo thung lũng; nàng làm quen với trẻ con ở những gia trang lớn, chơi đùa trong những gian nhà, kho lúa và sân trại xa lạ, và đã nhiều lần mặc bộ y phục đỏ có tay áo bằng lụa. Ban ngày, khi trời đẹp, họ nghỉ chân bên đường; Arne hái hạt dẻ cho nàng, và sau bữa ăn nàng được ngủ trên những túi da đựng quần áo của họ. Tại một gia trang, họ được nằm trên những chiếc gối bọc lụa, nhưng có một đêm họ ngủ trong quán trọ, và ở một chiếc giường khác có một người đàn bà nằm khóc khe khẽ, thảm thiết mỗi lần Kristin thức giấc. Song đêm nào nàng cũng ngủ yên sau tấm lưng rộng và ấm của cha.

Kristin giật mình tỉnh giấc – nàng không biết mình đang ở đâu, nhưng âm thanh ngân vang, dội ầm ầm kỳ lạ mà nàng nghe thấy trong mơ vẫn tiếp tục. Nàng nằm một mình trên giường, trong căn phòng có lửa cháy trên bếp lộ thiên.

Nàng gọi cha; ông đứng dậy khỏi chỗ ngồi bên bếp lửa và cùng một người đàn bà béo tốt bước đến bên nàng.

“Chúng ta đang ở đâu?” nàng hỏi, Lavrans cười đáp:

“Giờ chúng ta ở Hamar, còn đây là Margret, vợ của Fartein thợ giày – con phải chào bà ấy cho tử tế, vì lúc chúng ta đến đây con còn ngủ. Bây giờ Margret sẽ giúp con mặc quần áo.”

“Đã sáng rồi sao?” Kristin hỏi. “Con cứ tưởng bây giờ cha mới đi ngủ. Ôi, cha giúp con đi,” nàng nài nỉ, nhưng Lavrans nghiêm giọng bảo nàng nên cảm ơn Margret vì bà chịu giúp mình thì hơn. “Và hãy xem bà ấy có gì muốn tặng con kia!”

Đó là một đôi giày đỏ có dây lụa. Người đàn bà mỉm cười trước gương mặt hớn hở của Kristin, rồi ngay trên giường mặc áo lót và kéo bít tất cho nàng, để nàng khỏi phải đặt chân trần xuống nền đất nện.

“Cái gì kêu như thế vậy,” Kristin hỏi, “giống một quả chuông nhà thờ, nhưng lại có rất nhiều chuông?”

“Phải, chuông của chúng ta đấy,” Margret cười. “Con chưa từng nghe nói đến đại giáo đường trong thành này sao – bây giờ con sắp đến đó. Kia là chuông lớn đang ngân. Rồi chuông trong tu viện và Nhà thờ Thánh Giá cũng đang ngân nữa.”

Margret phết một lớp bơ dày lên bánh mì của nàng và cho mật ong vào sữa để chút thức ăn nàng nuốt được chắc bụng hơn – nàng hầu như chẳng có thì giờ ăn.

Bên ngoài trời vẫn tối và thời tiết đã chuyển sang giá rét. Sương mù lạnh đến buốt da. Dấu chân người, dấu chân gia súc và dấu móng ngựa cứng như đúc bằng sắt, khiến Kristin đau chân trong đôi giày mới mỏng manh; có lần nàng giẫm thủng lớp băng phủ trên rãnh nước giữa phố, làm chân vừa ướt vừa lạnh. Lavrans liền cõng nàng lên lưng.

Nàng căng mắt nhìn vào bóng tối, nhưng chẳng thấy được bao nhiêu cảnh thành phố – nàng chỉ thấp thoáng nhận ra những đầu hồi nhà và những thân cây đen sẫm trên nền trời xám. Rồi họ ra đến một bãi cỏ nhỏ sáng lên vì sương giá, và ở phía bên kia bãi cỏ, nàng trông thấy một công trình màu xám nhợt, lớn như một ngọn núi. Chung quanh là những tòa nhà đá lớn, đây đó ánh sáng lọt ra từ các ô cửa hẹp trên tường. Những quả chuông đã im một lúc nay lại bắt đầu ngân, và âm thanh mạnh đến nỗi khiến nàng thấy như có dòng băng lạnh chảy dọc sống lưng.

Khi bước vào tiền sảnh nhà thờ, Kristin cảm thấy như đang đi vào lòng núi; bóng tối và hơi lạnh ập vào họ. Họ đi qua một cánh cửa, mùi hương trầm và sáp nến cũ kỹ, lạnh lẽo ùa ra đón. Kristin đứng trong một không gian tối tăm, cao vòi vọi. Nàng không sao nhìn thấy tận cùng bóng tối ở phía trên cũng như hai bên, nhưng trên một bàn thờ xa tít phía trước có những ngọn nến đang cháy. Một linh mục đứng đó, tiếng ông vọng lại, len lỏi khắp gian nhà một cách kỳ lạ như những hơi thở và tiếng thì thầm. Cha nàng lấy nước thánh làm dấu thánh giá cho mình và cho con, rồi họ tiến về phía trước; mặc dù ông bước rất nhẹ, đinh thúc ngựa vẫn vang lanh lảnh trên nền đá. Họ đi qua những cây cột khổng lồ, và giữa các cột tựa như có những hang động đen như than mở ra.

Đến gần bàn thờ phía trước, cha nàng quỳ gối, Kristin cũng quỳ xuống bên ông. Mắt nàng bắt đầu phân biệt được các vật trong bóng tối – vàng bạc lấp lánh trên những bàn thờ giữa các hàng cột, còn ở bàn thờ ngay trước mặt họ, những ngọn nến cháy trên chân đèn mạ vàng tỏa sáng rực rỡ, các bình thánh và tấm trang trí bàn thờ lớn lộng lẫy phía sau cũng chói ngời. Kristin lại nghĩ đến lòng núi – nàng vẫn tưởng trong ấy hẳn phải nguy nga như thế này, nhưng có lẽ còn nhiều ánh sáng hơn nữa. Gương mặt thiếu nữ người lùn hiện lên trước mắt nàng – nhưng rồi nàng ngước lên và trông thấy chính Đức Kitô trên bức tường phía trên tấm trang trí, to lớn và nghiêm khắc, được nâng cao trên thập giá. Nàng sợ hãi – Người không hiền từ và đau buồn như ở ngôi nhà thờ gỗ nâu ấm cúng của họ tại quê nhà, nơi Người buông mình nặng nề trên đôi cánh tay, bàn chân và bàn tay bị xuyên thủng, đầu vấy máu cúi xuống dưới mão gai. Ở đây Người đứng trên một bệ đỡ chân, hai tay duỗi thẳng cứng đờ, đầu ngẩng cao; mái tóc óng ánh sắc vàng đội vương miện vàng, gương mặt cao ngạo và khắc nghiệt.

Bấy giờ nàng cố dõi theo lời vị linh mục khi ông đọc và hát, nhưng giọng ông quá líu nhíu và gấp gáp. Ở nhà, nàng đã quen nghe rõ từng lời, vì cha Eirik phát âm trong trẻo hơn bất cứ ai, và ông đã dạy nàng những lời thiêng liêng ấy có nghĩa gì trong tiếng Na Uy, để nàng có thể hướng lòng mình về Thiên Chúa trọn vẹn hơn khi ở trong nhà thờ.

Nhưng ở đây nàng không làm được, vì cứ chốc chốc nàng lại nhận ra một vật gì đó trong bóng tối. Trên cao nơi tường có những cửa sổ đang dần sáng hơn theo ánh ngày. Gần chỗ họ quỳ dựng một giàn gỗ kỳ lạ, phía sau chất những khối đá sáng màu, lại có máng cùng dụng cụ – giờ nàng nghe thấy người ta đi lại, bước chân khe khẽ trong ấy. Nhưng rồi mắt nàng lại rơi vào Đức Kitô, vị Chúa nghiêm khắc trên tường, và nàng cố giữ tâm trí chăm chú vào buổi lễ. Cái lạnh như băng từ nền đá làm đôi chân nàng cứng đờ lên tận hông, hai đầu gối đau nhức. Nhưng cuối cùng mọi vật bắt đầu trôi nổi xoay quanh nàng, nàng đã mệt đến thế.

Bấy giờ cha nàng đứng dậy; buổi lễ đã kết thúc. Vị linh mục bước đến chào cha nàng. Trong khi hai người trò chuyện, Kristin ngồi xuống một bậc đá, vì nàng thấy cậu bé giúp lễ cũng làm như vậy. Cậu ta ngáp – khiến nàng cũng ngáp theo. Thấy nàng nhìn mình, cậu ta lấy lưỡi đẩy phồng một bên má rồi trợn mắt nhăn nhó với nàng. Sau đó cậu moi từ dưới áo ra một chiếc túi, trút mọi thứ trong đó xuống nền đá – lưỡi câu, những cục chì, dây da và một đôi xúc xắc – trong lúc ấy vẫn không ngừng làm mặt xấu với nàng. Kristin kinh ngạc vô cùng.

Bấy giờ vị linh mục và cha nàng nhìn sang hai đứa trẻ. Vị linh mục cười, bảo cậu bé hãy về trường, còn Lavrans cau mày và nắm lấy tay Kristin.

Trong nhà thờ lúc này trời đã sáng hơn. Kristin ngái ngủ níu tay Lavrans trong khi ông và vị linh mục đi dưới giàn giáo gỗ, bàn về công trình xây dựng của giám mục Ingjald.

Họ đi khắp nhà thờ, cuối cùng trở ra tiền sảnh. Từ đó có một cầu thang đá dẫn lên tháp phía tây. Kristin mệt mỏi loạng choạng bước lên các bậc thang. Vị linh mục mở cửa một gian phòng nhỏ xinh đẹp, nhưng cha nàng bảo Kristin ngồi ngoài cầu thang chờ trong lúc ông vào xưng tội; sau đó nàng sẽ được vào hôn hòm thánh tích của Thánh Tomas.

Đúng lúc ấy, một tu sĩ già mặc áo dòng màu nâu tro từ căn phòng bước ra. Ông dừng lại giây lát, mỉm cười với đứa trẻ, rồi kéo ra mấy chiếc bao và những tấm vải len thô nhét trong một hốc tường. Ông trải chúng trên chiếu nghỉ cầu thang:

“Con ngồi đây đi, như thế sẽ đỡ rét hơn,” ông nói rồi bước xuống cầu thang bằng đôi chân trần.

Kristin đang ngủ thì cha Martein, tên của vị linh mục, bước ra lay nàng. Từ dưới nhà thờ vọng lên tiếng hát tuyệt diệu nhất, còn trong gian phòng, nến cháy trên bàn thờ. Vị linh mục ra hiệu cho nàng quỳ xuống bên cha, rồi lấy xuống một hòm nhỏ bằng vàng đặt phía trên bàn thờ. Ông thì thầm cho nàng biết bên trong có một mảnh y phục đẫm máu của Thánh Tomas thành Kanterborg, rồi chỉ vào hình vị thánh để Kristin áp môi hôn lên chân ngài.

Khi họ đi xuống, những thanh âm tuyệt diệu vẫn tuôn trào từ nhà thờ; cha Martein nói người chơi đại phong cầm đang tập đàn và các học trò đang hát; nhưng họ không có thì giờ đứng nghe, vì cha nàng đã đói; ông đã nhịn ăn để xưng tội. Bây giờ họ sẽ sang phòng khách trong tư dinh của các giáo sĩ kinh sĩ để dùng bữa.

Bên ngoài, nắng sớm nhuộm vàng những bờ dốc đứng phía bên kia hồ Mjøsa, khiến mọi lùm cây lá úa trông như bụi vàng giữa những cánh rừng xanh thẫm. Trên mặt hồ, những chùm bọt trắng nhỏ nhảy múa trên từng ngọn sóng. Gió thổi lạnh và trong lành, làm những chiếc lá loang đủ màu rơi lả tả xuống mặt đất phủ sương giá.

Một đoàn kỵ sĩ từ khoảng giữa dinh giám mục và nhà của các giáo sĩ kinh sĩ đi ra. Lavrans bước sang bên, đặt tay lên ngực cúi chào, chiếc mũ trong tay gần như quét sát mặt đất; bởi vậy Kristin hiểu rằng vị đại nhân mặc áo choàng lông thú kia hẳn chính là giám mục, và nàng nhún gối cúi mình gần sát đất.

Vị giám mục ghìm ngựa, đáp lễ, vẫy Lavrans lại gần rồi nói chuyện với ông một lúc. Một lát sau, Lavrans trở về chỗ vị linh mục và đứa trẻ, nói:

“Giờ tôi được mời dùng bữa tại dinh giám mục — ngài Martein có nghĩ rằng một gia nhân trong nhà chung có thể đưa cô con gái nhỏ của tôi về nhà Fartein thợ giày, và nhắn với người của tôi rằng Halvdan phải dắt Guldsveinen đến gặp tôi ở đây vào giờ kinh Chín không?”

Vị linh mục đáp rằng việc ấy hẳn thu xếp được. Bấy giờ người tu sĩ chân đất đã trò chuyện với Kristin trên cầu thang tháp bước tới chào:

“Bên nhà khách của chúng tôi có một người đằng nào cũng phải đến chỗ bác thợ giày; ông ta có thể chuyển lời tới đó, Lavrans Bjørgulfsøn, còn con gái ông có thể đi cùng ông ta hoặc ở lại tu viện cho tới khi chính ông lên đường về. Tôi sẽ liệu cho cháu được ăn bên ấy.”

Lavrans cảm ơn, nhưng nói: “Thật ngại vì thầy phải chịu phiền với đứa trẻ này, thầy Edvin —”

“Thầy Edvin lôi về bên mình hết thảy trẻ con nào thầy ấy tóm được,” ngài Martein cười nói. “Thế là thầy ấy có người để giảng đạo cho —”

“Vâng, tôi nào dám đem những bài giảng của mình ra mời các ngài học rộng ở Hamar nghe,” người tu sĩ mỉm cười, không chút phật ý. “Tôi chỉ đủ sức nói cho trẻ con và nông dân nghe thôi, nhưng cũng vì thế mà người ta không nên bịt mõm con bò đang đạp lúa.”

Kristin ngước nhìn cha van nài; cô thấy chẳng còn gì mình thích hơn là được đi cùng thầy Edvin. Lavrans cũng nhận lời cảm ơn, và trong khi cha cô cùng vị linh mục đi theo đoàn tùy tùng của giám mục, Kristin đặt tay mình vào tay người tu sĩ; hai người đi xuống phía tu viện, một cụm nhà gỗ quây quanh ngôi nhà thờ đá sáng màu nằm sát mép nước.

Thầy Edvin khẽ siết tay cô, và khi nhìn nhau, cả hai đều bật cười. Người tu sĩ cao và gầy, nhưng lưng còng hẳn; đứa trẻ thấy đầu ông giống đầu một con sếu già, vì nó nhỏ, với vòm sọ hẹp, nhẵn bóng bên trên một vành tóc trắng rậm rạp, lại đặt trên chiếc cổ dài, gầy guộc và nhăn nheo. Mũi ông cũng lớn và nhọn như mỏ chim. Nhưng chỉ cần ngước nhìn khuôn mặt dài hẹp, chằng chịt nếp nhăn ấy, cô đã thấy lòng nhẹ nhõm và vui vẻ. Đôi mắt già màu xanh nhạt viền đỏ, mí mắt nâu mỏng như màng; từ khóe mắt tỏa ra cả nghìn nếp nhăn, còn hai má héo với những đường gân đỏ li ti thì bị cắt ngang dọc bởi các nếp nhăn chạy xuống cái miệng nhỏ, môi mỏng; nhưng dường như thầy Edvin sở dĩ nhăn nheo đến thế chỉ vì đã mỉm cười với người đời quá nhiều. — Kristin chưa từng thấy ai có vẻ vui tươi và hiền hậu đến vậy; dường như ông mang trong mình một niềm vui sáng ngời mà kín giấu, và cô sẽ được biết niềm vui ấy là gì khi ông bắt đầu nói.

Họ đi dọc hàng rào của một vườn táo, nơi trên cây vẫn còn lác đác vài trái vàng, trái đỏ. Hai tu sĩ Dòng Giảng Thuyết mặc áo đen trắng đang cào gom những dây đậu khô trong vườn.

Tu viện không khác một gia trang nông dân là bao, và nhà khách nơi người tu sĩ dẫn Kristin vào cũng giống một túp nhà nghèo hơn cả, chỉ có điều bên trong kê rất nhiều giường. Trên một chiếc giường có một ông già đang nằm, còn bên bếp lửa, một người đàn bà ngồi quấn tã cho đứa bé sơ sinh; hai đứa lớn hơn, một trai một gái, đứng cạnh bà.

Cả người đàn ông lẫn người đàn bà đều than phiền vì vẫn chưa được ăn bữa sáng: “Nhưng họ chẳng buồn mang thức ăn vào cho chúng tôi hai lần, thành thử chúng tôi phải nhịn đói trong lúc thầy chạy quanh ngoài phố, thầy Edvin ạ!”

“Đừng giận nữa, Steinulv,” người tu sĩ nói. “Lại đây chào đi, Kristin — nhìn cô bé xinh đẹp, thanh tú này xem, hôm nay cô bé sẽ ở đây ăn cùng chúng ta.”

Ông kể rằng Steinulv đã ngã bệnh trên đường từ một cuộc hội họp trở về, và được phép nằm trong nhà khách của tu viện vì ông có một người bà con bên vợ đang ở nhà tế bần, mà bà ấy dữ dằn đến mức ông không thể ở đó cùng bà.

“Nhưng tôi biết họ sắp chán phải chứa tôi ở đây rồi,” người nông dân nói. “Khi thầy rời khỏi đây, thầy Edvin, chắc chẳng còn ai có thì giờ chăm sóc tôi, rồi họ lại tống tôi sang nhà tế bần thôi.”

“Ồ, ông sẽ khỏe lại từ lâu trước khi tôi làm xong công việc trong nhà thờ,” thầy Edvin nói. “Rồi con trai ông sẽ đến đón ông —” Ông nhấc một chiếc ấm đựng nước nóng trên bếp, để Kristin cầm trong khi mình chăm sóc Steinulv. Ông lão liền thấy dễ chịu hơn đôi chút, và ngay sau đó một tu sĩ mang thức ăn cùng đồ uống vào cho họ.

Thầy Edvin đọc lời chúc lành trên thức ăn rồi ngồi xuống mép giường bên Steinulv để có thể giúp ông ăn. Kristin bèn sang ngồi cạnh người đàn bà và đút cho đứa con trai của bà, vì nó nhỏ quá, khó lòng với tới đĩa cháo, mà mỗi lần nhúng vào bát bia lại làm đổ vãi. Người đàn bà quê ở Hadeland; bà cùng chồng con tới đây để thăm anh trai, một tu sĩ trong tu viện. Nhưng ông đang đi qua các làng mạc, và bà than phiền mãi vì họ phải nằm đây phí thì giờ.

Thầy Edvin dịu lời dỗ dành người đàn bà: bà không nên nói mình phí thì giờ khi đang ở Biskopshamar. Nơi đây có biết bao nhà thờ danh giá, các tu sĩ và giáo sĩ kinh sĩ cử hành thánh lễ, đọc hát các giờ kinh suốt ngày đêm — mà thành phố lại đẹp đến thế, còn đẹp hơn cả Oslo, tuy có nhỏ hơn đôi chút; ở đây gần như nhà nào cũng có vườn: “Chị mà thấy lúc tôi đến đây hồi xuân thì hay biết mấy, hoa trắng khắp cả thành phố. Rồi sau đó, khi táo gai nở —”

“Vâng, giờ thì chuyện ấy giúp gì được tôi,” người đàn bà chua chát nói. “Mà tôi thấy nơi đây thánh tích thì nhiều hơn sự thánh thiện —”

Người tu sĩ khẽ cười, lắc đầu. Rồi ông bới trong lớp rơm giường của mình, lấy ra một đống lớn táo và lê chia cho lũ trẻ. Kristin chưa bao giờ được nếm trái cây ngon đến thế. Mỗi lần cô cắn một miếng, nước quả lại chảy ra nơi khóe miệng.

Nhưng giờ thầy Edvin phải sang nhà thờ, và ông bảo Kristin có thể đi cùng. Họ băng chéo qua sân tu viện, rồi vào cung thánh qua một cánh cửa nhỏ bên hông.

Ngôi nhà thờ này cũng vẫn đang được xây dựng, nên tại chỗ giao nhau giữa gian chính và hai cánh ngang cũng dựng một giàn xà. Thầy Edvin kể rằng Giám mục Ingjald đang cho tu sửa và trang hoàng cung thánh — vị giám mục rất giàu, và dùng toàn bộ của cải để tô điểm những nhà thờ trong thành phố; ngài là một giám mục xuất chúng và một người tốt. Các tu sĩ Dòng Giảng Thuyết ở tu viện Olav cũng đều là những người tốt, thanh khiết, uyên bác và khiêm nhường; tu viện ấy nghèo, nhưng họ đã tiếp đón ông rất tử tế — thầy Edvin vốn thuộc tu viện Dòng Anh Em Hèn Mọn ở Oslo, song đã được phép đi hành giáo trong giáo phận Hamar.

“Nhưng giờ lại đây,” ông nói, dắt Kristin đến chân giàn xà, trèo lên một chiếc thang rồi sắp lại mấy tấm ván trên cao. Sau đó ông lại xuống, giúp đứa trẻ trèo lên cùng mình.

Trên bức tường đá xám phía trên đầu, Kristin thấy những mảng sáng lạ lùng chập chờn, đỏ như máu và vàng như bia, xanh lam, nâu và xanh lục. Cô định ngoảnh lại, nhưng người tu sĩ thì thầm: “Đừng quay lại.” Song khi hai người đã đứng bên nhau trên những tấm ván cao, ông nhẹ nhàng xoay cô lại, và Kristin nhìn thấy một cảnh tượng đẹp đến nỗi cô gần như nghẹt thở.

Ngay đối diện cô, trên bức tường phía nam của gian chính, có một bức hình tỏa sáng như thể được làm toàn bằng những viên đá quý lấp lánh. Những mảng sáng đủ màu trên tường là do các tia sáng từ đó chiếu ra; chính cô và người tu sĩ đang đứng giữa quầng rực rỡ ấy; hai bàn tay cô đỏ như vừa nhúng vào rượu vang, khuôn mặt người tu sĩ tưởng chừng dát vàng, và từ chiếc áo dòng sẫm màu của ông, các sắc màu trong bức hình ánh trở lại mờ tối. Cô nhìn ông dò hỏi, nhưng ông chỉ gật đầu mỉm cười.

Cảm giác ấy giống như đứng từ xa mà nhìn vào thiên đàng. Sau một mạng lưới những đường đen, cô dần dần nhận ra chính Chúa Kitô trong tấm áo choàng đỏ quý giá nhất, Đức Trinh Nữ Maria trong y phục xanh như bầu trời, các thánh nam và thánh nữ mặc những xiêm áo vàng, xanh lục và tím biếc rực rỡ. Họ đứng dưới những vòm và cột của các kiến trúc sáng ngời, cành cây cùng nhánh nhỏ quấn quyện với những tán lá lạ lùng, sắc nét —

Người tu sĩ kéo cô ra xa hơn một chút trên giàn ván:

“Đứng đây,” ông thì thầm, “ánh sáng từ chính áo choàng của Chúa Kitô sẽ chiếu thẳng lên người con.”

Từ gian nhà thờ phía dưới dâng lên chỗ họ một làn hương trầm nhè nhẹ cùng mùi đá lạnh. Bên dưới tối mờ, nhưng những tia nắng xiên qua một dãy ô cửa trên bức tường phía nam của gian chính. Kristin bắt đầu hiểu rằng bức hình thiên đàng kia hẳn là một loại kính cửa sổ, bởi nó lấp đầy một ô cửa như thế. Những ô khác còn để trống hoặc được bịt bằng các tấm sừng ghép trong khung gỗ. Một con chim bay tới đậu trên bậu cửa, ríu rít mấy tiếng rồi bay đi; bên ngoài tường cung thánh vọng vào tiếng kim loại nện lên đá. Ngoài ra mọi vật đều im lặng; chỉ có gió từng cơn nhẹ lùa vào, khẽ thở dài giữa những bức tường nhà thờ rồi lặng xuống.

“Chà,” thầy Edvin nói và thở dài. “Những thứ thế này không ai ở xứ ta làm nổi — ở Nidaros người ta quả có vẽ trên kính, nhưng không thể được như thế này —. Còn dưới những xứ phương nam, Kristin ạ, trong các đại giáo đường, họ có những ô kính vẽ hình lớn bằng cả cổng nhà thờ này —”

Kristin nghĩ đến những bức hình trong nhà thờ quê nhà. Ở đó có bàn thờ Thánh Olav và bàn thờ Thánh Thomas thành Canterbury, với những tấm tranh trên mặt bệ và các khám thờ phía sau — nhưng giờ đây, khi nhớ lại, cô thấy những bức hình ấy nhợt nhạt, không chút rực rỡ.

Họ trèo xuống thang rồi đi lên cung thánh. Bàn thờ trơ trọi, không phủ gì, và trên mặt đá bày những hộp nhỏ cùng những chiếc chén bằng kim loại, gỗ và đất nung; những con dao nhỏ kỳ lạ, các dụng cụ bằng sắt, bút và cọ nằm rải rác. Bấy giờ thầy Edvin nói đó là đồ nghề của ông; nghề của ông là vẽ tranh và chạm khắc khám thờ, còn những tấm tranh tinh xảo dựng bên dãy ghế trong cung thánh kia chính là do ông làm. Chúng sẽ được đặt trên mặt trước các bệ thờ trong nhà thờ của Dòng Giảng Thuyết.

Kristin được xem ông pha những thứ bột màu rồi khuấy chúng trong các chén nhỏ bằng đồ sành, và cô được giúp ông mang các vật dụng sang một chiếc ghế đẩu cạnh tường. Trong khi người tu sĩ đi từ tấm tranh này sang tấm tranh khác, vạch những đường đỏ mảnh trên mái tóc sáng màu của các thánh nam và thánh nữ, để người ta nhìn ra từng lọn tóc uốn và quăn thế nào, Kristin cứ bám sát gót ông, vừa nhìn vừa hỏi, còn ông giải thích cho cô nghe mình đã khắc họa những gì.

Trên một tấm tranh, Chúa Kitô ngồi trên ngai vàng, còn Thánh Nikolaus và Thánh Klemens đứng bên Người dưới một mái che. Hai bên là những cảnh trong cuộc đời Thánh Nikolaus. Ở một cảnh, ngài còn là đứa trẻ quấn tã ngồi trên lòng mẹ; ngài quay mặt khỏi bầu vú bà đưa cho mình, bởi ngay từ trong nôi ngài đã thánh thiện đến mức vào các ngày thứ Sáu chỉ chịu bú một lần. Bên cạnh là hình ngài đặt những túi tiền trước cửa ngôi nhà có ba thiếu nữ nghèo đến nỗi không thể lấy được chồng. Cô thấy ngài chữa lành cho con của một hiệp sĩ La Mã, và thấy người hiệp sĩ đi thuyền, tay cầm chiếc chén thánh giả bằng vàng. Ông đã hứa dâng cho vị giám mục thánh thiện một chiếc chén vàng lưu truyền trong dòng họ mình suốt một nghìn năm để báo đáp việc ngài cứu con ông khỏi bệnh. Nhưng sau đó ông muốn lừa Thánh Nikolaus, đem dâng một chiếc chén vàng giả; bởi vậy cậu bé rơi xuống biển, tay cầm chiếc chén vàng thật. Song Thánh Nikolaus đã đưa đứa trẻ đi dưới nước mà không hề hấn gì, và cậu lên tới bờ đúng lúc người cha đang đứng trong nhà thờ Thánh Nikolaus dâng chiếc chén giả. Tất cả được vẽ trên tấm tranh bằng vàng và những màu sắc đẹp đẽ nhất.

Trên một tấm tranh khác, Đức Trinh Nữ Maria ngồi với Chúa Hài Đồng trên đầu gối; Người đưa một tay nâng cằm mẹ, tay kia cầm một quả táo. Đứng cạnh hai mẹ con là Thánh Sunniva và Thánh Kristina. Hai vị uốn người duyên dáng nơi hông, gương mặt hồng hào trắng trẻo, tóc vàng và đội vương miện vàng.

Thầy Edvin dùng tay trái giữ cổ tay phải của mình, vẽ lá và hoa hồng trên những chiếc vương miện.

“Con thấy con rồng nhỏ quá,” Kristin nói, nhìn hình vị thánh bổn mạng của mình. “Trông nó chẳng thể nào nuốt nổi cô gái.”

“Quả thật nó cũng không thể,” thầy Edvin nói. “Nó vốn chẳng lớn hơn thế. Rồng và mọi thứ tương tự phụng sự ma quỷ chỉ có vẻ lớn lao chừng nào nỗi sợ còn ở trong chính chúng ta. Nhưng nếu một người hết lòng mãnh liệt tìm kiếm Thiên Chúa đến mức chạm được vào quyền năng của Người, thì quyền lực của ma quỷ lập tức suy sụp đến nỗi những công cụ của nó trở nên nhỏ bé và bất lực — rồng cùng tà linh co lại, chẳng lớn hơn quỷ lùn, mèo và quạ. Con thấy đấy, cả ngọn núi nơi Thánh Sunniva ẩn mình cũng không lớn hơn vật bà có thể ôm trong vạt áo choàng.”

“Nhưng chẳng phải họ đã ở trong hang sao?” Kristin hỏi. “Thánh Sunniva và những người Selje ấy. Chuyện đó không có thật ư?”

Người tu sĩ nheo mắt nhìn cô rồi lại mỉm cười:

“Chuyện ấy vừa thật vừa không thật. Những người tìm thấy các thánh thể đã thấy sự việc như thế. Và cũng thật là Sunniva cùng những người Selje đã thấy như thế, bởi họ khiêm nhường và chỉ nghĩ rằng thế gian mạnh hơn mọi con người tội lỗi; họ không hề nghĩ chính mình mạnh hơn thế gian vì họ không yêu nó. Nhưng nếu họ tự biết điều ấy, họ đã có thể nhấc tất cả núi non mà ném xuống biển như những hòn sỏi. Không ai và không gì có thể làm hại chúng ta, con ạ, ngoài những gì chúng ta sợ hãi và yêu mến.”

“Nhưng nếu một người không kính sợ và yêu mến Thiên Chúa thì sao?” Kristin kinh hãi hỏi.

Người tu sĩ ôm lấy mái tóc vàng của cô, nhẹ nhàng ngửa mặt Kristin ra sau rồi cúi nhìn gương mặt cô; đôi mắt ông mở rộng và xanh biếc.

“Không có người nào, Kristin ạ, lại không yêu mến và kính sợ Thiên Chúa; nhưng vì lòng chúng ta bị chia cắt giữa tình yêu dành cho Thiên Chúa, nỗi sợ ma quỷ và tình yêu dành cho thế gian cùng xác thịt, nên chúng ta mới khốn khổ cả khi sống lẫn lúc chết. Bởi nếu một người hoàn toàn không cảm thấy chút khát vọng nào hướng về Thiên Chúa và bản thể của Người, thì kẻ ấy sẽ thấy dễ chịu trong Hỏa ngục, và chỉ có chúng ta là không hiểu rằng ở đó hắn được đúng những gì lòng hắn ưa thích. Khi ấy lửa sẽ không thiêu đốt hắn nếu hắn không khát khao sự mát lành, và hắn sẽ không thấy đau đớn vì giun sâu cắn xé nếu hắn không khao khát bình an.”

Kristin ngước nhìn mặt ông; cô không hiểu chút gì. Thầy Edvin nói tiếp:

“Lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta chính là ở chỗ Người thấy lòng chúng ta bị xé đôi, nên đã xuống thế, sống giữa chúng ta, để trong xác thịt nếm trải sự cám dỗ của ma quỷ khi nó dùng quyền lực và vinh quang quyến rũ ta, cùng sự đe dọa của thế gian khi nó giáng cho ta đòn roi, nhục mạ và những vết đinh sắc xuyên qua tay chân. Bằng cách ấy, Người chỉ cho chúng ta con đường và cho chúng ta thấy tình yêu của Người —”

Ông nhìn xuống gương mặt đứa trẻ đang cứng lại vì nghiêm trang — rồi khẽ cười và nói bằng một giọng hoàn toàn khác:

“Con có biết kẻ nào đầu tiên nhận ra Chúa chúng ta đã giáng sinh không? Chính là con gà trống; nó nhìn thấy ngôi sao rồi nói — thời ấy mọi loài vật đều biết nói tiếng Latinh. Thế là nó cất tiếng gáy: Christus natus est!”

Tiếng cuối cùng ông gáy giống hệt một con gà trống, khiến Kristin phá lên cười. Và được cười thật dễ chịu biết bao, bởi tất cả những điều kỳ lạ thầy Edvin vừa nói đã phủ lên nàng một sức nặng trang nghiêm.

Vị tu sĩ cũng cười:

«Phải. Thế rồi khi bò đực nghe thấy vậy, nó bắt đầu rống: “Ubi, ubi, ubi?”

Nhưng dê be lên mà nói: “Betlem, Betlem, Betlem.”

Còn cừu thì khát khao được thấy Đức Mẹ và Con của Người đến nỗi lập tức kêu: “Eamus, eamus!”

Và con bê mới sinh đang nằm trong rơm liền đứng dậy trên bốn chân. “Volo, volo, volo!” nó nói.

Chắc con chưa từng nghe chuyện này bao giờ? Không, ta cũng đoán thế; ta biết cha Eirik trên chỗ các con là một linh mục giỏi và uyên bác, nhưng chắc ngài ấy không biết điều này đâu, bởi người ta chỉ học được nó khi sang tận Paris —»

«Vậy thầy đã từng đến Paris ư?» đứa trẻ hỏi.

«Chúa ban phúc cho con, Kristin bé nhỏ, ta đã từng đến Paris, lại còn đi nhiều nơi khác trên thế gian nữa; và con chớ tưởng ta không sợ ma quỷ, không yêu và khao khát như một kẻ dại. Nhưng ta bám lấy thập giá hết sức mình — người ta phải níu vào đó như mèo con níu một tấm ván khi rơi xuống nước —.

Còn con thì sao, Kristin — con có thích dâng mái tóc đẹp này và phụng sự Đức Mẹ như những nàng dâu ta đã vẽ ở đây không?»

«Ở nhà cha mẹ không có đứa con nào khác ngoài con,» Kristin đáp. «Vậy chắc rồi con sẽ phải lấy chồng. Có lẽ mẹ đã sửa soạn cả rương lớn lẫn hòm nhỏ đựng của hồi môn cho con rồi.»

«Không, không,» thầy Edvin nói và vuốt trán nàng. «Thời nay người ta định đoạt con cái mình như thế đấy. Họ dâng cho Chúa những đứa con gái què quặt, mắt kém, xấu xí và tật nguyền, hoặc trả lại Người những đứa con mà họ cho rằng Người đã ban quá nhiều. Thế mà họ còn lấy làm lạ vì sao những người sống trong tu viện lại chẳng phải ai cũng là bậc thánh thiện hay trinh nữ thánh khiết —»

Thầy Edvin đưa nàng vào phòng áo lễ và cho nàng xem những cuốn sách của tu viện đặt trên một cái giá; trong đó có những bức hình đẹp tuyệt trần. Nhưng khi một tu sĩ bước vào, ông nói mình chỉ đang tìm một cái đầu lừa để nhìn mà vẽ theo. Sau đó ông lắc đầu về chính mình:

«Đấy, con thấy nỗi sợ rồi chứ, Kristin — nhưng người trong nhà này giữ sách kỹ quá. Nếu ta có được đức tin và tình yêu chân chính, ta đã không đứng đây mà nói dối thầy Aasulv như vậy. — Nhưng khi ấy ta cũng có thể lấy đôi găng da cũ này treo lên tia nắng kia —»

Nàng theo vị tu sĩ sang nhà khách và được ăn một bữa, còn ngoài ra nàng ngồi trong nhà thờ suốt ngày, xem ông làm việc và trò chuyện với ông. Mãi đến khi Lavrans tới đón nàng, nàng hoặc vị tu sĩ mới nhớ ra lời nhắn đáng lẽ phải gửi cho người thợ đóng giày.

Về sau, Kristin nhớ những ngày ở Hamar rõ hơn tất cả mọi chuyện khác xảy đến với nàng trong chuyến đi dài ấy. Oslo quả là một thành phố lớn hơn Hamar, nhưng giờ nàng đã được thấy một thị trấn buôn bán rồi, nên nơi ấy không còn khiến nàng thấy lạ lùng đến thế. Nàng cũng không thấy Skog đẹp bằng Jørundgaard, tuy nhà cửa ở đó sang trọng hơn — nhưng nàng mừng vì mình sẽ không phải sống tại đó. Gia trang nằm trên một ngọn đồi, bên dưới là Botnfjorden, xám xịt và buồn bã, với rừng đen trên bờ bên kia; sau những ngôi nhà, rừng vươn lên, bầu trời như sà xuống tận ngọn cây. Ở đó không có những sườn núi cao và dốc đứng như quê nhà, để nâng bầu trời lên cao trên đầu người, che chở và khép tầm mắt lại, khiến thế gian chẳng quá rộng mà cũng chẳng quá hẹp.

Chuyến trở về rất lạnh; đã gần tới Mùa Vọng, nhưng khi họ đi ngược lên thung lũng được một quãng thì đã có tuyết phủ; vì thế họ mượn được xe trượt tuyết và đi xe gần suốt chặng đường.

Việc chuyển nhượng gia trang được thu xếp như sau: Lavrans giao Skog cho em trai mình là Aasmund, nhưng giữ quyền chuộc lại cho bản thân và con cháu.