Kristin Lavransdatter III: Thập giá — Chương 21: Tập III — Thập giá · Phần III — Thập giá · Chương VII

Chương 21 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter III: Thập giá

Mấy ngày sau, Kristin cùng vài nữ tu và các chị em trợ sĩ vào rừng thông cạo rêu để nhuộm màu xanh. Thứ rêu này khá hiếm, thường mọc trên những thân cây bị gió quật đổ và các cành khô. Chẳng bao lâu, những người đàn bà tản ra trong rừng và khuất mắt nhau giữa sương mù.

Thứ thời tiết kỳ lạ ấy đã kéo dài mấy ngày rồi — trời lặng gió, sương mù dày đặc, mỗi khi thỉnh thoảng hơi tan đi đủ để nhìn được một quãng ra ngoài xóm làng, nó lại ánh lên một màu xanh chì quái dị trên mặt biển và về phía núi. Có lúc sương đặc lại thành mưa bụi, có lúc sáng lên đến nỗi một đốm trắng nhợt hiện ra, chỉ nơi mặt trời đứng giữa những khối sương chồng chất. Nhưng lúc nào cũng là một thứ hơi nóng nặng nề như trong nhà tắm, thật khác thường ở vùng sát vịnh này, lại ngay vào thời tiết này trong năm — chỉ còn hai ngày nữa là đến lễ Sinh nhật Đức Mẹ — bởi vậy ai nấy đều bàn tán về thời tiết và tự hỏi nó báo điềm gì.

Kristin đổ mồ hôi trong hơi nóng ẩm ướt, tù đọng, còn ý nghĩ về điều nàng đã nghe Naakkve nói cứ đè nặng trên ngực. Nàng đã xuống đến bìa rừng, chỗ cổng hàng rào bên con đường từ bờ biển đi lên, và trong lúc đứng đó cạo rêu khỏi hàng rào, nàng thấy cha Eiliv cưỡi ngựa trở về giữa sương mù. Ông ghìm ngựa, nói mấy câu về thời tiết, rồi hai người chuyện trò. Bấy giờ nàng hỏi vị linh mục xem ông có biết gì về chuyện của Naakkve không — tuy nàng biết hỏi cũng vô ích; cha Eiliv bao giờ cũng làm như mình không hay biết gì về những việc nội bộ trong tu viện Tautra.

“Cha không nghĩ con cần phải sợ, Kristin; mùa đông này nó sẽ không ra đây vì chuyện ấy đâu,” vị linh mục nói. “Đó là điều con lo sợ, phải không?”

“Không chỉ có thế, thưa cha Eiliv. Con sợ Naakkve vốn không phải người có căn tu.”

“Con cho rằng mình đủ sức phán đoán những việc ấy sao?” vị linh mục hỏi, đôi mày cau lại. Rồi ông xuống ngựa, buộc nó vào cổng rào và cúi người qua hàng rào, trong khi nhìn người đàn bà chăm chú, dò xét. Kristin nói:

“Con sợ Naakkve thấy việc cúi mình dưới giới luật của dòng tu là quá nặng nề — mà khi vào tu nó còn quá trẻ, không biết mình từ bỏ những gì, cũng chưa hiểu chính lòng mình. Nhưng tất cả những việc xảy ra trong thời nó lớn lên — mất phần gia sản của cha, rồi cảnh bất hòa nó chứng kiến giữa cha mẹ, kết thúc bằng cái chết của Erlend — đã khiến nó mất lòng ham sống giữa thế gian. Nhưng con chưa bao giờ nhận thấy vì thế mà nó trở nên mộ đạo hơn —”

“Con không nhận thấy sao? — Việc cúi mình dưới giới luật có lẽ cũng nặng nề đối với Nikulaus như đối với biết bao tu sĩ tốt lành khác; nó tính nóng, lại còn là một người trẻ — có lẽ quá trẻ để hiểu, trước khi quay lưng với thế gian, rằng thế gian là một người thầy nghiêm khắc chẳng kém bất kỳ ông chủ nào, mà đến cuối cùng còn là một ông chủ không chút xót thương. Về điều ấy, cha nghĩ chính con cũng có thể phán đoán được, chị em ạ —.

Và nếu quả thật Naakkve vào tu viện vì em trai mình nhiều hơn vì tình yêu đối với Đấng Tạo hóa — thì cha vẫn không tin Thiên Chúa sẽ để việc nó vác thập giá vì em trai mình không được báo đáp. Đức Mẹ Maria, người mà cha biết Naakkve đã tôn kính và yêu mến từ thuở còn là một đứa trẻ, ắt một ngày kia sẽ cho nó thấy rõ rằng Con của Người đã đến cõi đời này để làm anh em của nó và vác thập giá thay nó —.

— Không —” con ngựa dụi mõm vào ngực vị linh mục; ông vuốt ve nó và nói, gần như chỉ với chính mình: “Ngay từ thuở nhỏ, Nikulaus của cha đã có một khả năng khác thường để yêu thương và chịu đau khổ — cha nghĩ nó hoàn toàn có thể trở thành một tu sĩ tốt.”

“Còn con, Kristin,” ông nói và quay lại phía người đàn bà, “đến nay con hẳn đã chứng kiến đủ nhiều, theo cha nghĩ, để có thể phó thác mình cho Thiên Chúa toàn năng với lòng vững tin hơn. Con vẫn chưa hiểu rằng Người nâng đỡ mọi linh hồn, chừng nào linh hồn ấy chưa buông tay Người sao? Con vẫn còn là một đứa trẻ ngay giữa tuổi già, hỡi người đàn bà kia; con tưởng Thiên Chúa trừng phạt tội lỗi khi con phải gặt lấy buồn đau và nhục nhã vì đã chạy theo dục vọng cùng lòng kiêu ngạo của mình trên những con đường Người cấm con cái Người đặt chân lên sao? Con có gọi đó là _chính con_ trừng phạt các con mình không, nếu chúng bị bỏng tay vì thò tay vào nồi nước sôi mà con đã cấm chúng đến gần, hay nếu lớp băng trơn vỡ dưới chân chúng khi chúng bước ra nơi con đã nghiêm cấm? Con vẫn chưa hiểu sao: mỗi khi lớp băng mỏng manh vỡ dưới chân con, con bị kéo chìm xuống bởi chính con đã buông tay Thiên Chúa; và mỗi khi con kêu cầu Người, con lại được cứu khỏi vực sâu. Tình yêu bằng xương thịt đã ràng buộc con với cha mình, ngay cả khi con chống lại ông và lấy ý riêng đối chọi với ý ông, chẳng phải vẫn là niềm an ủi và xoa dịu khi con phải gặt lấy hoa trái của sự bất tuân đối với ông sao?

Con vẫn chưa hiểu sao, chị em, rằng Thiên Chúa đã giúp con mỗi lần con cầu xin, dù con chỉ cầu bằng nửa tấm lòng và gần như giả vờ, và Người còn ban cho con nhiều hơn điều con cầu xin. Con yêu Thiên Chúa như con yêu cha mình, không yêu Người bằng yêu ý riêng của con, nhưng vẫn yêu đến nỗi mỗi khi lìa khỏi Người, hẳn lòng con bao giờ cũng đau buồn — và rồi con được ban ân sủng để giữa những điều dữ con phải gặt từ hạt giống của ý chí ngang ngạnh ấy, vẫn có điều lành nảy mọc —.

Các con trai của con — Người đã đón hai đứa về với Người khi chúng còn là những hài nhi vô tội; con không bao giờ cần lo sợ cho chúng. Những đứa còn lại đều nên người tốt đẹp — dù chúng không nên người đúng như _con_ mong muốn. Hẳn Lavrans cũng từng nghĩ về con như thế —.

Còn chồng con, Kristin — xin Thiên Chúa thương xót linh hồn anh ta — cha biết từ sớm đến khuya, trong lòng con vẫn trách anh ta vì sự khờ dại liều lĩnh. Theo cha, một người đàn bà kiêu hãnh hẳn sẽ còn đau đớn hơn nhiều khi nhớ rằng Erlend Nikulaussøn đã dẫn mình đi qua nhục nhã, dối trá và tội máu, nếu _một lần_ con từng thấy người đàn ông ấy có thể hành động từ những tính toán lạnh lùng. Và cha tin rằng con giữ được Erlend gắn bó với mình suốt thời gian cả hai còn sống, phần nhiều cũng bởi con thủy chung trong giận dữ và cứng rắn chẳng kém gì trong tình yêu — với anh ta, mọi thứ hễ khuất mắt là lìa khỏi lòng, trừ con. Xin Thiên Chúa cứu giúp Erlend; cha sợ anh ta chưa bao giờ đủ sáng suốt để biết thật lòng ăn năn về những tội lỗi của mình — nhưng những gì chồng con đã phạm đối với con thì anh ta quả có hối hận và đau buồn. Chúng ta có thể tin rằng sau khi chết, Erlend đã nhờ được ít nhiều vào bài học ấy.”

Kristin đứng yên lặng, cha Eiliv cũng không nói thêm. Ông tháo dây cương, chúc: “Bình an ở cùng con,” rồi lên ngựa đi khỏi.

Một lúc sau, khi nàng trở lên tu viện, sơ Ingrid gặp nàng ở cổng và báo rằng một người con trai của nàng đã đến thăm — anh tự xưng là Skule; hiện đang ở phòng tiếp khách.

Anh đang ngồi trò chuyện với những người chèo thuyền của mình — vừa thấy mẹ hiện ra ở cửa liền bật dậy. Ôi, nàng nhận ra người nhà mình ngay trong cử động mau lẹ ấy — cái đầu nhỏ ngẩng cao trên đôi vai rộng, vóc người thon thả với chân tay dài. Mặt rạng rỡ, nàng bước về phía anh — nhưng bỗng khựng lại, hít mạnh một hơi khi nhìn thấy khuôn mặt con — ôi, kẻ nào đã làm thế này với đứa con trai đẹp đẽ của nàng —!

Môi trên của anh trông như đã bị nghiền bẹt ra — hẳn một cú đánh đã giập nát nó, rồi khi liền lại, nó trở nên bè, xệ và biến dạng, chằng chịt những vệt mô sẹo trắng bóng; vì thế miệng anh bị kéo lệch, khiến lúc nào trông anh cũng như đang hơi nhếch mép giễu cợt — còn sống mũi từng bị gãy và đã liền lại xiên lệch. Khi nói anh hơi ngọng — thiếu một chiếc răng cửa, chiếc bên cạnh thì đã chết, xanh đen.

Skule đỏ mặt dưới ánh nhìn của mẹ: “Con nghĩ mẹ không nhận ra con?” Anh cười khẽ, đưa một ngón tay vuốt qua môi — không nhất thiết là anh đang chỉ vào thương tật của mình, cử chỉ ấy hoàn toàn có thể được xem là tình cờ.

“Mẹ con ta đâu đã xa nhau lâu đến mức mẹ không còn nhận ra con mình,” Kristin bình thản đáp, mỉm cười như không có gì.

Hai ngày trước, Skule Erlendssøn đã đến trên một chiếc thuyền vận tải nhẹ từ Bjørgvin, mang thư của Bjarne Erlingssøn gửi cho tổng giám mục và quan quản khố ở Nidaros. Về sau trong ngày, hai mẹ con đi dạo dưới những cây tần bì trong vườn, và lúc này, khi chỉ còn riêng hai người, anh kể cho mẹ nghe tin tức về các anh em mình:

Lavrans vẫn còn ở Iceland. — Người mẹ thậm chí còn không biết chàng đã đi đến đó. Vâng, Skule nói, mùa đông năm ngoái anh đã gặp người em út ở Oslo trong kỳ hội họp của các lãnh chúa; cậu đi cùng Jammælt Halvardssøn. Nhưng từ trước đến nay cậu trai ấy vẫn luôn khao khát được đi xa, nhìn ngắm thế giới, cho nên đã nhận phục vụ giám mục Skaalholt rồi vượt biển ra đi —.

“Còn chính con đã theo ngài Bjarne vào Thụy Điển, rồi tham gia cuộc chinh chiến sang Rus.” Người mẹ lặng lẽ lắc đầu — _điều ấy_ nàng cũng không biết! Skule cười, nói rằng anh rất thích chuyến đi — cuối cùng anh đã được chào hỏi những người bạn cũ mà cha mình từng nhắc đến nhiều đến thế — người Karelia, người Ingria, người Rus. Không, vết thương danh dự đẹp đẽ kia không phải giành được trong chiến trận — anh cười khẽ — phải, đó là một cuộc ẩu đả; còn gã đã cho anh vết thương ấy thì từ nay chẳng bao giờ còn phải xin ai miếng ăn nữa. Ngoài ra, rõ ràng Skule không muốn kể thêm về chuyện đó hay về cuộc chinh chiến. Giờ anh là đội trưởng kỵ binh của ngài Bjarne ở Bjørgvin, và vị hiệp sĩ đã hứa sẽ thu hồi cho anh mấy điền trang mà cha anh từng sở hữu tại Orkladal, nay thuộc về vương quyền — nhưng Kristin thấy đôi mắt lớn màu xám thép của Skule tối lại một cách lạ lùng ngay khi anh nói điều ấy.

“Ý con là một lời hứa như thế không đáng tin lắm sao?” người mẹ hỏi.

“Không, không,” Skule lắc đầu. “Văn thư đang được lập trong những ngày này. Ngài Bjarne đã giữ trọn mọi điều ngài hứa khi con nhận phục vụ dưới quyền ngài — ngài gọi con là bà con và bằng hữu. Trong gia trang của ngài, địa vị của con gần giống như Ulf từng có ở nhà ta” — anh cười; nụ cười không hợp với khuôn mặt đã bị tàn phá ấy.

Nhưng xét về vóc dáng, khi nay đã trưởng thành trọn vẹn, anh là người đàn ông đẹp đẽ nhất — anh mặc một bộ y phục cắt theo kiểu mới, với quần bó sát và một chiếc áo chẽn hẹp ngắn chỉ dài đến giữa đùi, cài những khuy đồng nhỏ suốt dọc thân trước; bộ đồ phô bày sức mạnh mềm dẻo của cơ thể anh một cách gần như trơ trẽn, thiếu đứng đắn. Trông nó cứ như đang mặc đồ lót, người mẹ nghĩ. Nhưng vầng trán và đôi mắt đẹp của anh vẫn không đổi.

“Trông con như đang có điều gì đè nặng trong lòng, Skule,” người mẹ dè dặt nói.

“Không, không, không.” Chỉ tại thời tiết thôi, anh nói và rùng mình. Trong sương mù có một quầng đỏ nâu kỳ lạ do mặt trời vô hình đang lặn xuống. Ngôi nhà thờ trên những vòm cây trong vườn hiện ra kỳ dị, tối đen và nhòe nhoẹt trong làn sương đỏ màu gan. Họ đã phải chèo suốt chiều dài vịnh vì trời không một ngọn gió, Skule nói. Rồi anh lại cựa mình chỉnh y phục và kể thêm về các anh em.

Mùa xuân năm nay, anh đã có chuyến đi xuống miền nam vì công việc của ngài Bjarne, nên có thể mang về tin tức mới từ Ivar và Gaute, bởi anh đã cưỡi ngựa ngược xuyên qua xứ, rồi từ Vaagaa vượt núi trở về miền tây. Ivar sống sung túc; ở Rognheim họ đã có hai con trai nhỏ, Erlend và Gamal, đều là những đứa trẻ đẹp đẽ. “Nhưng khi con đến Jørundgaard thì vừa đúng tiệc mừng đứa trẻ chào đời — và Jofrid cùng Gaute cho rằng, vì nay mẹ đã chết đối với cõi đời rồi, họ có thể lấy tên mẹ đặt cho cô con gái nhỏ; Jofrid rất hãnh diện vì mẹ là mẹ chồng của nàng — phải, mẹ cứ cười đi, nhưng giờ hai người không còn phải sống chung dưới một mái nhà nữa, mẹ có thể tin rằng Jofrid đã hiểu nói ‘mẹ chồng tôi, Kristin Lavransdatter’ nghe đẹp đẽ biết bao. Còn con đã tặng Kristin Gautesdatter chiếc nhẫn vàng đẹp nhất của mình, vì con bé có đôi mắt đẹp đến nỗi con gần như tin rằng sau này nó sẽ giống mẹ —”

Kristin buồn bã mỉm cười:

“Con sắp khiến mẹ tin rằng, Skule của mẹ ạ, các con trai mẹ thấy mẹ cao quý và đáng kính như người già vẫn thường trở nên trong mắt người ta, nhưng chỉ sau khi đã nằm dưới đất.”

“Mẹ đừng nói thế,” người đàn ông đáp với vẻ gay gắt khác thường. Rồi anh cười khẽ: “Mẹ thừa biết rằng tất cả anh em chúng con, ngay từ thuở vừa biết mặc quần, đã coi mẹ là người đàn bà cao quý và rộng lượng nhất — dù nhiều lần mẹ ôm ghì chúng con quá chặt dưới đôi cánh của mẹ, để rồi có lẽ chúng con cũng phải quẫy đạp khá mạnh mới thoát được khỏi tổ —

— Nhưng chuyện Gaute là người có tư chất thủ lĩnh nhất trong anh em chúng con thì quả là mẹ đã nhìn đúng,” anh nói và phá lên cười.

“Giờ con không cần đem chuyện ấy ra chế giễu mẹ đâu, Skule,” Kristin nói — và Skule thấy mẹ mình ửng hồng một cách trẻ trung, thanh tú. Nhưng anh càng cười lớn hơn:

“Thật đấy, mẹ ạ — Gaute Erlendssøn ở Jørundgaard đã trở thành một người đầy thế lực trong các thung lũng miền bắc. Nhờ vụ cướp cô dâu ấy mà nó lừng danh đến thế” — Skule cười vang; tiếng cười không hợp với cái miệng bị hủy hoại của anh. “Người ta đã làm cả một bài hát về chuyện đó; phải, giờ họ hát rằng nó giành lấy cô gái bằng sắt với thép, rồi giao chiến với họ hàng nàng suốt ba ngày liền trên miền đồng hoang — còn bữa tiệc ngài Sigurd mở tại Sundbu để dùng vàng bạc dàn hòa giữa hai họ, trong bài hát Gaute cũng được hưởng luôn công trạng — nhưng hình như chuyện đó có là dối trá thì cũng chẳng hại gì lắm: Gaute cai quản cả vùng, còn vươn xa hơn đôi chút — và Jofrid cai quản Gaute —”

Kristin lắc đầu với nụ cười buồn man mác. Nhưng gương mặt nàng trở nên trẻ lại khi nhìn Skule. Giờ đây nàng thấy _chàng_ là người giống cha nhất — người chiến binh trẻ với khuôn mặt bị tàn phá ấy lại có nhiều nhất sức sống tươi rói của Erlend — và việc từ rất sớm đã phải tự tay nắm lấy số phận mình đã đem đến cho anh một sự cứng cỏi điềm tĩnh trong tâm trí, khiến lòng người mẹ được yên ổn một cách lạ thường. Nhớ lại những lời cha Eiliv nói ban sáng, nàng chợt hiểu — nàng từng sợ hãi đến thế cho những đứa con trai liều lĩnh, từng nhiều phen đối xử nghiêm khắc với chúng vì bị nỗi lo cho chúng giày vò — nhưng nàng hẳn sẽ còn ít hài lòng hơn nhiều về các con mình nếu chúng hiền lành và nhút nhát.

Rồi nàng hỏi mãi, hỏi mãi về đứa cháu nội, Erlend bé nhỏ — nhưng hình như Skule chẳng gặp thằng bé được bao nhiêu — phải, nó khỏe mạnh, xinh đẹp và đã quen lúc nào cũng được làm theo ý mình.

Ánh đỏ bầm như máu đông ghê rợn trong sương mù phai dần, bóng tối bắt đầu buông xuống. Chuông nhà thờ ngân lên; Kristin và con trai đứng dậy. Bấy giờ Skule cầm lấy tay nàng:

“Mẹ,” anh nói nhỏ. “Mẹ có nhớ đã có lần con ra tay với mẹ không? Trong cơn giận, con ném một cây gậy đánh bóng, nó trúng vào chân mày mẹ — mẹ có nhớ không? Mẹ, khi chỉ có hai mẹ con ta ở đây, xin mẹ hãy nói rằng mẹ đã hoàn toàn tha thứ cho con về chuyện ấy!”

Kristin thở ra một hơi dài — phải, nàng nhớ. Nàng đã sai hai đứa sinh đôi lên trại chăn trên núi làm một việc — nhưng khi bước ra sân, nàng thấy con ngựa đang gặm cỏ ở đó, yên chở hàng vẫn còn trên lưng, còn hai đứa con trai thì chạy nhảy đánh bóng. Khi nàng nghiêm khắc quở trách, Skule nổi giận đùng đùng, quăng cây gậy khỏi tay —. Nhưng điều nàng nhớ rõ nhất — nàng đi lại với mí mắt sưng vù, khép kín đến mức không thể nhìn thấy gì; các anh em nhìn nàng, rồi nhìn Skule, và tránh xa thằng bé như thể nó là người mắc bệnh phong — Naakkve đã đánh nó một trận không chút nương tay. Còn Skule đi đi lại lại rồi ngồi xuống, sôi sục vì chống đối và hổ thẹn sau vẻ mặt cứng đờ, giễu cợt. Nhưng tối ấy, khi nàng đứng cởi áo trong bóng tối, nó rón rén bước vào — không nói gì, chỉ cầm tay nàng lên hôn. Và khi nàng chạm vào vai nó, nó quàng hai tay quanh cổ nàng, áp má mình vào má nàng — má nó còn mát, mềm và hơi tròn, vẫn là má của một đứa trẻ, nàng nhận ra — rốt cuộc thằng bé bướng bỉnh, nóng nảy ấy vẫn chỉ là một đứa trẻ —.

“Mẹ đã tha thứ, Skule — trọn vẹn đến nỗi chỉ một mình Thiên Chúa biết, vì mẹ không thể nào nói cho con hiểu mẹ đã tha thứ cho con hoàn toàn đến mức nào, con trai của mẹ!”

Trong khoảnh khắc, nàng đứng đó, tay đặt trên vai anh. Rồi anh chộp lấy cổ tay nàng, siết mạnh đến nỗi nàng bật tiếng kêu — ngay sau đó anh lao vào lòng nàng, thiết tha dịu dàng, sợ hãi và e thẹn như lần ấy.

“Con trai của mẹ — con làm sao vậy?” người mẹ hoảng hốt thì thầm.

Trong bóng tối, nàng cảm thấy người đàn ông lắc đầu. Rồi anh buông nàng ra, và hai người đi ngược lên nhà thờ.

Trong thánh lễ, Kristin chợt nhớ ra mình đã bỏ quên áo choàng của phu nhân Aasa mù, khi hai người ngồi bên nhau trên chiếc ghế dài ngoài cửa dành cho linh mục sáng nay. Sau buổi lễ, nàng đi vòng ra lấy.

Dưới vòm cửa, Sira Eiliv đang đứng, tay cầm đèn, cùng với Skule. “Anh ta chết khi chúng con vừa cập bến,” nàng nghe Skule nói, giọng hoang dại và tuyệt vọng khác thường.

“Ai?”

Cả hai người đàn ông đều giật nảy mình khi trông thấy nàng.

“Một người trong thủy thủ đoàn của con,” Skule khẽ nói.

Kristin nhìn từ người này sang người kia. Trong ánh đèn, nàng thấp thoáng thấy gương mặt họ căng cứng một cách vô nghĩa, khiến nàng bất giác bật ra một tiếng kêu nhỏ, miễn cưỡng và hoảng sợ. Vị linh mục cắn môi dưới — nàng thấy cằm ông hơi run.

“Dù sao, con trai ạ, con cũng nên nói cho mẹ con biết. Tốt hơn hết là tất cả chúng ta đều sửa soạn gánh chịu, nếu Chúa muốn dân nơi đây cũng phải thức tỉnh bởi một trận đòn nghiêm khắc đến thế––.” Nhưng Skule chỉ phát ra một tiếng như rên và không nói gì; bấy giờ vị linh mục lên tiếng: “Dịch bệnh đã đến Bjørgvin rồi, Kristin–. Chính trận đại ôn dịch mà chúng ta từng nghe đồn đang hoành hành ngoài các xứ khắp thế gian–”

“Dịch hạch đen–?” Kristin thì thầm.

“Có cố kể cho mọi người nghe Bjørgvin ra sao khi con rời khỏi đó cũng vô ích,” Skule nói. “Không ai chưa tận mắt nhìn thấy mà hình dung nổi. Thoạt đầu ngài Bjarne ra tay rất gắt để dập tắt tai họa ngay nơi nó bùng lên, trong những gia trang quanh tu viện Thánh John; ngài định dùng quân trong thành phong tỏa toàn bộ Nordnes, mặc cho các tu sĩ ở tu viện Thánh Michael dọa tuyệt thông–. Có một con tàu Anh chở bệnh cập đến, ngài không cho họ dỡ hàng cũng không cho lên bờ; mọi người trên con tàu ấy đều chết, rồi ngài sai đục thủng cho tàu chìm. Nhưng một phần hàng hóa đã được đưa lên bờ, và một số dân thành lén chuyển thêm hàng khỏi tàu trong một đêm– còn các tu sĩ ở nhà thờ Thánh John đòi phải để những người hấp hối được nhận phép trợ giúp phần hồn–. Khi người ta bắt đầu chết khắp nơi trong thành, chúng con hiểu rằng mọi việc đã vô phương–. Giờ trong khu buôn bán chẳng còn bóng người sống nào ngoài những kẻ khiêng xác– ai trốn được đều chạy khỏi thành, nhưng ôn dịch đi theo họ–”

“Ôi Chúa Jesus Kitô!”

“Mẹ– mẹ có nhớ lần cuối cùng ở Sil có năm chuột núi kéo đàn không. Cả dòng chuột tràn xuống mọi nẻo đường, mọi lối mòn– mẹ có nhớ chúng nằm chết trong từng bụi cây, thối rữa và làm ô nhiễm mọi mạch nước bằng mùi hôi và mầm bệnh không–!” Chàng siết chặt hai bàn tay; người mẹ rùng mình:

“Lạy Chúa, xin thương xót tất cả chúng con–. Ngợi khen Thiên Chúa và Đức Trinh nữ Maria, vì dầu sao con cũng đã được đưa lên đây, Skule của mẹ–”

Trong bóng tối, người đàn ông nghiến chặt răng:

“Chúng con cũng nói vậy, những người của con và con, vào buổi sáng kéo buồm lên, cho tàu chạy thẳng ra khỏi Vågen. Khi đến phía bắc eo biển Moldø, người đầu tiên ngã bệnh. Lúc anh ta chết, chúng con buộc đá vào chân, buộc một cây thánh giá trên ngực, hứa sẽ xin một thánh lễ cầu hồn khi đến Nidaros, rồi ném xác xuống biển– xin Chúa tha thứ cho chúng con. Hai người kế tiếp, chúng con đưa lên bờ, lo cho họ được trợ giúp phần hồn và an nghỉ trong đất thánh– đằng nào cũng không ai trốn khỏi số mệnh. Người thứ tư chết khi chúng con chèo vào sông, còn người thứ năm chết đêm qua–”

“Con có nhất thiết phải trở lại khu buôn bán không?” một lúc sau người mẹ hỏi. “Con không thể ở lại đây sao?”

Skule lắc đầu, cười không chút vui:

“– Ôi, con nghĩ chẳng bao lâu nữa ở đâu cũng như nhau thôi. Sợ hãi chẳng ích gì– người khiếp sợ đã chết mất một nửa. Nhưng giá con già được như mẹ!”

“Không ai biết người chết khi còn trẻ đã được miễn khỏi những gì,” người mẹ khẽ nói.

“Mẹ im đi! Hãy nghĩ đến thuở chính mẹ mới hai mươi ba mùa đông– mẹ có muốn mất những năm mình đã sống từ đó đến nay không–?”

Mười bốn ngày sau, Kristin lần đầu tiên trông thấy một người mắc dịch. Tin đồn rằng đại ôn dịch đang hoành hành ở Nidaros và lan ra các miền quê đã đến Rissa– bằng cách nào thì chẳng ai biết rõ, bởi người ta đều ở yên trong nhà, hễ thấy một khách bộ hành xa lạ trên đường là ai nấy chạy trốn vào rừng và bụi rậm; không ai mở cửa cho người lạ.

Nhưng một buổi sáng, hai ngư dân lên tu viện, khiêng giữa họ một người đàn ông nằm trong tấm buồm; lúc trời vừa rạng, họ xuống chỗ con thuyền của mình thì thấy một chiếc thuyền lạ bên cầu tàu, và người này nằm bất tỉnh dưới lòng thuyền– anh ta đã kịp buộc thuyền lại, nhưng không đủ sức bước lên. Người đàn ông sinh trưởng trong một căn nhà thuộc đất tu viện, nhưng họ hàng anh ta đã dời khỏi miền này.

Người hấp hối nằm trong tấm buồm ướt giữa bãi cỏ trong sân, còn hai ngư dân đứng cách xa anh ta, nói chuyện với Sira Eiliv. Các nữ tu tại gia và những người đàn bà phục dịch đã chạy trốn vào nhà, nhưng các nữ tu đứng túm tụm bên cửa phòng hội– một đám những bà già run rẩy, kinh hoàng và tuyệt vọng.

Bấy giờ phu nhân Ragnhild bước ra. Bà là một người đàn bà già nhỏ bé, gầy gò, khuôn mặt rộng và bẹt, chiếc mũi tròn nhỏ, đỏ như một cái nút; đôi mắt to màu nâu nhạt viền đỏ và lúc nào cũng hơi chảy nước.

“In nomine patris et filii et spiritus sancti,” bà nói rõ ràng, rồi nuốt khan một lần. “Hãy khiêng anh ta vào nhà khách–”

Và xơ Agata, người cao tuổi nhất trong các nữ tu, lấy khuỷu tay mở đường qua đám đông rồi không đợi ai bảo, đi theo viện mẫu và những người đàn ông khiêng bệnh nhân.

Đến khuya, Kristin mang vào đó một phương thuốc nàng đã pha chế trong kho thực phẩm, và xơ Agata hỏi nàng có dám ở lại trông lửa không.

Nàng vẫn tưởng mình đã chai dạn– nàng vốn quen thuộc với sinh nở và cái chết, đã từng thấy những cảnh còn ghê gớm hơn thế này– nàng cố nhớ lại tất cả những gì khủng khiếp nhất mình từng chứng kiến–. Người mắc dịch ngồi thẳng đứng hẳn lên, vì anh ta đang sặc trong thứ máu nôn trào ra theo từng cơn ho– xơ Agata đã treo anh ta trong một dải đai vòng ngang bộ ngực gầy gò, vàng vọt và phủ lông đỏ; đầu anh ta gục về phía trước, mặt xám xanh như chì, toàn thân không ngừng run lên vì những cơn rét buốt. Nhưng xơ Agata vẫn bình thản ngồi đọc kinh, và mỗi khi cơn ho ập đến, bà đứng dậy, dùng một cánh tay ôm lấy đầu anh ta, tay kia giữ chiếc cốc dưới miệng. Người bệnh gào lên vì đau đớn, trợn mắt khủng khiếp, cuối cùng thè chiếc lưỡi đen ra thật xa khỏi cuống họng, trong khi tiếng kêu cứu tắt dần thành những tiếng rên thảm hại. Nữ tu đổ chiếc cốc vào lửa– và trong lúc Kristin bỏ thêm cành bách xù vào, thứ cây ướt thoạt tiên làm căn phòng ngập khói vàng cay xè, rồi xèo xèo bùng thành lửa, nàng thấy xơ Agata sửa lại gối và chăn dưới lưng cùng hai nách người bệnh, lau mặt và đôi môi nâu đóng vảy của anh ta bằng nước giấm, rồi kéo tấm phủ lấm bẩn lên quanh người. Sắp hết rồi, bà nói với Kristin, anh ta đã lạnh, lúc đầu còn nóng như than hồng– nhưng Sira Eiliv đã sửa soạn cho anh ta lên đường. Rồi bà ngồi xuống bên người bệnh, dùng lưỡi đẩy miếng rễ thạch xương bồ về đúng chỗ trong má và lại cầu nguyện.

Kristin cố chế ngự nỗi kinh hoàng ghê gớm trong lòng. Nàng từng thấy người ta chết những cái chết đau đớn hơn–. Nhưng vô ích– đây là ôn dịch, là sự trừng phạt của Chúa giáng xuống lòng dạ chai đá thầm kín của loài người, điều chỉ Thiên Chúa toàn tri mới thấu biết. Choáng váng, nàng cảm thấy mình chao đảo trên một biển cả, nơi mọi ý nghĩ cay đắng và giận dữ nàng từng nghĩ trong đời dâng lên như một con sóng giữa muôn ngàn con sóng, rồi vỡ òa trong đau đớn và than khóc vô phương. Lạy Chúa, xin cứu chúng con, chúng con đang chết mất–.

Đến khuya, Sira Eiliv bước vào. Ông nghiêm khắc quở trách xơ Agata vì bà không nghe lời ông, lấy một mảnh vải lanh nhúng giấm buộc che miệng và mũi. Bà càu nhàu đầy tủi thân rằng làm thế cũng chẳng ích gì– nhưng giờ cả bà lẫn Kristin đều phải làm theo lời ông.

Sự bình tĩnh và cương nghị của vị linh mục truyền cho Kristin một chút can đảm– hoặc khơi dậy trong nàng nỗi hổ thẹn; nàng gượng tỉnh giữa làn khói bách xù và bắt tay phụ giúp xơ Agata. Từ người bệnh bốc lên một mùi hôi ngạt thở mà khói không át nổi– phân, máu, mồ hôi chua và mùi thối rữa từ cuống họng anh ta. Nàng nhớ lời Skule nói về dòng chuột núi tràn xuống; một lần nữa, ham muốn khủng khiếp được chạy trốn lại ập đến, mặc dù nàng biết không nơi nào người ta có thể trốn khỏi tai họa này. Nhưng một khi đã thắng được mình để chạm tay vào người hấp hối, điều tồi tệ nhất liền qua đi, và nàng giúp đỡ hết sức mình cho đến khi anh ta trút hơi thở cuối cùng. Khi ấy mặt anh ta đã đen sạm.

Các nữ tu rước thánh tích, thánh giá và nến cháy thành đoàn quanh nhà thờ và ngọn đồi tu viện, tất cả những ai còn bò hay đi được trong miền đều theo sau. Nhưng vài ngày sau, một người đàn bà ở phía trong Strømmen chết– rồi đại ôn dịch đồng loạt bùng lên trong mọi xóm làng khắp miền.

Cái chết, nỗi kinh hoàng và cảnh khốn cùng dường như đưa dân chúng sang một thế giới không còn thời gian– nếu đếm ngày thì mới chỉ vài tuần trôi qua– vậy mà thế giới từng tồn tại trước khi ôn dịch và cái chết trần trụi bước đi trên khắp xứ sở đã phai khỏi ký ức người ta, như bờ biển chìm khuất khi con thuyền hướng thẳng ra khơi dưới luồng gió thuận ào ào. Dường như chẳng linh hồn nào còn đủ sức níu giữ ký ức rằng đã có thời cuộc sống cùng chuỗi ngày lao động vẫn là điều gần gũi, vững chắc, còn cái chết thì xa xôi– hay đủ sức hình dung rằng một ngày nào đó mọi sự sẽ lại như thế– nếu loài người không chết sạch. Nhưng “có lẽ tất cả chúng ta đều sẽ chết,” những người đàn ông mang con thơ mất mẹ đến tu viện nói; có người nói bằng giọng đờ đẫn, khắc nghiệt, có người vừa nói vừa khóc lóc than van; họ nói thế khi đến đón linh mục về cho người hấp hối, họ nói thế khi khiêng xác xuống nhà thờ giáo xứ dưới sườn đồi và ra nghĩa địa bên nhà thờ tu viện. Họ thường phải tự đào huyệt– Sira Eiliv đã sai những nam nhân viên tại gia còn lại làm việc thu hoạch ngũ cốc trên đất tu viện, và đi đến đâu trong miền, ông cũng thúc giục người ta đưa mùa màng về nhà, giúp đỡ nhau chăm sóc gia súc, để những ai còn sống khi ôn dịch đã qua khỏi không đến nỗi chết vì đói.

Thoạt đầu, các nữ tu trong tu viện đón nhận thử thách với một vẻ trấn tĩnh đầy bối rối. Họ dọn hẳn vào phòng hội, ngày đêm đốt lửa trên lò xây lớn, ngủ và ăn tại đó. Sira Eiliv khuyên phải duy trì những đống lửa lớn trong sân và trong tất cả những gian nhà có bếp lửa, nhưng các xơ sợ sức nóng– họ đã nghe những xơ cao tuổi kể quá nhiều lần về trận hỏa hoạn ba mươi năm trước. Giờ ăn và giờ làm việc rối loạn, nhiệm vụ của các xơ không còn được phân định, vì trẻ con từ bên ngoài cứ đến xin thức ăn và sự giúp đỡ. Người bệnh được khiêng vào– phần lớn là những người khá giả có thể mua phần mộ và thánh lễ cầu hồn trong tu viện, cùng những kẻ cùng quẫn, cô độc, không thể được ai cứu giúp tại nhà. Những người có cảnh ngộ ở khoảng giữa cứ nằm chết trong nhà mình. Ở một số gia trang, không một ai sống sót. Tuy vậy, cho đến lúc này các nữ tu vẫn duy trì được các giờ kinh.

Người đầu tiên trong các nữ tu mắc bệnh là xơ Inga, một phụ nữ trạc tuổi Kristin, gần năm mươi tuổi, vậy mà bà sợ chết đến mức cảnh ấy thật kinh khủng khi nhìn và nghe. Những cơn rét buốt ập xuống bà trong nhà thờ giữa thánh lễ, và bà run rẩy, răng va lập cập, bò bằng hai tay hai gối trong khi van xin Thiên Chúa và Đức Trinh nữ Maria cho mình được sống–. Ngay sau đó bà nằm trong cơn sốt như thiêu đốt, vật vã, máu rịn ra qua da. Trong lòng Kristin dâng lên nỗi khiếp sợ– hẳn chính nàng cũng sẽ sợ hãi khốn khổ như thế khi giờ của mình đến. Không phải chỉ vì cái chết là điều chắc chắn– mà còn vì nỗi kinh hoàng ghê gớm đi cùng cái chết do ôn dịch.

Rồi chính phu nhân Ragnhild cũng ngã bệnh. Kristin từng hơi ngạc nhiên vì sao người đàn bà này lại được chọn vào chức viện mẫu cao quý– bà là một người già lặng lẽ, hơi cáu kỉnh, ít học, dường như cũng chẳng có tài trí gì nổi bật– nhưng khi cái chết đặt tay lên mình, bà cho thấy bà quả thật là một hiền thê của Kitô. Ôn dịch đánh bà bằng những khối nhọt– bà không chịu để những người con gái thiêng liêng của mình cởi trần tấm thân già nua ấy, nhưng chỗ sưng dưới một cánh tay sau cùng lớn bằng quả táo, còn dưới cằm mọc lên những khối nhọt to tướng, đỏ như máu, rồi ngả sang đen; bà chịu đựng sự đau đớn khôn xiết và nóng rực vì sốt, nhưng mỗi khi tỉnh táo, bà nằm đó như một tấm gương về đức nhẫn nại thánh thiện, khẩn cầu Thiên Chúa tha thứ tội lỗi của mình, cầu nguyện đẹp đẽ và thiết tha cho tu viện cùng các con gái, cho tất cả những người bệnh tật, đau buồn và cho sự cứu rỗi của mọi linh hồn nay có thể sắp lìa cõi thế. Ngay cả Sira Eiliv cũng khóc khi ban phép xức dầu cuối cùng cho bà– mà sự kiên định cùng lòng tận tụy không biết mỏi mệt của ông giữa tất cả cảnh khốn cùng này vốn là điều khiến người ta phải kinh ngạc. Phu nhân Ragnhild đã nhiều lần phó linh hồn vào tay Thiên Chúa và cầu xin Người che chở các nữ tu– thì những khối nhọt trên thân thể bà bắt đầu vỡ ra. Nhưng hóa ra đó lại là bước ngoặt đưa bà về sự sống– về sau người ta cũng nhận thấy rằng những ai mắc dịch với các khối nhọt đôi khi còn được chữa lành, nhưng những ai thổ huyết thì đều chết.

Nhờ tấm gương của viện mẫu và vì đã trông thấy một người mắc dịch mà không chết, các nữ tu dường như lấy lại được can đảm. Giờ đây chính họ phải vắt sữa và chăm nom chuồng bò, nấu thức ăn, tự đi lấy cành bách xù và cành thông tươi về hun khói– mỗi người làm bất cứ việc gì ở ngay trước tay mình. Họ chăm sóc người bệnh hết sức có thể và phân phát thuốc men– thuốc giải độc và rễ thạch xương bồ đã hết, họ đem gừng, hồ tiêu, nghệ tây cùng giấm cho dân dùng chống dịch, lại phát sữa và thức ăn– bánh mì hết thì họ nướng suốt đêm– gia vị hết thì người ta phải nhai quả bách xù và lá kim thông để chống bệnh. Lần lượt từng xơ gục xuống và chết, chuông báo tử từ nhà thờ tu viện và nhà thờ giáo xứ ngân lên sớm tối trong bầu không khí nặng nề, vì lớp sương mù trái tự nhiên cứ nằm lì, dường như giữa màn sương và đại ôn dịch có một mối giao kết bí mật. Đôi khi nó hóa thành sương giá, rắc xuống những mũi kim băng và mưa bụi nửa đông cứng, khiến mặt đất phủ sương muối– rồi trời lại dịu xuống và sương mù trở lại. Dân chúng cho là một điềm dữ khi những loài chim biển vốn tụ họp hàng nghìn con dọc dòng nước từ vịnh hẹp chảy vào miền này, trông như một con sông xuyên qua những dải đồng thấp rồi mở rộng thành hồ nước mặn ở phía bắc Reinskloster, bỗng nhiên biến mất; thay vào đó, quạ đen kéo đến nhiều chưa từng thấy– trên mỗi tảng đá dọc bờ nước đều có những con chim đen đậu trong sương mù, phát ra tiếng khàn ghê rợn, trong khi những đàn quạ xám lớn đến mức chưa ai từng thấy sà xuống mọi cánh rừng và lùm cây, bay qua miền đất khốn khổ với những tiếng kêu chói tai.

Đôi khi Kristin nghĩ đến người thân của mình– những người con trai tản mác khắp nơi, những đứa cháu nàng sẽ chẳng bao giờ được gặp– gáy tóc vàng óng của Erlend bé nhỏ hiện lơ lửng trước mắt nàng. Nhưng tất cả đều trở nên xa xăm và nhợt nhạt. Giờ đây, trong cảnh khốn cùng này, dường như mọi con người đều gần gũi và xa cách với nhau như nhau. Vả lại, suốt ngày nàng luôn tay luôn chân– lúc này việc nàng quen đủ mọi thứ công việc mới thật hữu ích. Trong khi nàng ngồi vắt sữa, những đứa trẻ kiệt quệ mà nàng chưa từng thấy bao giờ bỗng xuất hiện ngay bên cạnh, và nàng hầu như chẳng nhớ hỏi chúng từ đâu đến hay tình cảnh ở nhà ra sao; nàng cho chúng ăn, dẫn chúng vào trú trong phòng hội của kinh sĩ hoặc một nơi nào khác có lửa sưởi, rồi xếp chúng nằm chen nhau trên một chiếc giường trong phòng ngủ chung.

Với một nỗi ngạc nhiên mơ hồ, nàng nhận thấy rằng trong thời buổi tai họa này, khi mỗi người càng cần tỉnh thức cầu nguyện hơn bao giờ hết, nàng lại hầu như chẳng có lúc nào để tĩnh tâm và cầu nguyện. Hễ tìm được một khoảnh khắc rảnh rỗi, nàng liền quỳ sụp xuống trước nhà tạm trong nhà thờ, nhưng chỉ thốt ra những tiếng thở dài không lời cùng những kinh Lạy Cha và Kính Mừng đọc một cách đờ đẫn. Chính nàng không biết rằng vẻ giống một nữ tu trong tính nết và cử chỉ, thứ nàng đã học được trong hai năm qua, đang mỗi lúc một rời khỏi nàng, và nàng lại trở thành bà chủ gia trang của những ngày xưa cũ, khi hàng ngũ nữ tu cứ thu hẹp dần, kỷ cương tu viện tan rã, còn viện mẫu vẫn nằm liệt, yếu ớt, lưỡi đã liệt mất một nửa– trong khi công việc ngày một chất cao trước số ít người còn lại để gánh vác.

Một hôm, tình cờ nàng hỏi ra rằng Skule vẫn còn ở Nidaros; đám thủy thủ của anh ta hoặc đã chết sạch hoặc đã trốn hết, nên anh ta không kiếm đâu ra người mới. Bản thân anh ta vẫn khỏe, nhưng đã lao vào một lối sống cuồng dại, như lắm kẻ trẻ tuổi trong cơn tuyệt vọng đã lao vào. Ai sợ thì cái chết chắc phần người ấy, họ bảo thế, rồi họ dìm mình trong chè chén và say sưa, đánh bạc, nhảy múa và đàn đúm với đàn bà. Ngay cả vợ và con gái còn trong trắng của những thị dân lương thiện nhất, thuộc những dòng họ tử tế nhất, cũng bỏ nhà mà đi trong thời buổi dữ dằn này; đi cùng đám gái điếm, họ ăn chơi ở các nhà tập bắn và quán rượu giữa bọn đàn ông lạc loài. Lạy Chúa, xin tha cho họ, người mẹ nghĩ, nhưng dường như trái tim bà đã quá mệt để có thể đau buồn nhiều vì chuyện ấy.

Nhưng chắc hẳn ngoài các thôn xóm cũng đầy rẫy tội lỗi và mê loạn. Trong tu viện, họ cũng nghe lõm bõm ít điều về chuyện đó, nhưng ngoài ra thì chẳng mấy ai có thì giờ mà bàn tán. Song một hôm Sira Eiliv, người đi khắp nơi thăm kẻ đau và người hấp hối không nghỉ không ngơi, đã nói với Kristin rằng nỗi khốn cùng của linh hồn còn lớn hơn nỗi khốn cùng của thân xác.

Rồi một buổi tối, họ ngồi quanh lò sưởi trong phòng hội của tu viện, cái nhóm người nhỏ nhoi còn sống sót ở Reinsklosteret. Bốn nữ tu và hai chị em trợ tá, một lão chăn ngựa và một cậu bé mới lớn nửa chừng, hai bà sống nhờ bố thí và mấy đứa trẻ co ro quanh lửa. Trên băng ghế chỗ ngồi cao, nơi một cây thánh giá lớn lờ mờ hiện ra trong chạng vạng trên bức tường sáng màu, mẹ bề trên nằm đó, còn chị Kristin và chị Turid ngồi bên tay và chân bà.

Đã chín ngày từ cái chết sau cùng trong số các chị em, và năm ngày từ khi có người cuối cùng chết trong tu viện hay những nhà gần nhất. Dịch hạch dường như cũng đang lùi dần ra khỏi vùng này, Sira Eiliv nói vậy. Và lần đầu tiên trong gần ba tháng, như có một khoảng sáng của bình an, yên ổn và ấm cúng buông xuống trên những con người lặng lẽ, mỏi mệt đang ngồi cạnh nhau. Chị Torunn Marta già cả buông chuỗi tràng hạt xuống lòng, đưa tay về phía cô bé nhỏ đang đứng bên đầu gối mình:

“Nó muốn nói gì nhỉ? Ừ, con ạ, giờ thì ta ngỡ như thấy Mẹ Thiên Chúa Maria chẳng bao giờ quay lòng thương xót khỏi con cái mình quá lâu.”

“Không, không phải Đức Mẹ Maria đâu, chị Torunn, là Hel đấy. Khi người ta hiến tế một người vô tội ở cổng nghĩa địa thì mụ sẽ đi ra khỏi vùng này, cả cào lẫn chổi, đến mai là mụ đã xa lắm rồi...”

“Nó nói gì vậy?” nữ tu lại hỏi, lo lắng. “Đồ đáng ghét, Magnhild, cái thứ chuyện ngoại đạo gớm ghiếc mày nói ấy, đáng roi quất lắm...”

“Nói cho chúng ta biết chuyện này là gì đi, Magnhild, đừng sợ,” chị Kristin đứng sau họ hỏi, hơi thở dồn dập. Nàng sực nhớ ra, thuở trẻ nàng đã nghe phu nhân Aashild kể về những mưu kế ghê rợn, tội lỗi không thể gọi tên, mà ma quỷ xui khiến những người đàn ông tuyệt vọng đem ra dùng...”

Lũ trẻ đã xuống khu lùm cây gần nhà thờ giáo xứ lúc chạng vạng, và mấy đứa con trai đã lảng vào một căn nhà đất ở đó; rồi chúng đã rình mấy người đàn ông đang bàn chuyện trong ấy. Có vẻ như những người này đã bắt được một cậu bé con, Tore, con của Steinunn ở bãi biển, và đêm nay họ định đem nó hiến cho mụ quỷ Dịch hạch, Hel. Đám trẻ nói ríu rít, khoái chí vì đã giành được sự chú ý của người lớn. Chúng dường như chẳng hề nghĩ đến việc thương xót thằng bé Tore tội nghiệp; mà nó vốn cũng là hạng bị hắt hủi, đi xin ăn trong vùng, nhưng chẳng bao giờ đến tu viện, và hễ Sira Eiliv hay ai do mẹ bề trên sai đi tìm mẹ nó thì chị ta trốn mất, hoặc không chịu nói chuyện với họ, bất kể họ nói dịu dàng hay gay gắt. Chị ta đã sống trong các ngõ hẻm ở Nidaros đến mười năm, nhưng rồi mắc một thứ bệnh làm thân thể hủy hoại đến nỗi cuối cùng không còn kiếm sống theo lối đã quen được nữa, thế là chị ta về vùng này, ở trong một túp lều ngoài bãi. Thỉnh thoảng vẫn có một kẻ ăn mày hay hạng người nào đó đến ở với chị ta một thời gian. Ngay chính chị ta cũng không biết cha đứa con mình là ai.

“Chúng ta phải đến đó,” Kristin nói. “Chúng ta sao có thể ngồi đây trong khi những linh hồn đã chịu phép rửa đem bán mình vào tay quỷ dữ ngay ngoài cửa nhà ta.”

Các nữ tu rên rỉ. Đó là những gã đàn ông tồi tệ nhất vùng, thô bạo, vô đạo, và cơn khốn cùng tuyệt vọng cuối cùng hẳn đã biến họ thành lũ quỷ dữ thật sự. Giá mà Sira Eiliv có nhà, họ than thở. Trong thời dịch hạch, địa vị của vị linh mục đã thành ra như thế, đến nỗi các chị em mong đợi rằng ngài phải làm được mọi sự...

Kristin xoắn hai bàn tay:

“Nếu con phải đi một mình thì cũng đi... mẹ ơi, xin cho con phép đến đó?”

Mẹ bề trên siết cánh tay nàng khiến nàng đau nhói. Người đàn bà già nua, nửa lưỡi đã liệt, gượng đứng lên; bằng dấu hiệu, bà cho biết họ phải mặc đồ cho bà ra ngoài. Bà đòi đem theo cây thánh giá vàng, dấu hiệu phẩm vị của mình, và cả cây gậy. Rồi bà khoác tay Kristin, vì nàng là người trẻ nhất và khỏe nhất trong đám phụ nữ. Tất cả các nữ tu đều đứng dậy đi theo.

Qua cánh cửa từ căn phòng nhỏ giữa phòng chương và gian cung thánh của nhà thờ, họ bước ra đêm đông giá buốt. Bà Ragnhild bắt đầu run bần bật và đánh lập cập hai hàm răng; từ sau cơn bệnh bà vẫn đổ mồ hôi không ngừng, những vết thương do mụn dịch gây ra còn chưa kín miệng, nên hẳn là mỗi bước đi đều đau đớn lắm. Nhưng bà gầm gừ bực bội và lắc đầu khi các chị em xin bà quay lại, bấu chặt hơn vào cánh tay Kristin và run rẩy đi trước qua khu vườn. Khi mắt đã quen với bóng tối, đám phụ nữ lờ mờ thấy dưới chân mình một làn sáng nhạt từ lớp lá úa rơi đầy đất, và chút ánh sáng của bầu trời đầy mây trên những tán cây trơ trụi. Những giọt lạnh nhỏ xuống lộp bộp và gió thổi khe khẽ. Từ mặt vịnh, ngoài sườn đồi bên kia bãi, vang lên tiếng ầm ì trầm nặng như một tiếng thở dài.

Ở cuối vườn có một cánh cổng nhỏ, các chị em rùng mình khi thanh sắt gỉ chặt kêu lên rít rợn lúc Kristin vật lộn kéo nó ra. Rồi họ lén lút đi tiếp qua lùm cây xuống phía nhà thờ giáo xứ. Giờ thì họ đã thấy khối nhà quét hắc ín hiện ra sẫm hơn trong bóng tối, và trên nền sáng của mây phía trên sườn đồi bên kia mặt nước là phần trên của mái nhà cùng tháp mái có những đầu thú và cây thánh giá trên chóp.

Đúng là có người trong nghĩa địa, họ cảm thấy điều đó còn rõ hơn là nhìn thấy hay nghe thấy. Rồi hiện ra một vệt sáng thấp nhỏ, như thể có một chiếc đèn lồng đặt trên mô đất. Bóng tối động đậy ở gần đấy.

Các nữ tu ép sát vào nhau, gần như rên không thành tiếng dưới những lời kinh thì thầm, đi được vài bước thì dừng lại nghe ngóng rồi lại đi. Họ đã gần tới cổng nghĩa địa. Bấy giờ từ trong bóng tối vang lên một giọng trẻ con the thé gọi:

“Ái, ái, các người làm bùn dính lên bánh của cháu rồi!”

Kristin buông tay mẹ bề trên, lao lên và chui vào dưới cổng nghĩa địa. Nàng xô những tấm lưng đàn ông đen sẫm sang bên, vấp phải những đống đất vừa đào, rồi đã tới mép ngôi mộ mở. Nàng quỳ xuống, cúi người ra và nhấc cậu bé nhỏ đang đứng dưới đáy lên; nó vẫn còn sụt sịt, vì đất đã rơi lên chiếc bánh dẹt ngon mà người ta cho nó để nó ngồi yên dưới đó.

Đám đàn ông đứng chết điếng vì sợ, sẵn sàng bỏ chạy, có kẻ cứ giậm chân tại chỗ; Kristin thấy chân họ trong ánh đèn trên mô đất. Nàng còn tưởng như có người sắp bổ nhào vào mình, thì ngay lúc ấy những tà áo nữ tu xám trắng hiện ra lờ mờ, và cả bọn đàn ông đứng ngẩn ra, không biết làm gì...

Kristin vẫn ôm cậu bé trong tay, nó còn mếu máo vì chiếc bánh của mình, nàng bèn đặt nó xuống, cầm lấy ổ bánh mà phủi:

“Đây, ăn đi, giờ bánh của cháu lại ngon như cũ rồi...”

“Và giờ thì về nhà đi, các anh.” Giọng run trong cổ họng khiến nàng phải ngừng lại một chút. “Hãy về nhà và tạ ơn Chúa rằng các anh đã được cứu trước khi kịp làm một việc khó lòng chuộc nổi.” Giờ nàng nói như một bà chủ nói với gia nhân mình, dịu dàng, nhưng như thể nàng không thể nào nghĩ rằng họ lại không vâng lời. Bất giác có mấy người đàn ông quay về phía cổng.

Bấy giờ có kẻ hét lên:

“Khoan đã, các người không hiểu sao, chuyện này ít ra cũng là mạng sống của chúng ta, có khi là cả gia sản của chúng ta nữa, giờ lũ đĩ nhà tu béo tốt này đã chõ mũi vào rồi! Không được để chúng rời khỏi đây mà đi loan tin về chuyện này...”

Không một người đàn ông nào nhúc nhích, nhưng chị Agnes bật lên một tiếng thét rít và gọi lớn, giọng nghẹn vì khóc:

“Ôi Chúa Giêsu dịu ngọt, lang quân của con, con tạ ơn Người vì Người cho các tỳ nữ của Người được chết vì vinh danh Thánh Danh Người...!”

Bà Ragnhild xô chị ta ra phía sau một cách thô bạo, lảo đảo bước tới và cầm lấy chiếc đèn đặt trên mô đất, không ai giơ tay cản bà. Khi bà nâng nó lên, cây thánh giá vàng trên ngực lóe sáng. Bà đứng dựa vào gậy, chầm chậm rọi ánh đèn dọc quanh hàng người, hơi gật đầu với từng người đàn ông bà nhìn thấy. Rồi bà ra hiệu cho Kristin phải nói. Kristin nói:

“Hãy yên lặng mà về nhà đi, các anh em thân mến, hãy tin rằng mẹ bề trên đáng kính và những chị em tốt lành này sẽ rộng lượng hết mức mà họ còn có thể thưa chịu trước mặt Chúa và trước danh dự của Giáo hội Ngài. Nhưng giờ xin tránh ra để chúng tôi đưa đứa trẻ này đi qua, rồi sau đó ai về nhà nấy.”

Đám đàn ông đứng lưỡng lự. Bấy giờ có kẻ hét lên như trong cơn cùng quẫn:

“Chẳng phải _một_ đứa bị đem tế còn hơn là cả bọn chúng ta bị hủy diệt hết sao...! Cái thằng nhãi này có ai nhận đâu...”

“Đức Kitô nhận nó. Thà từng người chúng ta bị diệt hết còn hơn là dùng bạo lực với một đứa nhỏ của Người...”

Nhưng người đàn ông đã nói trước đó lại gào lên:

“Câm những lời ấy đi, không tao sẽ nhét chúng trở lại cổ họng mày bằng cái này đây,” hắn lắc con dao trong không khí. “Về nhà đi, nằm xuống mà bảo cha xứ các người an ủi các người, rồi câm miệng về chuyện này, nếu không thì ta nói cho các ngươi biết nhân danh Satan, các ngươi sẽ hiểu rằng việc tệ hại nhất các ngươi từng làm chính là dám thò tay vào chuyện của bọn ta...”

“Ngươi không cần gào to thế để kẻ ngươi vừa nhắc tên nghe thấy đâu, Arntor; ngươi nên biết, hắn không ở xa đây đâu,” Kristin bình thản nói, và vài người đàn ông có vẻ phát sợ, bất giác nhích gần hơn về phía mẹ bề trên đang cầm đèn. “Điều tệ hại nhất cho cả chúng ta lẫn các ngươi hẳn sẽ là nếu chúng ta cứ ngồi yên ở nhà, trong khi các ngươi lo dựng cho mình chỗ trú trong Hỏa ngục nóng nhất.”

Nhưng Arntor chửi rủa và điên cuồng gầm thét. Kristin biết hắn căm ghét các nữ tu, vì cha hắn đã phải cầm cố trang trại cho họ khi phải nộp phạt vì tội giết người và loạn luân với đứa cháu bên nhà vợ. Giờ hắn cứ thế tru tréo tuôn ra hết những lời dối trá độc địa nhất của Kẻ Thù về các chị em, đổ lên đầu họ những tội lỗi đen tối và trái tự nhiên đến mức chỉ chính ma quỷ mới có thể bắn vào đầu óc con người ý nghĩ về những điều như thế.

Những nữ tu tội nghiệp co rúm lại, kinh hoàng và khóc nức dưới những lời nhạo báng ấy, nhưng họ vẫn đứng vững quanh người mẹ già, còn bà thì giương cao chiếc đèn và rọi thẳng vào mặt người đàn ông, bình thản nhìn hắn trong khi hắn điên cuồng gào thét.

Nhưng trong Kristin, cơn phẫn nộ bốc lên ràn rạt như ngọn lửa mới nhóm:

“Im đi! Ngươi đã mất trí rồi sao, hay Chúa đã đánh ngươi mù mắt! Há chúng ta còn dám rên rỉ dưới roi sửa phạt của Người, khi chúng ta đã thấy những cô dâu hiến thánh của Người bước ra đón lưỡi gươm đã tuốt vì tội lỗi của thế gian. Các chị đã thức canh và cầu nguyện, trong khi chúng ta phạm tội và quên Đấng tạo hóa của mình mỗi ngày; tự khóa mình trong thành lũy cầu nguyện, trong khi chúng ta lang thang khắp đời, bị lòng tham xua đuổi theo đàn gia súc lớn và gia súc nhỏ, theo thú vui riêng và cơn giận riêng của mình. Thế mà các chị đã đi ra với chúng ta khi thiên thần giết chóc được sai đến giữa chúng ta, gom lấy kẻ đau, người không nơi nương tựa và những kẻ đói; mười hai chị em của chúng ta đã chết trong trận dịch này, các người đều biết, không một ai lánh đi, không một ai sao nhãng việc cầu cho tất cả chúng ta bằng tình yêu chị em, cho tới khi lưỡi họ khô quắt trong miệng và máu sống chảy cạn...”

“Mày nói hay quá cho chính mày với hạng mày đấy...”

“_Ta_ là kẻ cùng một hạng với _ngươi_,” nàng thét lên, mất hết tự chủ. “Ta không phải một trong những chị em thánh thiện ấy, ta là một đứa như các ngươi...”

“Mềm nhũn ra rồi đấy, mụ kia,” Arntor chế nhạo. “Ta thấy mụ sợ rồi. Để thêm một lúc nữa xem, khéo mụ còn gọi mẹ thằng bé kia là người cùng một hạng với mụ.”

“Chuyện đó để Chúa phán xét, Người đã chết cho cả chị ta lẫn tôi, và Người biết cả hai chúng tôi. Chị ta đâu rồi, Steinunn?”

“Cứ ra cái ổ của nó mà tìm, khắc thấy,” Arntor đáp.

“Ừ, vậy thì phải sai người nhắn cho người đàn bà khốn khổ ấy rằng chúng ta đang giữ con chị ta,” Kristin nói với các nữ tu. “Mai ta sẽ ra xem chị ấy.”

Arntor bật cười khẩy, nhưng một người đàn ông khác khó chịu gọi lên:

“Không, không... Chị ta chết rồi,” hắn nói với Kristin. “Đã mười bốn ngày rồi từ khi Bjarne ra khỏi chỗ chị ta và chống thanh gỗ ngang cửa. Khi ấy chị ta đang vật lộn với cái chết...”

“Chị ta nằm đó và...” Kristin nhìn đám đàn ông với vẻ kinh hoàng. “Không có ai đi gọi linh mục cho chị ta sao...? Xác... còn nằm... đó... mà chẳng ai có đủ lòng thương để đưa chị ta vào đất thánh hiến... còn đứa con chị ta thì các người định...”

Trước nỗi kinh hãi của người đàn bà, chính đám đàn ông dường như cũng hóa cuống loạn vì sợ hãi và vì xấu hổ, chúng gào át tiếng nhau; trên tất cả những tiếng khác, một giọng hét lên:

“Tự chị đi mà đem chị ta về đi, nữ tu!”

“Được! Ai trong các anh sẽ đi với tôi?”

Không ai trả lời. Arntor hét:

“Thì mày cứ đi một mình.”

“Sáng mai, ngay khi trời hửng, chúng ta sẽ đem chị ấy về, Arntor, chính tôi sẽ mua cho chị ấy chỗ chôn và lễ cầu hồn...”

“Hãy đi ra đó, đi ngay đêm nay đi, rồi ta mới tin các người ngập ngụa thánh thiện với đức hạnh...”

Arntor đã dí sát mặt mình vào mặt nàng. Kristin đấm thẳng nắm tay vào mặt hắn, rồi bật lên một tiếng nức nghẹn lớn vì giận dữ và kinh hãi...

Bà Ragnhild đi tới đứng bên Kristin, gắng sức để thốt thành lời. Các nữ tu kêu lên rằng sáng mai người chết sẽ được mang đi chôn. Nhưng ma quỷ dường như đã làm trí óc Arntor phát loạn, hắn cứ tiếp tục gào:

“Đi đi nào, rồi chúng ta sẽ tin vào lòng thương xót của Chúa...”

Kristin đứng thẳng người, trắng bệch và cứng lại:

“Tôi sẽ đi.”

Nàng bế đứa trẻ lên trao vào tay chị Torunn, xô đám đàn ông sang hai bên rồi chạy vấp váp thật nhanh qua những ụ cỏ và đống đất về phía cổng, trong khi các nữ tu vừa than khóc vừa lao theo sau, còn chị Agnes kêu lên rằng chị sẽ đi cùng. Mẹ bề trên giơ hai bàn tay nắm chặt ra hiệu cho Kristin dừng lại, nhưng nàng dường như đã hoàn toàn mất trí...

Ngay lúc ấy bỗng nổi lên một cơn náo động dữ dội trong bóng tối phía cổng nghĩa địa – rồi liền sau đó vang lên giọng Sira Eiliv hỏi ai đang làm loạn ở đây. Ông bước vào vùng sáng đèn lồng – họ thoáng thấy ông cầm một cây rìu trong tay. Các nữ tu xúm lại quanh ông, bọn đàn ông cuống quýt tìm đường lẩn vào bóng tối, nhưng ngay ở cổng chúng đụng phải một người đàn ông tay cầm thanh gươm tuốt trần. Có tiếng xô đẩy và binh khí va nhau, rồi Sira Eiliv quát dọc theo đó, khốn cho kẻ nào giờ này còn dám xâm phạm sự yên tĩnh thiêng của nghĩa địa nhà thờ. Kristin nghe ai đó nói đó là người thợ rèn lực lưỡng ở Credoveiten – ngay sau ấy một người đàn ông cao lớn, vai ngực nở nang, tóc bạc trắng hiện ra bên cạnh nàng, ấy là Ulf Haldorssøn.

Vị linh mục trao cây rìu cho ông – ông đã mượn của Ulf – rồi đón lấy cậu bé Tore từ tay nữ tu, vừa nói:

“Đã quá nửa đêm rồi – nhưng tốt nhất là tất cả hãy theo lên nhà thờ; những việc này ta muốn biết cho rõ ngay đêm nay.”

Không ai nghĩ tới gì ngoài việc vâng lời. Nhưng khi họ đã ra tới con đường, một trong những bóng đàn bà áo xám tách ra khỏi đám và định rẽ vào lối mòn trong rừng. Vị linh mục gọi với theo, bảo nàng lại đây cùng với những người khác. Giọng Kristin đáp từ trong bóng tối – nàng đã đi vào lối mòn được một quãng:

“Con không thể về được, Sira Eiliv, trước khi con giữ trọn lời hứa của mình –”

Vị linh mục và vài người nữa lao theo. Khi Sira Eiliv bắt kịp, nàng đang đứng tựa vào hàng rào. Ông giơ cao đèn lồng – mặt nàng trắng bệch đến ghê người, nhưng khi nhìn vào mắt nàng, ông hiểu nàng chưa hóa điên như thoạt đầu ông đã sợ.

“Về nhà đi, Kristin,” ông nói. “Ngày mai chúng tôi sẽ theo bà tới đó, vài người đàn ông – chính tôi cũng sẽ đi với bà –”

“Con đã hứa lời của con. Con không thể về nhà, Sira Eiliv, trước khi làm điều con đã hứa.”

Vị linh mục đứng lặng một lúc. Rồi ông khẽ nói:

“Có lẽ bà nói phải. Vậy thì đi đi, chị em, nhân danh Đức Chúa.”

Kristin rẽ đi, lạ lùng như một chiếc bóng, vào trong màn tối đang nuốt lấy hình vóc xám của nàng.

Khi Ulf Haldorssøn đi lên ngang bên nàng, nàng nói – giọng ngắt quãng và gắt gáp: “Quay lại đi – tôi đâu có nhờ ông theo tôi –”

Ulf khẽ cười:

“Kristin, phu nhân của tôi – đến giờ bà vẫn chưa học được rằng có những việc cứ xảy ra, không cần bà xin hay truyền khiến – và cả điều này nữa, tôi hiểu, bà cũng chưa học được, dẫu đã thấy bao nhiêu lần rồi – rằng chính bà cũng không phải lúc nào một mình gánh nổi hết mọi thứ bà tự nhận lấy đâu. Nhưng giờ tôi sẽ giúp bà đưa cái gánh này đi cho xong.”

Rừng thông rì rào trên đầu họ, và tiếng sóng ngoài bãi dội vào tai họ lúc mạnh lúc yếu theo từng cơn gió lùa tới. Chỗ họ đi tối đen như mực. Một lúc sau Ulf nói:

“– Tôi đã từng theo bà trước đây, Kristin, những khi bà đi ngoài đêm – tôi nghĩ, lần này nữa có lẽ cũng hợp là tôi đi với bà –”

Nàng thở nặng nhọc, gấp gáp trong bóng tối. Có lần nàng vấp vào vật gì, Ulf chụp lấy nàng. Sau đó ông nắm tay dẫn nàng đi. Một lúc nữa người đàn ông hiểu rằng nàng vừa đi vừa khóc, bèn hỏi nàng khóc vì điều gì.

“Tôi khóc vì nghĩ ông đã tốt và trung thành với tất cả chúng tôi suốt bao ngày, Ulf. Tôi còn biết nói gì đây –? Tôi biết, phần nhiều là vì Erlend, nhưng tôi gần như tin rằng, người bà con ạ – suốt bao ngày ông đã xét tôi khoan hơn lẽ ra ông phải xét, sau điều đầu tiên ông nhìn thấy nơi cách tôi sống.”

“Tôi đã thương bà, Kristin – không kém gì thương anh ấy.” Ông lặng đi. Kristin hiểu ông đang bị một cơn xúc động mạnh lay chuyển. Rồi ông nói:

“Vì vậy mà hôm nay, khi tôi dong thuyền ra đây, tôi thấy nặng nề biết mấy – tôi đến để mang cho bà những tin tức mà chính tôi cũng thấy nặng lòng khi phải đem tới. Xin Đức Chúa ban sức cho bà, Kristin.”

“Là Skule ư?” một lát sau Kristin khẽ hỏi. “Skule chết rồi sao?”

“Không, Skule vẫn khỏe khi tôi nói chuyện với nó hôm qua – và bây giờ trong thị trấn cũng không còn mấy người chết vì dịch nữa. Nhưng sáng nay tôi nhận được tin từ Tautra –.” Ông nghe nàng thở dài nặng nề một lần, nhưng nàng không nói gì. Một lúc sau ông nói:

“Họ chết đến nay đã mười ngày rồi. Trong tu viện chỉ còn bốn thầy còn sống, và trên đảo thì người ta chết gần như sạch cả.”

Lúc này họ đã tới chỗ rừng dứt. Trên dải đất bằng phẳng trước mặt, tiếng biển gào và gió ập thẳng vào họ. Ở một nơi nào đó trong bóng tối bỗng ánh lên màu trắng – sóng bạc đầu trong một vũng nhỏ, phía trên là một bờ cát sáng dốc đứng.

“Chị ấy ở kia,” Kristin nói. Ulf cảm thấy những cơn co thắt dài, dữ dội chạy dọc qua người nàng. Ông siết mạnh tay nàng:

“Chính bà đã tự nhận lấy việc này. Hãy nhớ điều đó và đừng để mất trí bây giờ.”

Kristin nói bằng một giọng lạ lùng, mảnh và sắc, bị gió cuốn đi:

“Giờ giấc mơ của Bjørgulf sẽ ứng nghiệm – tôi cậy vào ơn Đức Chúa và Đức Mẹ Maria.”

Ulf cố nhìn mặt nàng – nhưng tối quá. Họ đi men theo mép nước – có chỗ bờ cát hẹp dưới chân dốc đến nỗi từng đợt sóng vỗ hẳn tới chân họ. Họ bước dẫm lên những mớ rong biển và những tảng đá lớn. Một lúc sau họ lờ mờ thấy một cái chòi đen tựa vào bờ cát.

“Đứng đây,” Ulf nói cộc lốc. Ông đi tới, xô vào cánh cửa – rồi nàng nghe ông chém vào những dây liễu buộc và lại bẻ mạnh. Nàng hiểu rằng cánh cửa đã đổ sập vào trong và ông bước vào cái lỗ đen thẫm ấy.

Đêm ấy không phải là một đêm gió đặc biệt dữ. Nhưng tối đến nỗi Kristin không nhìn thấy gì ngoài mặt biển đang sống bằng những chớp nhỏ của bọt trắng hiện lên rồi mất ngay, và vệt sáng của những con sóng vỡ dọc bờ vịnh, rồi lờ mờ cái chòi đen dựa vào sườn cát. Và nàng thấy như mình đang đứng trong một hang đêm, đây là tiền đồn của cái chết. Tiếng sóng đập và tiếng nước rút róc rách giữa những hòn đá bãi triều hòa làm một với nhịp máu dội trong chính nàng, dẫu thân thể nàng như đang rã ra, như một cỗ xe mục nát sụp tung thành từng thanh; trong ngực đau nhức như có cái gì muốn phá toang nó từ bên trong; đầu nàng thấy rỗng và trống, như thể đã xốp mục, còn ngọn gió đều đều quấn quanh nàng rồi thổi xuyên qua nàng. Bằng một cách lạ lùng, gần như lãnh đạm, nàng hiểu rằng hẳn giờ chính mình cũng đã nhiễm dịch – nhưng nàng chờ như chờ bóng tối sẽ nứt ra bởi một luồng sáng gầm lên và át cả tiếng biển, và khi ấy nàng sẽ chìm đi trong kinh hoàng. Nàng kéo mũ trùm vốn đã bị gió hất ra sau đầu, kéo chặt áo choàng nữ tu đen quanh người và đứng khoanh hai tay dưới đó – nhưng nàng không nghĩ tới việc cầu nguyện; cứ như linh hồn nàng đã quá đủ bận bịu với việc lần ra khỏi căn nhà sắp đổ này, và chính điều đó xé rút trong ngực nàng mỗi khi nàng thở.

Nàng thấy lửa bùng lên trong chòi. Một lúc sau Ulf Haldorssøn gọi nàng: “Bà lại đây soi cho tôi, Kristin” – ông đứng trong ô cửa và chìa cho nàng một thanh củi tẩm nhựa đang cháy.

Mùi xác chết ập vào nàng đến nghẹt thở, dù căn chòi hở toang và cửa đã bật ra. Mắt nàng đờ cứng, miệng hé nửa – và nàng thấy hai hàm và môi mình cứng như gỗ – nàng nom như một người đã chết. Nhưng trên nền đất ở góc chòi chỉ có một bọc dài nằm đó; bên ngoài là chiếc áo choàng của Ulf quấn quanh.

Ông đã giật ra ở đâu đó mấy tấm ván dài và đặt cánh cửa lên trên. Vừa chửi cái đồ nghề vụng về ấy, ông vừa dùng rìu nhỏ và dao găm đục những nấc và lỗ, rồi loay hoay buộc cánh cửa chặt vào các tấm ván. Mấy lần ông ngước nhanh nhìn nàng, và lần nào gương mặt sẫm, râu xám của ông cũng khép lại cứng hơn.

“Không hiểu bà đã định xoay xở công việc này một mình ra sao,” ông nói, mắt vẫn cúi vào việc làm – liếc lên – nhưng gương mặt chết cứng kia trong ánh đỏ của thanh củi tẩm nhựa vẫn bất động như mặt một người đàn bà đã chết hay một kẻ mất trí. “Bà nói tôi nghe được không, Kristin?” ông cười gằn, nhưng chẳng ăn thua gì. “Bây giờ tôi thấy đã đến lúc bà đọc vài lời kinh rồi đấy.”

Vẫn cứng đờ và đờ đẫn, nàng bắt đầu đọc:

“Pater noster qui es in celis. Adveniat regnum tuum. Fiat voluntas tua sicut in celo et in terra–” rồi nàng khựng lại.

Ulf nhìn nàng. Rồi ông đọc tiếp:

“Panem nostrum quotidianum da nobis hodie–” ông đọc hết kinh Lạy Cha thật nhanh và dứt khoát, rồi bước tới làm dấu thánh giá trên bọc xác, mau lẹ và vững vàng nhấc nó đem đặt lên chiếc cáng ông vừa làm xong.

“Bà đi trước đi,” ông nói. “Có lẽ hơi nặng hơn một chút, nhưng như vậy bà đỡ ngửi mùi hơn. Ném thanh củi đi – không có nó ta thấy chắc chân hơn – và đừng bước trượt, Kristin – vì lúc này tôi thật muốn khỏi phải đụng thêm vào cái xác khốn khổ này.”

Nỗi đau đang vật lộn trong ngực nàng dường như vùng lên chống lại khi nàng nhận hai đòn cáng lên vai; lồng ngực _không chịu_ nhận lấy sức nặng ấy. Nhưng nàng nghiến chặt răng. Chừng nào họ còn đi dọc bờ biển, nơi gió thốc mạnh, nàng chưa cảm thấy mấy mùi xác chết.

“Chỗ này chắc tôi phải nhấc xác lên trước rồi mới kéo cáng lên sau,” Ulf nói khi họ tới chỗ dốc nơi trước đó họ đã đi xuống.

“Ta có thể đi thêm một quãng nữa,” Kristin nói, “tới chỗ người ta kéo xe rong biển xuống – ở đó không dốc lắm.”

Giọng nàng nghe bình tĩnh và tỉnh táo, người đàn ông nhận ra. Còn ông thì đến lúc ấy mới bắt đầu toát mồ hôi và run rẩy, khi mọi sự đã xong – ông đã tưởng đêm nay nàng sẽ mất trí.

Họ vật lộn đi lên con lối cát trải qua đồng đất hướng về rừng thông. Gió lùa thẳng vào đây, nhưng dẫu vậy vẫn không giống dưới bãi, và càng đi xa dần tiếng ầm ào nơi mép triều, nàng càng cảm thấy đó là chuyến trở về từ nỗi kinh hoàng ở tận cùng bóng tối. Bên cạnh lối đi bắt đầu ánh lên màu trắng, một thửa lúa mì mà chẳng còn ai đến gặt. Mùi của nó và cảnh những thân rạ nằm rạp chào đón nàng trở về nhà – và mắt nàng đầy nước mắt xót thương như của một người chị em – từ nỗi kinh hoàng hoang vắng và cơn khốn cùng của riêng mình, nàng trở về với cộng đồng của người sống và người chết.

Đôi khi mùi xác thối ghê rợn lại ập trùm lên nàng khi nàng bị gió thổi đúng từ phía sau tới, nhưng dẫu vậy vẫn không kinh khủng bằng lúc nàng đứng trong chòi – không gian ở đây đầy cái trong sạch của những luồng khí tươi, ướt và lạnh.

Và mạnh hơn nhiều so với cảm giác rằng nàng đang khiêng một vật kinh khủng trên chiếc cáng phía sau là ý thức rằng Ulf Haldorssøn đang đi và che chở sau lưng nàng khỏi nỗi kinh hãi đen tối, sống động mà họ đang bỏ lại đằng sau – tiếng nó vang lên yếu dần, yếu dần.

Khi họ tới bìa rừng thông, họ trông thấy ánh đuốc: “Họ đang đi đón ta,” Ulf nói.

Ngay sau đó họ gặp cả một đám đàn ông cầm đuốc nhựa thông và vài chiếc đèn lồng, cùng một chiếc cáng phủ khăn liệm – Sira Eiliv đi với họ, và Kristin kinh ngạc nhận ra trong toán người ấy có nhiều người đàn ông đã có mặt ở nghĩa địa hồi đầu đêm, và nhiều người trong số họ đang khóc. Khi họ nhấc gánh nặng khỏi vai nàng, nàng suýt ngã. Sira Eiliv định đỡ nàng, nàng vội nói:

“Đừng chạm vào tôi – đừng đến gần tôi – chính tôi cũng mắc dịch rồi, tôi biết vậy –”

Nhưng Sira Eiliv vẫn đỡ dưới vai nàng:

“Vậy thì bà hãy lấy đó mà an lòng, hỡi người đàn bà, rằng Đức Chúa chúng ta đã phán: Điều gì con làm cho một trong những người anh em hay chị em khốn cùng nhất của Ngài, tức là con đã làm cho chính Ngài.”

Kristin nhìn chằm chằm vào vị linh mục. Rồi nàng ngoảnh đi, nhìn chỗ đám đàn ông đang chuyển cái xác từ chiếc cáng Ulf vừa ghép sang cáng liệm. Áo choàng của Ulf xê dịch sang một chút – mũi một chiếc giày bị đạp bẹp ló ra, đen ướt trong ánh đuốc nhựa thông.

Kristin bước lại, quỳ xuống giữa hai đòn cáng và hôn lên chiếc giày:

“Xin Đức Chúa đoái thương chị – xin cho linh hồn chị được vui trong ánh sáng của Ngài – xin Ngài thương xót nhìn đến tất cả chúng con ở đây trong bóng tối –”

Rồi nàng tưởng như chính sự sống đang bị xé bật ra khỏi mình – một cơn đau nhói buốt, không thể nghĩ nổi, như có cái gì ở bên trong, bén rễ tới tận những khớp ngoài cùng của tay chân nàng, đang bị giật tung ra. Tất cả những gì ở trong ngực nàng đều bị lôi tuột ra – nàng thấy cổ họng mình đầy ứ nó, miệng nàng tràn máu với vị mặn và vị đồng bẩn – ngay khoảnh khắc sau, cả vạt trước áo nàng đã óng lên màu đen ướt – Lạy Chúa Giêsu, một mụ già mà cũng có đến ngần ấy máu sao, nàng nghĩ.

Ulf Haldorssøn bế nàng lên trong tay và mang nàng đi.

Ở cổng tu viện, các nữ tu cầm nến cháy sáng trong tay đi ra đón đoàn người. Lúc này Kristin vẫn chưa hoàn toàn tỉnh hẳn, nhưng nàng vẫn nhận biết rằng mình được nửa bế nửa đỡ đi qua cổng, và căn phòng vòm quét vôi trắng đầy lên bởi ánh chập chờn của những ngọn nến vàng và những bó đuốc nhựa thông đỏ, tiếng chân dậm vang dội như biển cả – nhưng đối với người đang hấp hối, đó như ánh phản chiếu của chính ngọn lửa sống đang tàn lụi trong nàng, và tiếng chân rơi trên nền gạch nghe như tiếng cuồn cuộn của những dòng nước chết chóc đang dâng lên phía nàng.

Rồi ánh sáng tỏa ra trong một khoảng rộng hơn – nàng lại ở dưới bầu trời tối rộng mở – trong sân – ánh lửa chạy lên trên một bức tường đá xám với những trụ chống đồ sộ và những ô cửa sổ cao – nhà thờ. Nàng được bế trong vòng tay ai đó – lại là Ulf – nhưng giờ đối với nàng ông hòa làm một với tất cả những ai đã từng nâng đỡ nàng. Khi nàng vòng tay ôm lấy cổ ông và ép má mình vào chiếc cổ rậm râu của ông, thì như thể nàng lại là đứa trẻ trong vòng tay cha mình, nhưng cũng như thể nàng đang ôm một đứa trẻ vào lòng –. Và sau cái đầu đen sẫm của ông là những ánh lửa đỏ, và chúng tựa như ánh của ngọn lửa nuôi dưỡng mọi tình yêu.

– Một lúc sau nàng mở mắt ra và đã hoàn toàn tỉnh táo, sáng suốt. Nàng ngồi tựa trên giường trong phòng ngủ chung, một nữ tu cúi trên nàng, phần dưới khuôn mặt che bằng một dải vải lanh, nàng ngửi thấy mùi giấm. Đó là sơ Agnes, nàng nhận ra qua đôi mắt và nốt mụn đỏ nhỏ trên trán. Và bây giờ đã là ban ngày – thứ ánh sáng xám trong trẻo trải vào phòng qua ô cửa nhỏ.

Giờ nàng không còn đau nữa – nàng chỉ ướt đẫm mồ hôi, kiệt sức ghê gớm và mệt lả, còn trong ngực thì nhói và rát mỗi khi nàng thở. Nàng tham lam uống thứ nước giải khát mà sơ Agnes đưa lên miệng nàng. Nhưng nàng thấy rét –

Kristin ngả mình trở lại lên đống gối, và lúc này nàng nhớ ra mọi chuyện đã xảy đến trong đêm. Nhưng cái ánh chập chờn như mộng ấy đã tan biến hẳn; hẳn nàng đã mê man đi ít nhiều, nàng hiểu thế; nhưng tốt biết bao vì nàng đã làm xong việc này, cứu được đứa bé trai nhỏ và ngăn những con người khốn khổ ấy khỏi mang lấy trên mình một tội ác như vậy. Nàng biết, hẳn nàng phải vui mừng lớn lao lắm, chính nàng đã được phúc phần làm nên việc ấy ngay trước khi phải chết, nhưng nàng không còn đủ sức mà vui như lẽ ra phải vậy; nàng cảm thấy một sự thỏa lòng, giống như khi nằm trên giường mình ở Jørundgaard, mệt lả sau một ngày làm việc đến nơi đến chốn. Rồi nàng phải cảm tạ Ulf–

– Nàng đã nhắc tên ông, và hẳn ông ngồi khuất ở gần cửa mà nghe thấy, vì giờ ông bước băng qua nền nhà và đứng trước giường nàng. Nàng đưa tay cho ông, và ông cầm lấy, siết chặt, vững vàng.

Lập tức người đàn bà đang hấp hối bồn chồn, hai tay lần mò dưới những nếp vải lanh quấn quanh cổ.

“Có chuyện gì vậy, Kristin?” Ulf hỏi.

“Thánh giá,” nàng thì thào và moi ra được cây thánh giá mạ vàng của cha nàng. Nàng sực nhớ, hôm qua nàng đã hứa sẽ dâng một lễ vật cho linh hồn người đàn bà khốn khổ Steinunn này. Nàng đã không nhớ rằng mình chẳng còn sở hữu gì nữa trên đời. Lúc này nàng không còn gì thuộc quyền định đoạt của mình ngoài cây thánh giá này, món nàng nhận từ cha nàng, và chiếc nhẫn đính hôn. Nó vẫn còn trên tay nàng.

Nàng tuột nó ra và nhìn. Nó nằm nặng trong lòng bàn tay, bằng vàng ròng, nạm những viên đá đỏ lớn. Erlend, nàng nghĩ, và bỗng nàng thấy rằng bây giờ tốt hơn hết nàng cũng nên đem cho luôn cái này; nàng không biết vì sao, nhưng nàng cảm thấy mình phải làm thế. Nàng nhắm nghiền mắt trong đau đớn và đưa nó cho Ulf:

“Bà muốn gửi nó cho ai,” ông khẽ hỏi, và khi nàng không đáp: “Hay bà muốn tôi đưa nó cho Skule–?”

Kristin lắc đầu yếu ớt, mắt vẫn nhắm chặt.

“Steinunn– tôi đã hứa– lễ cầu hồn cho chị ấy–”

Nàng mở mắt, nhìn theo chiếc nhẫn đang nằm trong bàn tay đen sạm của người thợ rèn. Và nước mắt nàng bỗng vỡ òa thành một dòng dữ dội, vì dường như chưa bao giờ trước đây nàng hiểu trọn vẹn nó có nghĩa gì. Cuộc đời mà chiếc nhẫn ấy đã thánh hiến nàng vào, cuộc đời nàng từng than vãn, từng cằn nhằn chống đối, từng nổi giận, từng bướng bỉnh chống lại, vậy mà nàng đã yêu nó biết bao, đã vui sướng trong đó với cả điều dữ lẫn điều lành, đến nỗi không có một ngày nào mà nàng không thấy nặng lòng khi phải trả nó lại cho Chúa, không có một nỗi đau nào nàng có thể dâng hiến mà không thấy luyến tiếc–.

Ulf và bà xơ trao đổi với nhau mấy lời nàng không nghe rõ, rồi ông đi ra khỏi buồng. Kristin muốn nhấc tay lên lau mắt mà không đủ sức, bàn tay cứ nằm đè trên ngực. Trong ấy đau quá đỗi, bàn tay nặng trĩu, và dường như chiếc nhẫn vẫn còn ở trên ngón tay. Đầu óc nàng lại bắt đầu mụ đi; nàng phải nhìn xem có thật là nó đã đi rồi không, rằng nàng không chỉ nằm mơ thấy mình đem cho nó đi; giờ nàng cũng bắt đầu không còn chắc nữa, tất cả những gì xảy ra trong đêm, đứa trẻ trong mộ, mặt biển đen với những ánh lấp loáng mau lẹ của sóng nhỏ, cái xác mà nàng đã mang, nàng không biết mình đã mơ thấy hay đã thức mà trải qua. Và nàng không còn đủ sức mở mắt ra.

“Chị ạ,” bà xơ nói, “chị không được ngủ bây giờ đâu– Ulf đi mời linh mục đến cho chị rồi.”

Kristin choàng tỉnh hẳn với một cái giật mình, ghim mắt vào bàn tay mình. Chiếc nhẫn vàng đã mất rồi, điều ấy chắc chắn; nhưng ở chỗ nó đã nằm trên ngón giữa còn một vết hằn nhẵn bóng. Trên làn da nâu sạm và thô ráp, nó hiện lên rõ mồn một, như một vết sẹo bằng da trắng mỏng; nàng tưởng như còn phân biệt được cả hai chấm tròn nơi hai viên hồng ngọc hai bên, và như một nét khía nhỏ, một chữ M, từ mặt giữa có đục xuyên dấu thánh danh của Đức Trinh Nữ Maria trong vàng.

Và ý nghĩ minh bạch cuối cùng thành hình trong óc nàng là, nàng sẽ chết trước khi dấu vết ấy kịp phai đi, và nàng vui mừng. Nàng thấy đó như một mầu nhiệm nàng không hiểu nổi, nhưng dù vậy nàng vẫn biết chắc: Chúa đã giữ chặt nàng trong một giao ước đã được đặt định cho nàng, dù nàng không hiểu, bởi một tình yêu đã được đổ xuống trên nàng; và bất chấp ý riêng của nàng, bất chấp tâm hồn nặng nề, bám đất của nàng, vẫn có một phần của tình yêu ấy ở lại trong nàng, đã tác động trong nàng như mặt trời trong lòng đất, đã thúc lên một mùa màng mà ngọn lửa ái tình nóng bỏng nhất và cơn cuồng nộ dữ dội của ái tình cũng không thể tàn phá hoàn toàn. Nàng đã là một nữ tỳ của Chúa, một đứa hầu bướng bỉnh và miễn cưỡng, phần nhiều chỉ phụng sự ngoài mặt trong những lời cầu nguyện và bất trung trong lòng, lười nhác và chểnh mảng, không nhẫn nại dưới roi sửa phạt, chẳng mấy bền chí trong công việc mình; thế mà Người vẫn giữ chặt nàng trong sự phụng sự của Người, và dưới chiếc nhẫn vàng lấp lánh ấy đã âm thầm in xuống nàng một dấu ấn rằng nàng là nữ tỳ của Người, thuộc về vị Chúa và Vua ấy, Đấng lúc này đang đến, được nâng trên đôi tay đã thánh hiến của linh mục, để ban cho nàng tự do và ơn cứu rỗi–.

Ngay sau khi cha Eiliv đã ban cho nàng phép xức dầu sau hết và của ăn đàng, Kristin Lavransdatter lại mất ý thức. Nàng nằm đó với những cơn khạc ra máu dữ dội và cơn sốt bỏng rát, và vị linh mục ở lại bên nàng nói với các bà xơ rằng nàng sẽ đi nhanh thôi.

– Có những lúc người đàn bà hấp hối còn tỉnh táo vừa đủ để nhận ra gương mặt này gương mặt khác, cha Eiliv, các bà xơ, có một lần chính phu nhân Ragnhild cũng ở đó, và nàng thấy Ulf. Nàng gắng sức tỏ cho họ biết nàng nhận ra họ, và nàng thấy tốt biết bao rằng họ ở bên nàng và có lòng tốt với nàng. Nhưng với những người đứng quanh, tất cả chỉ như nàng đang quờ quạng hai tay trong cơn vật vã của cái chết.

Có một lần nàng thấy khuôn mặt Munan, đứa con trai bé nhỏ của nàng nhìn nàng qua khe cửa. Rồi nó rụt đầu lại, và người mẹ nằm đó nhìn trân trân cánh cửa, chờ xem thằng bé có ló ra nữa không. Nhưng thay vào đó phu nhân Ragnhild bước vào và lau mặt nàng bằng một chiếc khăn ướt, mà điều ấy cũng dễ chịu biết bao.– Rồi mọi sự chìm mất trong một màn sương đỏ sẫm và một tiếng ù, lúc đầu dâng lên ghê rợn, nhưng rồi tiếng ù ấy lịm dần từng chút, và làn sương đỏ mỏng đi, sáng hơn lên, và sau cùng như một làn sương mai mịn nhẹ trước khi mặt trời xuyên qua, và hoàn toàn không một tiếng động, và nàng biết rằng giờ nàng đang chết–.

Cha Eiliv và Ulf Haldorssøn cùng đi ra khỏi chỗ người chết. Ở cửa dẫn ra sân tu viện họ dừng lại–.

Tuyết đã rơi. Không ai trong những người ngồi bên nàng suốt lúc nàng vật lộn qua cơn hấp hối nhận ra điều đó. Ánh phản chiếu trắng lóa hắt lên kỳ lạ từ mái dốc đứng của nhà thờ phía đối diện; ngọn tháp sáng lên dưới bầu trời xám phủ sương lạnh. Tuyết đọng mịn và trắng trên mọi khung cửa sổ và mọi gờ nhô nơi những bức tường đá xám đẽo gọt của nhà thờ. Và dường như hai người đàn ông còn chần chừ, vì họ không nỡ in dấu chân mình lên lớp tuyết mới mỏng manh trong sân.

Họ hít đầy lồng ngực không khí. Sau cái mùi ngột ngạt vốn luôn đọng lại trong buồng người mắc dịch, nó ngọt lịm, mát lành, như hơi rỗng và mỏng một chút, nhưng dường như trận tuyết này hẳn đã gột rửa bệnh tật và sự lây nhiễm ra khỏi không trung; nó trong lành như nước mới.

Chuông trên tháp lại bắt đầu đổ, hai người ngẩng lên nhìn chỗ có sự lay động sau các ô cửa chuông. Những hạt tuyết nhỏ bung ra khỏi chóp tháp vì chấn động, lăn xuống và tụ thành những viên nhỏ, để lộ ra đôi chút lớp ván lợp đen bên dưới.

“Đám tuyết này chắc khó mà nằm lại được,” Ulf nói.

“Không, hẳn nó sẽ tan trước chiều tối,” vị linh mục đáp. Có những vệt rách vàng nhạt trong mây, và một tia nắng yếu ớt, như đang dò xét, rơi xuống mặt tuyết.

Hai người đàn ông vẫn đứng đó. Rồi Ulf Haldorssøn khẽ nói:

“Tôi đang nghĩ điều này, cha Eiliv– tôi muốn dâng một ít đất cho nhà thờ ở đây– và một chiếc chén mà nàng đã trao cho tôi thay mặt Lavrans Bjørgulfsøn– lập một lễ cầu hồn cho nàng– và cho các con nuôi của tôi– và cho người ấy nữa, Erlend, bà con của tôi–”

Vị linh mục cũng đáp khẽ, không nhìn người đàn ông:

“– Tôi cũng nghĩ rằng anh có thể cho rằng mình cần tỏ lòng cảm tạ với Đấng đã dẫn anh tới đây vào tối qua– anh có thể hết sức mãn nguyện vì đã được giúp nàng vượt qua đêm này.”

“Vâng, chính là điều ấy tôi muốn nói,” Ulf Haldorssøn đáp. Rồi ông khẽ cười: “Và giờ thì tôi gần như hối tiếc, thưa cha, vì tôi đã là một người quá đạo hạnh– đối với nàng!”

“Phí công mà tiêu thì giờ vào một nỗi hối tiếc phù phiếm như thế,” vị linh mục đáp.

“Cha muốn nói gì–?”

“Tôi muốn nói rằng thứ duy nhất đáng cho một người phải hối tiếc, là những tội lỗi của mình thôi,” vị linh mục nói.

“Sao lại thế?”

“Vì không ai là tốt lành ngoài một mình Chúa. Và chúng ta chẳng thể làm điều lành nào nếu không bởi Người. Vậy nên hối tiếc một việc lành là điều vô ích, Ulf, vì điều lành anh đã làm thì không thể rút lại được; dẫu cho mọi núi non có sụp đổ cả đi, nó vẫn đứng đó–”

“Thôi thôi. Những điều ấy tôi không hiểu đâu, thưa cha. Tôi mệt rồi–”

“Vâng– và giờ hẳn anh cũng đói rồi– anh theo tôi sang nhà bếp lửa đi, Ulf,” vị linh mục nói.

“Xin cảm ơn, tôi không muốn ăn,” Ulf Haldorssøn đáp.

“Dù vậy giờ anh vẫn phải theo tôi sang đó mà ăn,” cha Eiliv nói, đặt tay lên tay áo ông và kéo ông đi cùng. Họ bước ra sân và đi xuống phía nhà bếp lửa. Bất giác cả hai đều đặt chân nhẹ và khẽ nhất có thể trên lớp tuyết mới.