Kristin Lavransdatter III: Thập giá — Chương 20: Tập III — Thập giá · Phần III — Thập giá · Chương VI
Chương 20 / 21 · Bài review Kristin Lavransdatter III: Thập giá
Tu viện nằm trên một gò cao nhỏ gần vịnh hẹp, vì thế mỗi khi gió nổi từ hầu hết mọi hướng, tiếng sóng vỗ dội vào bờ lại ngân lên, át cả tiếng rì rào của rừng thông phủ kín các sườn gò phía bắc và phía tây, che khuất tầm nhìn ra biển.
Kristin từng trông thấy tháp nhà thờ nhô lên trên rừng mỗi khi nàng cùng Erlend đi thuyền ngang qua đây, nhưng chuyến viếng thăm tu viện nữ do tổ tiên chàng sáng lập, chuyến đi mà đôi lần Erlend đã nói họ nên thực hiện, rốt cuộc chẳng bao giờ thành. Trước khi đến đây để ở lại, nàng chưa từng đặt chân lên bờ tại tu viện Rein.
Nàng đã tưởng đời sống ở đây hẳn cũng giống như những gì nàng biết về các tu viện nữ tại Oslo hay ở Bakke, nhưng nơi này khác nhiều và tĩnh lặng hơn nhiều. Quả thực, các nữ tu ở đây đã chết đối với thế gian. Viện mẫu Ragnhild vẫn lấy làm tự hào rằng đã năm năm bà chưa vào phố thị, và cũng ngần ấy năm chưa một nữ tu nào của bà bước chân ra ngoài ranh giới tu viện.
Ở đây không nhận trẻ nhỏ để nuôi dạy, và vào thời điểm Kristin đến Rein, tu viện cũng không có tập sinh nào; đã quá nhiều năm không một thiếu nữ nào xin gia nhập hội chị em, đến nỗi người vào dòng sau cùng trong cộng đoàn, sơ Borghild Marcellina, cũng đã khấn dòng được sáu mùa đông. Người ít tuổi nhất là sơ Turid, nhưng từ năm lên sáu, chị đã được ông nội gửi tới đây; ông là linh mục tại nhà thờ Thánh Klemens, một người hết sức nghiêm khắc và khắc khổ. Đứa trẻ từ khi sinh ra đã bị co quắp bàn tay, thân thể lại có phần tật nguyền, nên vừa đủ tuổi là được mặc áo dòng. Nay chị đã ba mươi tuổi, rất hay đau yếu, nhưng có một gương mặt khả ái; ngay từ ngày đầu tới tu viện, Kristin đã đặc biệt chăm nom hầu hạ chị, bởi nàng thấy sơ Turid gợi nhớ đến cô em gái nhỏ Ulvhild của mình, người đã chết khi còn quá trẻ.
Cha Eiliv nói rằng xuất thân thấp hèn hẳn không thể là trở ngại đối với những thiếu nữ muốn đến đây phụng sự Thiên Chúa. Nhưng từ khi tu viện Rein được thành lập, hầu như chỉ có con gái hoặc góa phụ của những người đàn ông quyền thế, dòng dõi cao sang ở Trøndelag vào đây. Song trong những năm tháng dữ dội và rối ren của vương quốc kể từ khi đức vua Haakon Haalegg quá cố băng hà, lòng mộ đạo dường như đã sa sút nhiều trong giới đại thủ lĩnh—giờ đây phần đông những người nghĩ tới đời sống nữ tu là con gái dân thành thị và những nông dân khá giả. Mà họ thường tìm đến Bakke hơn, nơi nhiều người trong số họ từng được dạy dỗ về lòng kính sợ Thiên Chúa và nữ công, nơi các nữ tu phần nhiều xuất thân bình dân, luật nội cấm không quá nghiêm ngặt, và tu viện cũng không nằm quá xa đường cái quan.
Ngoài ra, Kristin hiếm khi có dịp trò chuyện với cha Eiliv, và nàng sớm hiểu rằng địa vị của vị linh mục trong tu viện vừa nhọc nhằn vừa khó xử. Mặc dù Rein là một tu viện giàu có, và hội chị em chưa tới một nửa số nữ tu mà nguồn tài sản sáng lập đủ sức nuôi dưỡng, tiền nong của tu viện vẫn vô cùng rối ren và các khoản chi tiêu rất khó trang trải. Ba vị viện mẫu gần đây đều là những phụ nữ mộ đạo hơn là thạo việc đời; tuy vậy, họ cùng cộng đoàn đã chống giữ bằng cả nanh vuốt để khỏi phải phục quyền tổng giám mục—họ hiểu điều này đến mức ngay cả lời khuyên xuất phát từ thiện ý của một người cha cũng không chịu nghe. Còn những người anh em cùng dòng từ Tautra và Munkabu từng làm linh mục tại nhà thờ này thì bao giờ cũng là những ông già, để khỏi nảy sinh tiếng xấu, nhưng họ chỉ có tài xoàng trong việc quản trị phúc lợi vật chất của tu viện. Khi vua Skule xây ngôi nhà thờ đá mỹ lệ và hiến cơ nghiệp tổ truyền của mình làm tu viện, các dãy nhà lúc đầu được dựng bằng gỗ, và ba mươi mùa đông trước chúng đã bị thiêu rụi. Bà Audhild, viện mẫu thuở ấy, bắt đầu xây lại bằng đá; từ thời bà có nhiều công trình tu bổ nhà thờ và gian hội họp xinh đẹp của cộng đoàn. Bà còn thực hiện một chuyến đi dự tổng tu nghị tại tu viện mẹ của dòng là Tart ở Bourgogne, và từ chuyến đi ấy bà mang về ngọn tháp ngà tráng lệ đặt trong cung thánh gần bàn thờ chính—một nơi xứng đáng để lưu giữ Mình Thánh Chúa, vật trang hoàng cao quý nhất của nhà thờ, niềm kiêu hãnh và báu vật thân yêu nhất của các nữ tu. Bà Audhild qua đời với thanh danh rạng rỡ nhất về lòng mộ đạo và đức hạnh, nhưng cách bà quản lý thợ xây thiếu hiểu biết cùng những vụ giao dịch đất đai khờ dại đã làm tổn hại cơ nghiệp tu viện, và các viện mẫu về sau không đủ sức sửa chữa thiệt hại ấy.
Kristin không bao giờ biết cha Eiliv đã tới đó làm linh mục kiêm cố vấn bằng cách nào, nhưng nàng hiểu được chừng này: ngay từ đầu, viện mẫu và các nữ tu đã tiếp nhận một linh mục triều với lòng miễn cưỡng và ngờ vực; còn địa vị của cha Eiliv tại Rein buộc ông vừa phải làm linh mục và người chăm sóc linh hồn cho các nữ tu, tìm cách chấn chỉnh việc quản lý điền sản và sắp xếp lại sổ sách tu viện, vừa phải thừa nhận quyền tối thượng của viện mẫu, quyền tự quản của hội chị em và quyền giám sát của viện phụ Tautra, lại vừa phải giữ hòa hảo với vị linh mục kia tại nhà thờ, một tu sĩ từ Tautra. Tuổi tác cùng tiếng thơm về đời sống thanh sạch không tì vết, lòng kính Chúa khiêm nhường, và sự am tường cả giáo luật lẫn luật xứ hẳn đã giúp ích nhiều cho ông, nhưng trong mọi việc ông vẫn phải hết sức dè dặt. Ông sống cùng vị linh mục kia và những người phục vụ nhà thờ tại một gia trang nhỏ nằm về phía đông bắc tu viện. Những tu sĩ thỉnh thoảng từ Tautra tới vì các công việc khác nhau cũng được lưu trú ở đó. Kristin biết rằng một khi Nikulaus được thụ phong linh mục, nếu nàng còn sống đến ngày ấy, rồi sẽ có lần nàng được nghe người con trai cả của mình cử hành thánh lễ tại nhà thờ này.
Thoạt đầu Kristin Lavransdatter được tiếp nhận với tư cách một người lưu dưỡng theo khế ước. Nhưng sau khi, trước mặt viện mẫu Ragnhild và các nữ tu, với sự chứng kiến của cha Eiliv cùng hai tu sĩ từ Tautra, nàng khấn giữ đức khiết tịnh, vâng phục viện mẫu và hội chị em, rồi để tỏ dấu từ bỏ mọi quyền định đoạt của cải trần thế, nàng trao con dấu của mình vào tay cha Eiliv và ông đập nó vỡ tan, nàng được phép mặc y phục giống các nữ tu: áo dài bằng len màu trắng xám, nhưng không có áo vai, khăn trùm đầu trắng và mạng đen. Sau một thời gian, nàng dự định sẽ xin gia nhập hội chị em với tư cách một nữ tu đã khấn.
Nhưng nàng vẫn thấy khó lòng không nghĩ quá nhiều đến những chuyện đã qua. Để đọc lớn trong các bữa ăn tại phòng ăn chung, cha Eiliv đã chuyển sang tiếng Na Uy một cuốn sách về cuộc đời Đức Kitô do vị tổng quyền Dòng Anh Em Hèn Mọn, tiến sĩ Bonaventura uyên bác và mộ đạo, soạn ra. Trong lúc lắng nghe, mắt Kristin đầy lệ khi nàng nghĩ rằng người nào có thể yêu Đức Kitô và Mẹ Người, yêu thập giá và đau khổ, khó nghèo và khiêm nhường như những gì được viết ở đây, người ấy hẳn diễm phúc biết bao—thế nhưng nàng vẫn không khỏi nhớ tới ngày ở Husaby, khi Gunnulf và cha Eiliv cho nàng xem cuốn sách tiếng Latinh mà bản này được dịch theo. Đó là một cuốn sách nhỏ, dày, viết trên thứ da thuộc trắng mỏng và bóng đến nỗi nàng chưa từng tin da bê có thể được chế tác tinh xảo đến vậy; trong sách có những bức họa cùng các chữ cái đầu chương đẹp nhất, màu sắc rực lên như đá quý trên nền vàng. Khi ấy Gunnulf vừa cười vừa kể, còn cha Eiliv phụ họa bằng nụ cười lặng lẽ—rằng vì mua cuốn sách này, họ đã cạn sạch tiền, phải bán quần áo và ăn chung với những người sống nhờ bố thí tại một tu viện, cho tới khi hay tin có mấy giáo sĩ Na Uy tới Paris và mượn được tiền của họ.
Khi các nữ tu trở về phòng ngủ sau giờ kinh Đêm, Kristin nán lại trong nhà thờ. Những buổi sớm mùa hạ ở trong này đối với nàng thật êm dịu và khoan khoái, nhưng vào mùa đông thì lạnh khủng khiếp, và nàng sợ bóng tối giữa bao nhiêu phiến đá mộ, dù mắt vẫn không rời ngọn đèn nhỏ luôn cháy trước ngọn tháp ngà chứa Bánh Thánh. Nhưng bất kể đông hay hạ, trong lúc ngồi lại nơi góc của mình trong khu ca đoàn nữ tu, nàng đều nghĩ rằng giờ đây Naakkve và Bjørgulf đang thức canh và cầu nguyện cho linh hồn cha họ; chính Nikulaus đã dặn nàng mỗi sáng sau giờ kinh Đêm hãy cùng các con đọc những lời nguyện và các thánh vịnh thống hối này.
Bao giờ, bao giờ nàng cũng thấy trước mắt hai người con đúng như lần nàng trông thấy họ vào ngày mưa xám khi ra thăm tu viện. Khi Nikulaus bất ngờ đứng trước mặt nàng trong phòng tiếp khách, cao lớn khác thường và xa lạ trong bộ áo dòng trắng xám, hai bàn tay luồn dưới áo vai—con trai nàng, vậy mà đã đổi khác đến thế. Điều khiến nàng xúc động mãnh liệt nhất là con giống cha—như thể nàng đang nhìn Erlend trong áo chùng tu sĩ.
Trong lúc hai mẹ con ngồi trò chuyện và nàng phải kể lại mọi chuyện xảy ra tại gia trang kể từ ngày con rời nhà, nàng cứ chờ mãi, chờ mãi. Cuối cùng nàng lo lắng hỏi sao Bjørgulf vẫn chưa tới.
“Con không biết, mẹ ạ,” người con đáp. Một lát sau, chàng nói: “Đối với Bjørgulf, cúi mình dưới thập giá của em ấy và phụng sự Thiên Chúa là một cuộc tranh đấu gian nan—. Và khi nghe tin mẹ tới đây, em ấy dường như lo sợ—sợ quá nhiều ý nghĩ lại bị khơi dậy—”
Sau đó nàng chỉ ngồi nhìn Nikulaus, lòng đau buồn như chết, trong khi chàng nói. Gương mặt chàng rám nắng sẫm, đôi tay chai sạn vì lao động—chàng mỉm cười, nhắc rằng rốt cuộc giờ đây mình cũng đã phải học cách điều khiển cày, sử dụng lưỡi hái và liềm. Đêm ấy nàng không ngủ trong nhà khách, và khi chuông gọi giờ kinh Đêm vang lên, nàng vội tới nhà thờ. Nhưng các tu sĩ đứng theo hàng như thế, nàng chỉ nhìn được mặt vài người, mà các con trai nàng không ở trong số ấy.
Nhưng ngày hôm sau, nàng vào vườn cùng một tu huynh trợ sĩ đang làm việc tại đó, và ông chỉ cho nàng xem nhiều loài cây cỏ hiếm quý đã làm nên tiếng tăm của khu vườn. Trong lúc họ đi như vậy, mây rẽ ra, mặt trời ló lên, hương cần tây, hành và cỏ xạ hương tỏa ngát; những bụi huệ vàng và lâu đẩu xanh lớn tô điểm các góc luống lấp lánh, nặng trĩu nước mưa. Bấy giờ các con trai nàng xuất hiện, cả hai cùng bước ra qua cánh cửa vòm nhỏ trên tòa nhà đá. Và Kristin ngỡ mình được nếm trước niềm hoan lạc của thiên đường, khi trông thấy hai anh em cao lớn, áo sáng màu, đi xuống về phía nàng trên con đường nhỏ dưới những cây táo.
Ngoài ra, họ không trò chuyện với nhau nhiều; Bjørgulf gần như im lặng suốt buổi. Giờ đây, khi đã trưởng thành, chàng có tầm vóc của một người khổng lồ. Và dường như cuộc xa cách lâu dài đã khiến mắt nàng tinh tường hơn—đến lúc này nàng mới hiểu trọn vẹn người con ấy đã tranh đấu ra sao, và hẳn vẫn còn đang tranh đấu, trong khi thân thể chàng lớn lên cao lớn, cường tráng, trong khi cái nhìn nội tâm ngày càng sắc bén và chàng cảm thấy thị lực mình đang lụi dần—.
Có lần chàng hỏi thăm mẹ nuôi của mình, Frida Styrkaarsdatter. Kristin kể rằng cô đã lấy chồng.
“Xin Thiên Chúa ban phúc cho chị ấy,” vị tu sĩ nói. “Chị ấy là một người phụ nữ tốt—đối với con, chị ấy là một người mẹ nuôi tốt bụng và tận tụy.”
“Phải, mẹ gần như nghĩ rằng cô ấy còn là mẹ của con hơn cả mẹ,” Kristin buồn bã nói. “Con chẳng cảm nhận được bao nhiêu tấm lòng người mẹ của mẹ, khi tuổi trẻ của con phải chịu những thử thách khắc nghiệt đến thế.”
Bjørgulf khẽ đáp:
“Con tạ ơn Thiên Chúa vì kẻ thù rốt cuộc không bao giờ khuất phục được con đến nỗi hèn yếu mà đem lòng mẹ ra thử thách—dù con vẫn biết rõ tấm lòng ấy—nhưng con thấy mẹ đã phải kéo một gánh nặng biết bao—và sau Thiên Chúa, chính Nikulaus đây đã cứu con vào những lần con sắp sa vào cám dỗ—”
Không ai nói thêm về chuyện ấy, cũng không nói họ sống trong tu viện ra sao, hay chuyện họ hẳn đã phạm lỗi gì và chuốc lấy thất sủng. Nhưng họ có vẻ hết sức vui mừng khi nghe về ý định của mẹ là vào tu viện Rein.
Khi từ giờ cầu nguyện ấy trở về qua phòng ngủ và nhìn các nữ tu nằm từng đôi trên những đệm rơm trong giường, vẫn mặc những chiếc áo dài họ không bao giờ cởi, Kristin nghĩ mình hẳn khác xa những người phụ nữ từ thuở thanh xuân chỉ phụng sự Đấng Tạo hóa này biết bao. Thế gian là một ông chủ không dễ gì trốn khỏi, một khi người ta đã đặt mình dưới quyền lực của nó. Phải, thật ra nàng cũng đâu có trốn khỏi thế gian; nàng bị nó đuổi đi, như một ông chủ hà khắc tống kẻ tôi tớ đã kiệt sức ra khỏi cửa—và giờ đây nàng được thu nhận vào đây, như một ông chủ nhân từ đón nhận người đầy tớ già, vì lòng thương xót mà giao cho chút việc làm, trong khi cho con người già nua, kiệt quệ và không nơi nương tựa ấy chỗ ở cùng cái ăn—.
Từ nhà ngủ của các nữ tu có một hành lang có mái che dẫn sang phòng dệt. Kristin ngồi một mình quay sợi; các nữ tu Rein nổi tiếng về vải lanh, và những ngày mùa hạ cùng mùa thu, khi tất cả nữ tu và các chị em trợ sĩ ra làm việc trên những ruộng lanh, chẳng khác nào ngày hội trong tu viện, nhất là ngày họ nhổ cây. Sơ chế, quay sợi và dệt lanh, rồi may thành đồ vải dùng trong nhà thờ, là công việc chính của các nữ tu trong giờ lao động. Ở đây không có ai sao chép và trang hoàng sách như các nữ tu tại Oslo dưới quyền bà Groa Guttormsdatter từng thực hiện với tài nghệ cao cường đến thế, và họ cũng không mấy khi luyện phép thêu tinh xảo bằng tơ và chỉ vàng.
Sau một lúc, nàng bắt đầu thích thú lắng nghe những âm thanh của khu chăn nuôi đang thức giấc. Các chị em trợ sĩ sang nhà bếp để nấu ăn cho người làm; các nữ tu không bao giờ đụng tới thức ăn hay đồ uống trước thánh lễ ban ngày, trừ khi đau ốm. Khi chuông gọi giờ kinh Nhất vang lên, Kristin tới phòng bệnh nếu có người nằm đó, để thay phiên cho sơ Agata hoặc nữ tu nào khác đang trực. Sơ Turid tội nghiệp thường xuyên phải nằm ở đó.
Rồi chẳng bao lâu nàng lại bắt đầu mong tới bữa ăn ban ngày, diễn ra sau giờ kinh Ba và thánh lễ dành cho người làm của tu viện. Ngày nào Kristin cũng mong chờ bữa ăn trang nghiêm, đẹp đẽ ấy như nhau. Phòng ăn chung là một ngôi nhà gỗ, nhưng vẫn là một đại sảnh xinh đẹp, và tất cả phụ nữ trong tu viện đều dùng bữa cùng nhau—các nữ tu ngồi ở bàn trên, nơi viện mẫu ngự trên ghế cao; ba bà lão được lưu dưỡng tại đây theo khế ước, ngoài bản thân nàng, cũng ngồi ở đó, còn các chị em trợ sĩ ngồi thấp xuống phía dưới. Khi lời nguyện đã dứt, thức ăn và đồ uống được mang vào, tất cả đều ăn uống trong im lặng, dáng điệu điềm đạm, đoan trang, trong lúc thường có một nữ tu đọc lớn từ một cuốn sách, nàng nghĩ rằng nếu người đời có thể dùng bữa với cung cách nền nếp như thế, hẳn họ sẽ hiểu rõ hơn rằng thức ăn và đồ uống là những thứ Thiên Chúa cho mượn, sẽ rộng lòng hơn với những người đồng đạo, và bớt nghĩ tới việc vơ vét cho bản thân cùng người nhà. Nhưng chính nàng từng biết một cảnh tượng khác, vào thời nàng bày bàn cho cả đám đàn ông ngỗ nghịch, ồn ào, vừa cười vừa huyên náo, trong khi lũ chó gặm nhấm dưới gầm bàn, thò mõm lên rồi được quẳng cho xương thịt hoặc ăn đòn, tùy tâm trạng của các chàng trai.
Hiếm khi có lữ khách tới đây. Đôi khi một chiếc thuyền chở người từ các điền trang của những đại thủ lĩnh ghé vào bờ trên đường đi ngược hoặc xuôi theo vịnh hẹp, và những người đàn ông cùng các bà chủ nhà, dẫn theo con cái và người trẻ, lên Rein thăm một phụ nữ họ hàng trong hội chị em. Rồi còn có những quản sự từ các điền trang và trạm đánh cá của tu viện, cùng sứ giả thỉnh thoảng từ Tautra tới. Vào những lễ được cử hành trọng thể nhất—các lễ kính Đức Trinh Nữ Maria, lễ Mình Thánh Chúa và ngày lễ Thánh Tông đồ Andreas—dân chúng từ những vùng gần nhất ở hai bên vịnh hẹp tìm đến nhà thờ của các nữ tu; ngoài những dịp ấy, chỉ có tá điền và người làm của tu viện sống gần nhất tới dự thánh lễ. Họ không chiếm bao nhiêu chỗ trong gian nhà thờ rộng lớn.
Rồi còn những người nghèo—những người thuộc diện nhận bố thí thường lệ, được cấp bia và thức ăn theo di chúc của nhà giàu vào dịp lễ cầu hồn hằng năm, cùng những kẻ khác hầu như ngày nào cũng lần lên Rein; họ ngồi bên vách nhà bếp mà ăn, và hễ các nữ tu bước ra sân là tìm đến để kể lể những nỗi khổ đau, phiền muộn của mình. Người bệnh, người tàn tật và người phong cùi ra vào không ngớt—ở đây có nhiều người mắc chứng lở mục da thịt, nhưng phu nhân Ragnhild nói rằng các miền ven biển xưa nay vẫn thế. Tá điền đến xin giảm nhẹ hoặc khất các khoản phải nộp, và khi ấy bao giờ họ cũng có rất nhiều chuyện về nghịch cảnh cùng những điều gian khó để kể. Những người ấy càng khốn cùng, bất hạnh bao nhiêu thì càng thổ lộ với các nữ tu về cảnh ngộ của mình một cách cởi mở, không chút ngượng ngùng bấy nhiêu, mặc dù họ thường đổ lỗi cho kẻ khác về tai họa của mình và luôn miệng nói những lời đạo hạnh. Không có gì lạ khi trong giờ nghỉ ngơi và tại phòng dệt, câu chuyện của các nữ tu phần lớn xoay quanh cuộc đời những người ấy—quả vậy, xơ Turid còn tiết lộ với Kristin rằng khi cả tu viện họp bàn việc mua bán cùng những chuyện tương tự, câu chuyện thường trôi sang những lời bàn tán về những người có can dự vào các vụ việc. Qua lời các xơ, Kristin cũng nhận ra rằng họ chẳng biết về những điều mình nói nhiều hơn những gì chính những người kia kể lại, hoặc những gì nghe từ đám người phục dịch thế tục từng ra ngoài các thôn làng. Họ rất dễ tin, dù kẻ dưới quyền nói tốt về chính mình hay nói xấu người láng giềng—và khi ấy nàng phẫn nộ nhớ đến biết bao lần mình từng nghe những kẻ thế tục không kính sợ Chúa, thậm chí cả một tu sĩ hành khất như thầy Arngrim, buộc tội các nữ tu viện là những ổ buôn chuyện, còn các xơ thì tham lam nuốt lấy mọi lời đồn đại và những chuyện dâm ô. Chính những kẻ đến đây, rót đầy tai phu nhân Ragnhild hoặc bất cứ xơ nào họ có thể bắt chuyện bằng những lời than kể, khi ở với nhau lại chê trách các nữ tu vì đã bàn với nhau về những tiếng kêu vọng đến từ thế giới mà chính họ đã từ bỏ. Nàng thấy chuyện ấy cũng hệt như lời đàm tiếu về cuộc sống sung túc của các bà trong tu viện—nó phát ra từ những kẻ không ít lần đã nhận cả bữa lót dạ lúc tinh mơ lẫn bữa điểm tâm sớm từ tay các xơ, trong khi những nữ tỳ của Chúa vẫn ăn chay, thức canh, cầu nguyện và làm việc, trước khi tất cả cùng gặp nhau trong bữa ăn trang nghiêm đầu tiên tại trai đường.
Bởi vậy, trong thời gian chờ đến lễ khấn dòng, Kristin phụng sự các nữ tu với lòng yêu kính thành tâm. Nàng nghĩ mình hẳn chẳng bao giờ có thể trở thành một nữ tu tốt; nàng đã phung phí quá nhiều khả năng chuyên tâm và lòng đạo hạnh, nhưng nàng sẽ khiêm nhường và trung tín đến mức ân sủng của Chúa cho phép. Khi ấy đã sang quãng cuối mùa hạ năm 1349; nàng sống tại tu viện Rein được hai năm và sẽ được nhận làm nữ tu trước lễ Giáng sinh. Nàng nhận được tin vui rằng cả hai người con trai sẽ theo đoàn của Viện phụ Johannes đến đây dự lễ khấn dòng của nàng. Khi nghe nói về ý định của mẹ, thầy Bjørgulf đã bảo:
“Giấc mơ của con giờ đang ứng nghiệm—năm nay con đã hai lần mơ rằng trước lễ Giáng sinh, cả hai chúng con sẽ được thấy mẹ—dẫu sự thể không thể _hoàn toàn_ đúng như điều đã hiện ra với con, bởi trong giấc mơ, con đã _thấy_ mẹ.”
Thầy Nikulaus cũng mừng khôn xiết. Nhưng đồng thời nàng còn nghe những tin khác về cậu, không được tốt lành như thế. Cậu đã dùng bạo lực với mấy người nông dân ở vùng Steinker—họ đang tranh chấp với tu viện về quyền đánh cá, và một đêm nọ, khi các tu sĩ bắt gặp họ đang phá đập bẫy cá hồi của tu viện, thầy Nikulaus đã đánh một người nhừ tử, quẳng một người khác xuống sông, lại còn phạm tội nặng vì những lời nguyền rủa.