Người muốn làm vua — Người muốn làm vua
Chương 1 / 1 · Bài review Người muốn làm vua
“Anh em với một vương tử, và đồng hàng với một kẻ ăn mày nếu hắn được thấy là xứng đáng.”
Lề luật, như trích ở trên, đặt ra một cách xử thế khá công bằng trong đời, và chẳng dễ theo chút nào. Tôi đã hết lần này đến lần khác đồng hàng với một kẻ ăn mày trong những hoàn cảnh khiến cả hai chúng tôi đều không thể biết người kia có xứng đáng hay không. Còn làm anh em với một vương tử thì tôi vẫn chưa tới, tuy đã có lần suýt thành thân thuộc với một kẻ có lẽ đã là một ông vua đích thực, và còn được hứa cho quyền thừa kế một vương quốc, đủ cả quân đội, pháp đình, thuế má và chính sách cai trị. Nhưng hôm nay tôi rất sợ rằng ông vua của tôi đã chết, và nếu tôi muốn một cái vương miện thì tôi phải tự đi săn lấy.
Mọi sự khởi đầu trên một chuyến tàu hỏa đi Mhow từ Ajmir. Có một khoản thâm hụt trong ngân sách, khiến người ta buộc phải đi, không phải hạng Hai, vốn chỉ tốn bằng nửa hạng Nhất, mà là hạng Intermediate, thứ quả thực kinh khủng. Hạng Intermediate không có đệm ghế, và hành khách thì hoặc là người lai Âu-Á đi hạng Intermediate, hoặc là dân bản xứ, mà với một chuyến đi đêm dài thì thật khó chịu; hoặc là Loafer, hạng này thì vui đấy, dù say xỉn. Người đi hạng Intermediate chẳng bén mảng phòng giải khát. Họ mang thức ăn theo trong bọc và nồi niêu, mua đồ ngọt của những người bán hàng bánh kẹo bản xứ, và uống nước dọc đường. Bởi thế vào mùa nóng, người hạng Intermediate thường bị khiêng ra khỏi toa trong tình trạng đã chết, và vào mùa nào đi nữa thì họ cũng rất đáng bị người ta khinh rẻ.
Toa Intermediate của riêng tôi tình cờ vắng tanh cho tới lúc tàu tới Nasirabad, khi một ông to lớn mặc sơ-mi tay xắn bước vào và, theo đúng tục lệ của hạng Intermediate, cất tiếng chào hỏi. Ông ta là một kẻ phiêu bạt và lang thang như chính tôi, nhưng có một khẩu vị whisky rất có học. Ông kể chuyện những điều mình đã thấy và đã làm, về những góc khuất xa xôi của Đế quốc mà ông đã luồn vào được, và những cuộc phiêu lưu trong đó ông liều mạng chỉ để đổi lấy vài ngày lương thực. Ông nói: “Nếu Ấn Độ đầy những người như ông với tôi, chẳng biết hơn lũ quạ là ngày mai kiếm khẩu phần ở đâu, thì mảnh đất này sẽ không nộp bảy mươi triệu tiền thu nữa, mà là bảy trăm triệu”; và nhìn cái miệng cùng cái cằm của ông, tôi cũng ngả sang đồng ý. Chúng tôi bàn chuyện chính trị, thứ chính trị của giới Loafer, vốn nhìn mọi sự từ phía mặt dưới, nơi gỗ lath với vữa trát chưa được làm cho nhẵn, rồi bàn tới việc thư tín, vì bạn tôi muốn gửi một bức điện từ ga kế tiếp về Ajmir, chỗ rẽ từ tuyến Bombay sang tuyến Mhow khi đi về phía tây. Bạn tôi không có quá tám anna, mà ông muốn để dành ăn tối; còn tôi thì hoàn toàn không có đồng nào, do cái trục trặc ngân sách vừa nói. Hơn nữa, tôi đang đi vào một vùng hoang vu, nơi tuy sẽ nối lại liên lạc với Kho bạc nhưng không hề có văn phòng điện báo. Bởi vậy, tôi không thể giúp ông ta theo cách nào cả.
—Ta có thể dọa viên trưởng ga, bắt hắn gửi một bức điện chịu nợ, nhưng thế thì sẽ có điều tra cho cả ông lẫn tôi, mà dạo này tôi đang ngập việc. Ông có bảo là trong vòng mấy ngày nữa ông sẽ quay lại tuyến này phải không?
—Trong vòng mười ngày, — tôi đáp.
—Không làm thành tám được à? — ông ta nói. — Việc của tôi khá là khẩn.
—Nếu thế giúp được ông thì trong vòng mười ngày tôi có thể gửi điện tín của ông, — tôi nói.
—Nghĩ kỹ thì tôi không thể tin dây thép mà lôi được hắn tới. Chuyện là thế này. Hắn rời Delhi ngày hai mươi ba đi Bombay. Thế nghĩa là hắn sẽ lướt qua Ajmir vào quãng đêm ngày hai mươi ba.
—Nhưng tôi đang đi vào Sa mạc Ấn, — tôi giải thích.
—Được thôi, — ông ta nói. — Ông sẽ phải đổi tàu ở Marwar Junction để vào lãnh thổ Jodhpore; thế nào ông cũng phải thế. Và hắn sẽ đi qua Marwar Junction vào sáng sớm ngày hai mươi bốn trên chuyến Bombay Mail. Ông có thể có mặt ở Marwar Junction lúc ấy không? Chuyện đó chẳng làm phiền ông đâu, vì tôi biết rõ là ở mấy bang miền Trung Ấn này chả bở bẫm gì mấy để kiếm chác, dù ông có giả làm phóng viên của tờ Backwoodsman đi nữa.
—Ông đã thử trò ấy bao giờ chưa? — tôi hỏi.
—Lắm lần rồi, nhưng các ông Resident phát hiện ra, rồi người ta hộ tống ông ra tận biên giới trước khi ông kịp cắm dao vào họ. Nhưng quay lại chuyện người bạn của tôi đây. Tôi phải nhắn miệng cho hắn biết chuyện gì đã xảy đến với tôi, nếu không hắn sẽ chẳng biết đường nào mà lần. Tôi sẽ vô cùng cảm kích nếu ông chịu ra khỏi Trung Ấn kịp lúc để đón hắn ở Marwar Junction, và nói với hắn: “Hắn đã đi về phương Nam trong một tuần.” Hắn sẽ hiểu câu ấy nghĩa là gì. Hắn là một tay to lớn, râu đỏ, và bảnh lắm. Ông sẽ thấy hắn ngủ như một ông lớn, vây quanh bởi hành lý, trong một toa hạng Hai. Nhưng ông đừng ngại. Kéo cửa sổ xuống, rồi nói: “Hắn đã đi về phương Nam trong một tuần”, là hắn hiểu ngay. Chuyện ấy chỉ rút bớt của ông hai ngày lưu lại trong vùng đó thôi. Tôi nhờ ông với tư cách một người lạ, đang đi về phương Tây, — ông nói, nhấn giọng.
—Ông từ đâu tới? — tôi hỏi.
—Từ phương Đông, — ông ta đáp, — và tôi hy vọng ông sẽ trao lời nhắn ấy cho hắn một cách ngay thẳng, vì mẹ tôi cũng như mẹ ông.
Người Anh thường không dễ mềm lòng trước những lời gợi đến mẹ mình, nhưng vì những lẽ rồi đây sẽ hiện ra rất rõ, tôi thấy nên nhận lời.
—Đây không phải là chuyện nhỏ, — ông ta nói, — và đó là lý do tôi nhờ ông làm; giờ thì tôi biết là có thể trông cậy ông sẽ làm. Một toa hạng Hai ở Marwar Junction, và một người đàn ông tóc đỏ đang ngủ trong đó. Hẳn ông sẽ nhớ. Tôi xuống ở ga kế, và phải bám lại đấy cho tới khi hắn tới hoặc gửi cho tôi thứ tôi cần.
—Nếu gặp được hắn thì tôi sẽ nhắn, — tôi nói, — và vì mẹ ông cũng như mẹ tôi, tôi xin cho ông một lời khuyên. Lúc này đừng thử đi quanh các bang Trung Ấn với tư cách phóng viên tờ Backwoodsman nữa. Có một tay thật đang lảng vảng ở đây, và thế có thể sinh chuyện.
—Cám ơn, — ông ta nói giản dị, — và khi nào thì con lợn ấy cút đi? Tôi đâu thể chết đói chỉ vì hắn đang phá hỏng công việc của tôi. Tôi định nắm thóp vương công Degumber dưới này về chuyện góa phụ của cha hắn, và cho hắn một cú giật mình.
—Thế hắn đã làm gì góa phụ của cha mình?
—Nhồi bà ấy đầy ớt đỏ rồi dùng dép quật tới chết trong khi bà bị treo lên một thanh xà. Tôi tự moi ra vụ đó, và tôi là người duy nhất dám vào bang ấy để đòi tiền bịt miệng. Chúng sẽ tìm cách đầu độc tôi, y như đã làm ở Chortumna khi tôi tới đó kiếm chác. Nhưng ông sẽ nhắn lời của tôi cho người ở Marwar Junction chứ?
Ông ta xuống ở một ga nhỏ bên đường, còn tôi thì ngẫm nghĩ. Tôi đã hơn một lần nghe nói đến những kẻ giả danh phóng viên báo chí để hút máu các Tiểu quốc bản xứ bằng cách dọa phanh phui, nhưng chưa từng gặp một ai trong hạng ấy trước đây. Họ sống rất cực nhọc, và nói chung chết rất đột ngột. Các Tiểu quốc bản xứ có một nỗi kinh hãi hết sức lành mạnh đối với báo chí Anh, thứ có thể rọi ánh sáng vào những lối cai trị riêng của họ, và họ cố hết sức hoặc làm nghẹn phóng viên bằng champagne, hoặc làm họ phát điên bằng những cỗ barouche bốn ngựa. Họ không hiểu rằng chẳng ai buồn bận tâm đến việc nội trị của các Tiểu quốc bản xứ, miễn là sự áp bức và tội ác còn được giữ trong giới hạn kha khá tươm tất, và người cầm quyền không bị thuốc phiện, rượu chè hoặc bệnh tật quật ngã suốt từ đầu năm đến cuối năm. Các Tiểu quốc bản xứ được Đấng Quan phòng tạo ra để cung cấp phong cảnh đẹp như tranh, hổ, và những lối văn khoa trương. Chúng là những chỗ tối tăm của trái đất, một bên chạm đường sắt và điện báo, còn bên kia thì vẫn ở vào những ngày của Harun-al-Raschid. Sau khi rời tàu, tôi giao thiệp với đủ hạng vua chúa, và trong tám ngày đã trải qua nhiều đổi thay của đời sống. Có lúc tôi mặc lễ phục, giao du với các vương tử và giới quan Chính trị, uống bằng pha lê và ăn bằng bạc. Có lúc tôi nằm ngoài đất, ngấu nghiến bất cứ gì kiếm được trên một cái đĩa làm bằng một tấm bánh dẹt, uống nước chảy, và ngủ chung một tấm chăn với người hầu của mình. Tất cả đều chỉ là việc thường ngày.
Rồi đúng ngày đã hẹn, tôi hướng vào Đại sa mạc Ấn, và chuyến Mail đêm thả tôi xuống Marwar Junction, nơi có một tuyến đường sắt nho nhỏ, ngộ nghĩnh, phó mặc số trời, do người bản xứ điều hành, chạy đi Jodhpore. Chuyến Bombay Mail từ Delhi dừng lại Marwar rất ngắn. Nó vào ga đúng lúc tôi vừa tới, và tôi chỉ kịp vội ra sân ga của nó rồi đi dọc các toa. Trên tàu chỉ có một toa hạng Hai. Tôi hạ cửa sổ xuống và nhìn vào một bộ râu đỏ rực, nửa đắp dưới tấm chăn tàu. Đó đúng là người của tôi, đang ngủ say, và tôi khẽ thúc ông ta vào sườn. Ông ta thức dậy, ậm ừ một tiếng, và tôi nhìn thấy mặt ông ta dưới ánh đèn. Đó là một khuôn mặt lớn, sáng rực.
—Lại vé má à? — ông ta nói.
—Không, — tôi đáp. — Tôi phải nhắn ông rằng hắn đã đi về phương Nam trong một tuần. Hắn đã đi về phương Nam trong một tuần!
Con tàu đã bắt đầu chuyển bánh ra ga. Người râu đỏ dụi mắt. — Hắn đã đi về phương Nam trong một tuần, — ông ta nhắc lại. — Ờ, đúng là cái kiểu xấc xược của hắn. Hắn có bảo là tôi phải đưa ông cái gì không? Vì tôi thì không đưa đâu.
—Không hề, — tôi nói rồi lùi lại, đứng nhìn hai ngọn đèn đỏ lịm dần vào bóng tối. Trời lạnh khủng khiếp vì gió thổi từ cát lên. Tôi trèo vào chuyến tàu của mình, lần này không phải toa Intermediate, rồi đi ngủ.
Giá như người đàn ông có bộ râu ấy cho tôi một rupee thì tôi đã giữ nó làm kỷ vật cho một vụ việc khá lạ lùng. Nhưng ý thức rằng mình đã làm tròn bổn phận là phần thưởng duy nhất của tôi.
Về sau tôi nghĩ rằng hai ông bạn của tôi mà tụ đầu lại rồi giả danh phóng viên báo chí thì chẳng thể làm điều gì tốt lành, và rất có thể, nếu họ bắt chẹt một trong những tiểu quốc bẫy chuột ở Trung Ấn hay Nam Rajputana, họ sẽ chuốc lấy những rắc rối nghiêm trọng. Vì vậy tôi cũng bỏ công mô tả họ chính xác nhất có thể theo trí nhớ của mình cho những người hẳn sẽ quan tâm đến việc trục xuất họ; và đã thành công, như sau này tôi được báo lại, trong việc khiến họ bị chặn đầu và xua ngược khỏi biên giới Degumber.
Rồi tôi trở nên đàng hoàng, quay về một Tòa soạn nơi không có vua chúa cũng chẳng có biến cố nào ngoài việc sản xuất một tờ báo mỗi ngày. Tòa soạn báo dường như thu hút mọi hạng người có thể tưởng tượng ra, thật tổn hại cho kỷ luật. Các bà truyền giáo Zenana ghé tới, van nài để ông Chủ bút lập tức bỏ hết mọi công vụ mà tả cho bằng được một buổi phát thưởng Thiên Chúa giáo ở xó ổ chuột sau cùng của một ngôi làng hoàn toàn không thể tới nổi; các ông đại tá bị gạt khỏi chức chỉ huy ngồi xuống mà phác thảo đại cương một loạt mười, mười hai hay hai mươi bốn bài xã luận về Thâm niên đối lập với Tuyển chọn; các giáo sĩ muốn biết tại sao họ không được phép thoát khỏi những phương tiện thông thường để người ta chửi rủa mình, mà lại chửi một ông giáo sĩ đồng đạo dưới sự bảo trợ đặc biệt của chữ Chúng tôi biên tập; những gánh hát bị mắc kẹt lũ lượt kéo lên giải thích rằng họ không thể trả tiền quảng cáo, nhưng khi trở về từ New Zealand hay Tahiti sẽ thanh toán cả vốn lẫn lời; những nhà phát minh ra máy kéo quạt trần có bằng sáng chế, khớp nối toa xe, kiếm không thể gãy và trục xe ghé vào với bản thuyết minh trong túi và vô khối thời giờ trong tay; các công ty chè đi vào rồi dùng bút của tòa soạn mà trau chuốt bản cáo bạch; thư ký các ban tổ chức dạ vũ gào lên đòi những vinh quang của buổi khiêu vũ vừa rồi của họ phải được thuật kỹ hơn; những quý bà lạ mặt bước vào, váy áo sột soạt, và nói: “Xin in gấp cho tôi một trăm danh thiếp phụ nữ”, mà rõ ràng đó là một phần nghĩa vụ của ông Chủ bút; và mọi gã du côn truỵ lạc từng lê bước trên Đại lộ Grand Trunk đều coi việc của mình là tới xin một chân đọc soát bản in. Trong lúc đó, chuông điện thoại reo điên cuồng, các ông vua bên Lục địa bị giết, các Đế quốc đang nói với nhau: “Ông mới thế ấy chứ”, ngài Gladstone đang gọi diêm sinh giáng xuống các Lãnh địa Anh, và lũ bé chạy bài da đen rên rỉ “kaa-pi chayha-yeh” (cần bài) như những con ong mệt lả, trong khi phần lớn tờ báo còn trống trơn như chiếc khiên của Modred.
Nhưng đó là nửa vui của năm. Còn sáu tháng kia thì chẳng có ai tới thăm, và nhiệt kế cứ nhích từng tấc một lên đỉnh ống thủy tinh, còn văn phòng bị che tối tới mức chỉ vừa hơn đủ sáng để đọc, còn những cỗ máy in thì nóng đỏ đến chạm tay vào cũng bỏng, và chẳng ai viết gì ngoài những tường thuật về trò vui ở các trạm nghỉ miền đồi hoặc cáo phó. Khi ấy điện thoại trở thành một nỗi kinh hoàng leng keng, vì nó báo cho anh những cái chết đột ngột của những người đàn ông và đàn bà mà anh quen thân, và rôm sảy phủ lên người anh như một tấm áo, còn anh thì ngồi xuống viết: “Có báo cáo rằng bệnh tật hơi gia tăng tại Hạt Khuda Janta Khan. Đợt bùng phát có tính chất hoàn toàn lẻ tẻ, và nhờ những nỗ lực đầy nghị lực của nhà chức trách địa phương, hiện nay gần như đã chấm dứt. Tuy nhiên, với nỗi tiếc thương sâu sắc, chúng tôi ghi nhận cái chết của, vân vân.”
Rồi bệnh thật sự bùng ra, và đối với sự yên ổn của những người đặt báo thì ghi chép với tường thuật càng ít càng hay. Nhưng các Đế quốc và các ông vua vẫn tiếp tục mua vui cho mình một cách ích kỷ y như trước, còn tay quản đốc thì cho rằng một tờ báo ngày quả thật phải ra một số mỗi hai mươi bốn giờ, và tất cả những người ở các trạm nghỉ miền đồi, giữa lúc đang vui chơi, lại nói: “Lạy Chúa tôi! Sao tờ báo không thể sinh động lên được? Tôi dám chắc trên này đang có lắm chuyện xảy ra kia mà.”
Đó là nửa tối của mặt trăng, và như lời quảng cáo thường nói, “phải tự mình trải qua mới biết hết cái hay của nó.”
Chính vào mùa ấy, lại là một mùa xấu khác thường, mà tờ báo bắt đầu chạy số cuối tuần vào tối thứ Bảy, tức là sáng Chủ nhật, theo lối của một tờ báo London. Đó là một điều cực tiện, vì ngay sau khi số báo được chốt để đi in, bình minh sẽ làm nhiệt độ giảm từ 96 độ xuống gần 84 độ trong non nửa giờ, và trong cái lạnh ấy, ông chẳng thể hình dung 84 độ trên bãi cỏ lạnh đến mức nào cho tới khi ông bắt đầu cầu xin nó, một người mệt rã rời có thể thiếp ngủ đi trước khi hơi nóng lại đánh thức mình dậy.
Vào một tối thứ Bảy, nhiệm vụ dễ chịu của tôi là một mình chốt số báo. Một ông vua, một cận thần, một ả cung phi, hay cả một cộng đồng nào đó sắp chết, hay sắp có một bản Hiến pháp mới, hay sắp làm một chuyện hệ trọng nào đó ở bên kia địa cầu, và tờ báo phải để hở đến phút chót có thể để hứng bức điện. Đêm tối đen như mực, ngột ngạt đúng kiểu một đêm tháng Sáu, và gió loo, luồng gió đỏ lửa từ phía tây, đang gầm trong đám cây khô như bùi nhùi, làm bộ như mưa đang bám gót nó tới nơi. Lúc này lúc khác, một giọt nước gần như sôi rơi bộp xuống bụi như ếch nhảy, nhưng cả thế giới mệt nhoài của chúng tôi đều biết đó chỉ là trò giả dối. Phòng máy in mát hơn văn phòng một chút, nên tôi ngồi đó, giữa tiếng chữ chì lách tách lạch cạch, tiếng chim đêm kêu ngoài cửa sổ, và những tay thợ xếp chữ gần như trần truồng cứ lau mồ hôi trán rồi gọi nước. Cái tin giữ chân chúng tôi, bất kể nó là gì, vẫn không chịu đến, dù gió loo đã lặng, hàng chữ cuối cùng đã xếp xong, và cả quả đất tròn như đứng khựng trong sức nóng nghẹt thở, đặt ngón tay lên môi mà chờ biến cố. Tôi gà gật, tự hỏi điện báo có thật là phúc lành không, và liệu kẻ sắp chết kia, hay dân tộc đang vật lộn nọ, có biết sự chậm trễ ấy đang gây phiền toái đến mức nào hay không. Ngoài cái nóng và sự bực bõ ra thì chẳng có lý do gì đặc biệt để căng thẳng, nhưng khi kim đồng hồ bò dần lên ba giờ và máy móc quay bánh đà hai ba lượt để thử xem mọi sự đã ổn chưa, trước khi tôi nói câu cho chúng chạy hẳn, tôi có thể đã hét toáng lên.
Rồi tiếng gầm và tiếng rền của bánh xe xé vụn sự yên lặng. Tôi đứng dậy định đi, nhưng hai người mặc đồ trắng đã đứng chắn trước mặt. Người thứ nhất nói: — Chính hắn! Người thứ hai đáp: — Đúng hắn rồi! Rồi cả hai cười to gần át cả tiếng máy, vừa cười vừa lau trán. — Bọn tôi thấy bên kia đường còn sáng đèn, mà bọn tôi thì nằm ngủ dưới cái mương kia cho mát, nên tôi bảo ông bạn đây: văn phòng còn mở đấy. Đi sang nói chuyện với ông đã đuổi bọn mình khỏi bang Degumber đi, — người thấp hơn nói. Hắn chính là người tôi gặp trên chuyến tàu Mhow, còn bạn hắn là gã râu đỏ ở ga Marwar Junction. Cặp lông mày của người này và bộ râu của người kia thì không thể lẫn vào đâu được.
Tôi chẳng vui vẻ gì, vì tôi muốn đi ngủ chứ không muốn cãi vã với bọn lang thang. — Các anh muốn gì? — tôi hỏi.
— Nửa giờ nói chuyện với ông, chỗ mát mẻ dễ chịu, trong văn phòng, — gã râu đỏ nói. — Bọn tôi muốn kiếm chút gì uống nữa — giao kèo còn chưa có hiệu lực đâu, Peachey, khỏi phải ngó thế — nhưng cái bọn tôi thật sự muốn là lời khuyên. Bọn tôi không cần tiền. Bọn tôi xin ông như một ơn, vì ông đã chơi bọn tôi một vố ở vụ Degumber.
Tôi dẫn họ từ phòng máy in vào văn phòng ngột ngạt treo đầy bản đồ, và gã tóc đỏ xoa hai tay. — Thế mới ra trò, — hắn nói. — Đến đúng chỗ rồi đấy. Giờ, thưa ông, cho phép tôi giới thiệu với ông Huynh đệ Peachey Carnehan, tức là hắn đấy, và Huynh đệ Daniel Dravot, tức là tôi đây, còn nghề nghiệp của bọn tôi thì càng ít nói càng hơn, vì đời bọn tôi đã từng làm đủ thứ. Lính, thủy thủ, thợ xếp chữ, thợ ảnh, người soát morát, giảng đạo đầu đường, và thông tín viên cho tờ Backwoodsman những khi bọn tôi tưởng tờ báo ấy cần một người. Carnehan tỉnh táo, và tôi cũng thế. Cứ nhìn bọn tôi trước cho chắc là biết ngay. Thế thì khỏi phải ngắt lời tôi. Bọn tôi xin mỗi người một điếu xì gà của ông, rồi ông sẽ thấy bọn tôi tự châm lấy. Tôi theo dõi phép thử ấy. Hai người hoàn toàn tỉnh rượu, nên tôi rót cho mỗi người một ly rượu hơi ấm.
— Được lắm, — Carnehan lông mày rậm nói, vừa lau bọt trên ria mép. — Để tôi nói bây giờ, Dan. Bọn tôi đã đi khắp Ấn Độ, phần lớn bằng chân. Bọn tôi từng làm thợ lắp nồi hơi, lái máy, thầu vặt với đủ thứ nghề kiểu ấy, và bọn tôi đã quyết rằng Ấn Độ không đủ lớn cho hạng người như bọn tôi.
Quả thật họ quá khổ so với căn phòng ấy. Bộ râu của Dravot tưởng như chiếm nửa gian phòng, còn đôi vai của Carnehan chiếm nửa còn lại, khi họ ngồi trên cái bàn lớn. Carnehan nói tiếp: — Xứ này còn chưa khai ra được một nửa, vì bọn cai trị nó không cho ai đụng vào. Chúng nó tốn sạch thời giờ chết tiệt vào việc cai trị, nên anh không thể xúc một nhát cuốc, đẽo một mảnh đá, tìm dầu, hay làm bất cứ trò gì như thế mà không bị cả Chính phủ bảo: “Để đấy cho yên và để chúng ta cai trị.” Thành ra, đã thế thì bọn tôi cứ để nó yên, rồi đi chỗ khác, chỗ nào mà người ta không bị chen chúc và có thể kiếm phần của mình. Bọn tôi không phải hạng người bé nhỏ, và trên đời này chẳng có gì bọn tôi sợ ngoài Rượu, mà vụ đó thì bọn tôi đã ký giao kèo rồi. Vậy nên bọn tôi sắp bỏ đi làm vua.
— Vua theo quyền của chính bọn tôi, — Dravot lẩm bẩm.
— Vâng, tất nhiên rồi, — tôi nói. — Các anh đã đi bộ dưới nắng, lại đúng một đêm rất nóng, hay là các anh nên ngủ qua cái ý ấy một tối đã? Mai hãy quay lại.
— Không say mà cũng chẳng cảm nắng, — Dravot nói. — Bọn tôi đã ngủ với cái ý ấy nửa năm rồi, và giờ cần xem Sách với Atlas, mà bọn tôi đã quyết rằng bây giờ trên đời chỉ còn đúng một chỗ để hai thằng khỏe mạnh làm một cú Sar-a-whack. Người ta gọi chỗ ấy là Kafiristan. Theo cách tính của tôi thì nó nằm ở góc trên bên phải Afghanistan, cách Peshawar không quá ba trăm dặm. Ở đó có ba mươi hai tượng thần ngoại đạo, và bọn tôi sẽ là tượng thứ ba mươi ba. Đó là một xứ toàn núi, và đàn bà ở vùng ấy rất đẹp.
— Nhưng vụ ấy đã được phòng trong giao kèo rồi, — Carnehan nói. — Daniel, không Đàn bà cũng không Rượu.
— Và đó là tất cả những gì bọn tôi biết, ngoài chuyện chưa ai vào đó, và họ đánh nhau, mà ở bất kỳ chỗ nào người ta đánh nhau thì một kẻ biết cách thao luyện quân lính lúc nào cũng có thể làm vua. Bọn tôi sẽ đến vùng ấy rồi nói với bất cứ ông vua nào bọn tôi gặp: “Muốn quật kẻ thù không?” và bọn tôi sẽ chỉ cho hắn cách thao luyện quân lính; vì đó là cái bọn tôi biết rõ hơn bất cứ thứ gì. Rồi bọn tôi sẽ lật ông vua ấy, chiếm lấy ngai vàng của hắn và lập nên một triều đại.
— Chưa qua được năm mươi dặm ngoài Biên giới là các anh đã bị xé xác rồi, — tôi nói. — Muốn tới xứ ấy thì phải đi xuyên Afghanistan. Toàn một khối núi non, đỉnh đá và sông băng, mà chưa một người Anh nào từng đi qua. Dân ở đó hung bạo hết mức, và dù các anh có đến được thì cũng chẳng làm nổi gì đâu.
— Thế mới ra trò, — Carnehan nói. — Nếu ông coi bọn tôi điên thêm chút nữa thì bọn tôi còn mừng hơn. Bọn tôi tìm đến ông để hỏi về xứ ấy, để đọc một cuốn sách viết về nó, và để được xem bản đồ. Bọn tôi muốn ông bảo bọn tôi là đồ ngu rồi đưa sách cho bọn tôi xem. Nói đoạn hắn quay về phía tủ sách.
— Các anh nói thật đấy à? — tôi hỏi.
— Có chút chút, — Dravot ngọt ngào đáp. — Một tấm bản đồ to nhất ông có, dù đoạn Kafiristan trên đó có trắng trơn cũng được, với bất kỳ sách nào ông có. Bọn tôi đọc được, dù không phải hạng học nhiều.
Tôi mở tấm bản đồ lớn của Ấn Độ tỷ lệ ba mươi hai dặm một inch, lấy thêm hai bản đồ nhỏ vùng Biên cương, lôi tập INF-KAN của Encyclopædia Britannica xuống, rồi để hai người tra cứu.
— Xem này! — Dravot nói, ngón cái ấn lên bản đồ. — Tới Jagdallak thì Peachey với tôi biết đường. Bọn tôi từng tới đó cùng quân của Roberts. Bọn tôi sẽ phải rẽ phải ở Jagdallak, xuyên đất Laghmann. Sau đó là vào vùng đồi núi — mười bốn nghìn bộ — mười lăm nghìn — trên ấy sẽ rét ra trò, nhưng trên bản đồ thì trông cũng chẳng xa lắm.
Tôi đưa cho hắn cuốn Wood on the Sources of the Oxus. Carnehan đang cắm đầu vào Encyclopædia.
— Chúng là một đám pha tạp, — Dravot ngẫm nghĩ nói; — mà biết tên các bộ lạc của chúng cũng chẳng giúp ích gì cho bọn tôi. Bộ lạc càng nhiều thì chúng càng đánh nhau, mà thế lại càng tốt cho bọn tôi. Từ Jagdallak tới Ashang. Hừm!
— Nhưng mọi thông tin về xứ ấy đều sơ sài và sai lệch hết mức, — tôi phản đối. — Thật ra chẳng ai biết gì về nó cả. Đây, hồ sơ của United Services’ Institute đây. Đọc xem Bellew nói gì.
— Mặc xác Bellew! — Carnehan nói. — Dan, chúng là một lũ ngoại đạo quỷ quái, nhưng cuốn sách này bảo chúng nghĩ chúng có họ hàng với bọn Anh mình.
Tôi ngồi hút thuốc trong lúc hai người chúi đầu vào Raverty, Wood, bản đồ và Encyclopædia.
— Ông đợi cũng vô ích thôi, — Dravot lịch sự nói. — Giờ khoảng bốn giờ rồi. Nếu ông muốn ngủ thì trước sáu giờ bọn tôi sẽ đi, và bọn tôi sẽ không chôm tờ báo nào đâu. Ông đừng thức cùng bọn tôi. Bọn tôi là hai thằng điên vô hại, và nếu chiều mai ông xuống Serai thì bọn tôi sẽ chào từ biệt ông.
— Hai anh là đồ ngu, — tôi đáp. — Các anh sẽ bị đuổi bật về ở Biên giới hoặc bị chém nát ngay khi đặt chân vào Afghanistan. Các anh có cần tiền hay một lá thư giới thiệu xuống miền dưới không? Tôi có thể giúp các anh kiếm một cơ hội việc làm vào tuần tới.
— Tuần tới thì bọn tôi bận làm việc của mình rồi, cảm ơn ông, — Dravot nói. — Làm vua không dễ như người ta tưởng đâu. Khi nào vương quốc của bọn tôi vận hành đâu vào đấy, bọn tôi sẽ cho ông biết, rồi ông có thể lên đó giúp bọn tôi cai trị.
— Có hai thằng điên nào lại làm một bản giao kèo như thế không! — Carnehan nói, với vẻ kiêu hãnh kìm nén, vừa chìa cho tôi xem nửa tờ giấy ghi chép dính mỡ, trên đó viết như sau. Tôi chép lại ngay tại chỗ, như một thứ lạ đời:
Bản giao kèo này giữa tôi với anh theo đây làm chứng nhân danh Đức Chúa Trời — A-men cùng vân vân.
(Một) Rằng tôi với anh sẽ cùng nhau dàn xếp việc này: tức là làm vua Kafiristan. (Hai) Rằng anh với tôi sẽ không, trong lúc việc này đang được dàn xếp, ngó tới bất cứ thứ Rượu nào, cũng không ngó tới bất cứ Đàn bà nào đen, trắng hay nâu, kẻo lại dây vào cái nọ hoặc cái kia đều có hại. (Ba) Rằng chúng ta sẽ xử sự với Phẩm giá và Thận trọng, và nếu một trong hai đứa gặp rắc rối thì đứa kia sẽ ở bên cạnh nó.
Ký bởi anh và tôi ngày hôm nay. Peachey Taliaferro Carnehan. Daniel Dravot. Cả hai đều là Quý ông lang bạt.
— Điều cuối cùng ấy thì chẳng cần đâu, — Carnehan nói, đỏ mặt một cách khiêm tốn; — nhưng trông nó ra thể thức. Giờ thì ông biết hạng người lang thang là thế nào rồi đấy — bọn tôi là lũ lang thang, Dan nhỉ, cho tới khi ra khỏi Ấn Độ — và ông có nghĩ bọn tôi ký một bản giao kèo như thế nếu không thực lòng không? Bọn tôi đã tránh xa hai thứ khiến đời đáng sống.
— Nếu các anh định thử cái cuộc phiêu lưu ngu xuẩn ấy thì chẳng còn hưởng đời được bao lâu nữa đâu. Đừng đốt cháy văn phòng, — tôi nói, — và cút đi trước chín giờ.
Tôi bỏ mặc họ vẫn cắm cúi xem bản đồ và ghi chép vào mặt sau tờ “giao kèo”. — Nhớ xuống Serai ngày mai nhé, — là lời họ nói với theo lúc chia tay.
Kumharsen Serai là cái ổ người khổng lồ bốn bề vuông vức, nơi những hàng lạc đà và ngựa từ phương Bắc tới chất dỡ hàng. Mọi giống người ở Trung Á đều có thể gặp ở đó, cùng phần lớn dân cõi Ấn Độ chính tông. Balkh và Bokhara ở đó gặp Bengal và Bombay, rồi tìm cách moi đến chiếc răng nanh cuối cùng của nhau. Ở Kumharsen Serai, ông có thể mua ngựa con, ngọc lam, mèo Ba Tư, túi yên, cừu đuôi mỡ và xạ hương, và kiếm được lắm món lạ mà chẳng tốn đồng nào. Buổi chiều tôi xuống đó xem hai ông bạn có định giữ lời hay chỉ bịa chuyện trong cơn say.
Một ông thầy tu ăn mặc bằng những mảnh ruy băng và giẻ rách nghênh ngang bước tới chỗ tôi, nghiêm trang vặn trong tay một cái chong chóng giấy trẻ con. Đi sau hắn là tên đầy tớ, lom khom dưới sức nặng của một thùng đồ chơi đất. Cả hai đang chất đồ lên hai con lạc đà, còn dân trong Serai thì ré lên cười.
— Thầy tu ấy điên rồi, — một tay buôn ngựa nói với tôi. — Hắn lên Kabul bán đồ chơi cho Amir. Hoặc là hắn sẽ được trọng vọng, hoặc là bị chặt đầu. Sáng nay hắn vào đây, và từ đó đến giờ cứ làm trò điên suốt.
— Kẻ khờ dại được Trời che chở, — một người Usbeg má lép cà lăm bằng thứ tiếng Hindi bập bõm. — Họ báo trước việc tương lai.
— Ước gì chúng nó báo trước được rằng đoàn hàng của tao sẽ bị bọn Shinwari đánh tan gần như ngay dưới bóng con Đèo! — tay đại lý Eusufzai của một hãng buôn Rajputana càu nhàu; hàng hóa của hắn vừa bị chuyển thẳng một cách trấn lột vào tay một bọn cướp khác ngay bên kia Biên giới, và những bất hạnh của hắn là trò cười của cả khu chợ. — Này, thầy tu, ngươi từ đâu đến và đi đâu?
— Từ Roum ta đến đây! — ông thầy tu hét lên, vung cái chong chóng; — từ Roum, bị hơi thở của một trăm con quỷ thổi qua mặt biển! Hỡi bọn trộm, bọn cướp, bọn láo toét, phúc lành của Pir Khan giáng xuống lũ lợn, lũ chó và phường bội thề! Ai sẽ đưa kẻ được Trời che chở lên phương Bắc để bán những bùa phép chẳng bao giờ đứng yên cho Amir? Lạc đà sẽ không trầy vai, con trai sẽ không đổ bệnh, và vợ sẽ giữ lòng chung thủy khi chồng đi xa, đối với những kẻ cho ta một chỗ trong đoàn hàng của họ. Ai sẽ giúp ta quất dép vào Vua xứ Roos bằng một chiếc dép vàng gót bạc? Sự che chở của Pir Kahn ở trên công việc của người ấy! Nói rồi hắn xòe vạt áo chùng ra và xoay tít giữa hai hàng ngựa buộc cọc.
— Hai mươi ngày nữa có một đoàn hàng đi từ Peshawar lên Kabul, Huzrut, — tay lái buôn Eusufzai nói. — Lạc đà của tôi sẽ đi theo đoàn ấy. Ngài cũng đi luôn đi và mang may mắn đến cho chúng tôi.
— Ta đi ngay bây giờ! — ông thầy tu hét lên. — Ta sẽ lên đường trên lũ lạc đà có cánh của ta và tới Peshawar trong một ngày! Ho! Hazar Mir Khan, — hắn gào với tên đầy tớ, — lùa lạc đà ra, nhưng để ta leo lên con của ta trước đã.
Hắn nhảy lên lưng con vật khi nó đang quỳ, rồi quay sang tôi mà kêu:
— Sahib cũng đi cùng một quãng đường đi, rồi ta sẽ bán cho sahib một lá bùa — một bùa hộ mệnh sẽ khiến sahib thành vua Kafiristan.
Lúc ấy tôi mới vỡ lẽ, và tôi theo hai con lạc đà ra khỏi Serai cho tới khi chúng tôi tới quãng đường vắng thì ông thầy tu dừng lại.
— Ông thấy thế nào? — hắn nói bằng tiếng Anh. — Carnehan không nói được cái giọng của bọn họ, nên tôi cho nó làm đầy tớ của tôi. Nó làm đầy tớ trông bảnh lắm. Đâu phải vô ích mà tôi đã lang bạt khắp xứ này mười bốn năm. Màn vừa rồi tôi diễn gọn ghẽ chứ? Bọn tôi sẽ móc theo một đoàn hàng ở Peshawar cho tới Jagdallak, rồi xem có kiếm được lừa thay cho lạc đà không, và đâm thẳng vào Kafiristan. Chong chóng cho Amir, lạy Chúa! Thọc tay xuống dưới mấy cái bao lạc đà mà xem ông sờ thấy gì.
Tôi sờ phải báng một khẩu Martini, rồi một khẩu nữa, rồi lại một khẩu nữa.
— Hai mươi khẩu đấy, — Dravot bình thản nói.
— Hai mươi khẩu, với đạn dược đi đôi, giấu dưới đám chong chóng và búp bê đất.
— Trời cứu các anh nếu bị bắt cùng đống ấy! — tôi nói. — Giữa bọn Pathan, một khẩu Martini đáng bạc ngang đúng cân nặng của nó.
—Một ngàn năm trăm rupee vốn liếng—từng rupee bọn tôi xin xỏ, vay mượn hay chôm chỉa được—đều dồn cả vào hai con lạc đà này, — Dravot nói. — Bọn tôi sẽ không bị tóm đâu. Bọn tôi đi qua Khaiber cùng một đoàn lữ hành đàng hoàng. Ai lại động đến một thầy tu điên khùng nghèo kiết chứ?
—Các anh đã có đủ mọi thứ mình cần chưa? — tôi hỏi, sững sờ đến nghẹn lời.
—Chưa, nhưng sắp đủ thôi. Cho bọn tôi một vật làm kỷ niệm về lòng tốt của anh đi, Huynh đệ. Anh đã giúp tôi hôm qua, với cả lần ở Marwar nữa. Một nửa vương quốc của tôi sẽ là của anh, như người ta vẫn thường nói. Tôi tuột chiếc la bàn nhỏ đeo ở dây đồng hồ ra và trao lên cho vị thầy tu.
—Tạm biệt, — Dravot nói, thận trọng chìa tay cho tôi. — Còn lâu lắm chúng tôi mới lại bắt tay một người Anh. Bắt tay anh ấy đi, Carnehan, — hắn gọi với, khi con lạc đà thứ hai đi ngang qua tôi.
Carnehan cúi xuống bắt tay tôi. Rồi hai con lạc đà đi xa dần trên con đường bụi mù, để tôi lại một mình mà ngẫm nghĩ. Mắt tôi không nhận ra nổi một sơ hở nào trong đám cải trang ấy. Cảnh ở quán trọ đủ chứng rằng đối với người bản xứ, chúng hoàn toàn trọn vẹn. Vậy nên, quả vẫn có chút hi vọng là Carnehan và Dravot có thể lang thang qua Afghanistan mà không bị lộ. Nhưng xa hơn nữa, họ sẽ gặp cái chết, cái chết chắc chắn và kinh khủng.
Mười ngày sau, một người bạn bản xứ của tôi, gửi cho tôi tin tức trong ngày từ Peshawar, kết thư bằng mấy dòng sau:—“Ở đây người ta cười cợt khá nhiều về một tay thầy tu điên, theo như chính hắn tưởng thì đang đi bán mấy món đồ trang sức rẻ tiền và những thứ lặt vặt không đáng kể mà hắn gán là bùa phép rất mạnh cho Đức Amir xứ Bokhara. Hắn đi qua Peshawar rồi nhập vào đoàn lữ hành mùa Hè thứ hai đi Kabul. Giới lái buôn lấy làm vui vì mê tín, họ tưởng những gã điên kiểu ấy mang lại may mắn.”
Vậy là hai người ấy đã ở bên kia Biên giới. Tôi hẳn đã cầu nguyện cho họ, nhưng ngay đêm ấy, một vị vua thật ở châu Âu băng hà, và đòi hỏi một bài cáo phó.
* * * * * * * *
Bánh xe thế gian cứ quay qua cùng những chặng ấy hết lần này đến lần khác. Mùa hạ qua đi rồi đến mùa đông, rồi lại đến và lại qua. Tờ báo ngày vẫn tiếp tục, và tôi cũng thế; đến mùa hạ thứ ba thì rơi xuống một đêm oi nồng, một số báo đêm, và một sự chờ đợi căng như dây đàn xem có gì được điện báo từ bên kia thế giới sang hay không, y như lần trước. Trong hai năm ấy có thêm vài nhân vật lớn qua đời, máy móc chạy rầm rĩ hơn, và mấy cây trong vườn của tòa soạn cao thêm được vài thước. Chỉ khác có thế.
Tôi sang phòng in, và lại đi qua đúng một cảnh như tôi đã tả trước đây. Cơn căng thẳng thần kinh còn dữ hơn hai năm trước, và tôi cảm thấy cái nóng gắt hơn hẳn. Ba giờ, tôi quát: “In đi,” rồi quay bước ra, thì có thứ còn sót lại của một con người lết tới chỗ ghế tôi. Hắn cong khom thành vòng tròn, đầu rụt xuống giữa hai vai, và nhấc chân chồng lên nhau như một con gấu. Tôi hầu như không rõ hắn đang đi hay đang bò—cái thân tàn quấn giẻ, rên rỉ, gọi đúng tên tôi và kêu rằng hắn đã trở về. — Ông cho tôi chút gì để uống được không? — hắn thều thào. — Vì Chúa, cho tôi chút gì để uống!
Tôi quay lại văn phòng, người kia theo sau, rên lên vì đau, còn tôi vặn sáng ngọn đèn.
—Ông không nhận ra tôi sao? — hắn thở hắt, buông mình xuống ghế, rồi xoay khuôn mặt hốc hác, chụp bên trên bằng một mớ tóc xám dựng đứng, ra phía ánh đèn.
Tôi nhìn hắn chăm chú. Tôi đã từng thấy một cặp lông mày chập vào nhau trên sống mũi thành một dải đen rộng đến một inch như thế một lần rồi, nhưng chết cũng không nhớ nổi là ở đâu.
—Tôi không biết anh, — tôi nói, đưa rượu whisky cho hắn. — Tôi có thể làm gì cho anh?
Hắn nốc một ngụm rượu mạnh nguyên chất, rồi run lên mặc cho cái nóng ngột ngạt đến nghẹt thở.
—Tôi về rồi, — hắn lặp lại; — mà tôi từng là vua Kafiristan—tôi với Dravot—bọn tôi là vua được đội mão hẳn hoi đấy! Chính ở cái văn phòng này bọn tôi tính xong chuyện ấy—ông ngồi đó và đưa sách cho bọn tôi. Tôi là Peachey—Peachey Taliaferro Carnehan—còn ông vẫn cứ ngồi ở đây từ bấy đến giờ—lạy Chúa!
Tôi kinh ngạc không phải ít, và bày tỏ điều ấy đúng mức.
—Thật đấy, — Carnehan nói, bật ra một tràng cười khô khốc, vừa ôm lấy đôi chân quấn giẻ của mình. — Thật như Phúc Âm. Bọn tôi là vua, đội mão trên đầu—tôi với Dravot—Dan tội nghiệp—ôi, Dan tội nghiệp, tội nghiệp, nhất định chẳng bao giờ chịu nghe lời, dù tôi có van xin hắn đến thế nào đi nữa!
—Uống whisky đi, — tôi bảo, — rồi cứ thong thả. Kể cho tôi mọi điều anh còn nhớ được, từ đầu đến cuối. Hai anh qua biên giới bằng lạc đà, Dravot giả làm thầy tu điên còn anh là kẻ hầu của hắn. Anh còn nhớ chứ?
—Tôi chưa điên—chưa đâu—nhưng sắp rồi. Dĩ nhiên là tôi nhớ. Cứ nhìn tôi đi, không thì lời lẽ tôi lại vỡ tung hết mất. Cứ nhìn vào mắt tôi, đừng nói gì cả.
Tôi nghiêng người tới trước và nhìn vào mặt hắn chăm chú hết sức có thể. Hắn đặt một tay lên bàn, còn tôi nắm lấy cổ tay. Nó quặp lại như vuốt chim, và trên mu bàn tay là một vết sẹo đỏ, rách rưới, hình thoi.
—Không, đừng nhìn chỗ đó. Nhìn tôi này, — Carnehan nói.
—Cái đó đến sau, nhưng vì Chúa đừng làm tôi lạc trí. Bọn tôi rời đi với đoàn lữ hành ấy, tôi với Dravot, bày đủ trò quái để mua vui cho đám đi cùng. Tối đến Dravot thường làm bọn tôi cười, lúc mọi người đang nấu bữa tối—nấu bữa tối, rồi... rồi họ làm gì nhỉ? Họ nhóm những đống lửa con, tia lửa bay vào râu Dravot, và cả bọn cười muốn chết. Những ngọn lửa đỏ tí hon ấy chui vào bộ râu đỏ lớn của Dravot—buồn cười lắm. Đôi mắt hắn rời khỏi mắt tôi, và hắn mỉm cười ngớ ngẩn.
—Các anh đi theo đoàn ấy đến tận Jagdallak, — tôi liều đoán, — sau khi đã nhóm những đống lửa kia. Đến Jagdallak, nơi các anh rẽ ra để tìm đường vào Kafiristan.
—Không, bọn tôi cũng chẳng đi tới đó. Ông nói cái gì thế? Bọn tôi rẽ trước Jagdallak kia, vì nghe bảo đường tốt. Nhưng tốt cũng chẳng đủ cho hai con lạc đà của bọn tôi—con của tôi với con của Dravot. Vừa rời đoàn lữ hành là Dravot cởi sạch đồ của hắn, cả đồ của tôi nữa, rồi bảo bọn tôi phải làm dân ngoại đạo, vì người Kafir không cho người Mohammedan nói chuyện với họ. Thế là bọn tôi ăn mặc dở dở ương ương, và cái cảnh Daniel Dravot lúc ấy thì từ trước tới nay tôi chưa từng thấy, mà sau này chắc cũng chẳng thấy lại. Hắn đốt xém mất nửa bộ râu, khoác một tấm da cừu lên vai, rồi cạo đầu thành từng vằn vện. Hắn cũng cạo đầu tôi, bắt tôi mặc mấy thứ quái gở để trông giống dân ngoại đạo. Chỗ ấy núi non thì khiếp lắm, lạc đà của bọn tôi chẳng đi tiếp được nữa vì núi. Chúng cao lớn và đen sì, với lúc về tôi còn thấy chúng húc nhau như dê rừng—ở Kafiristan nhiều dê lắm. Còn mấy quả núi ấy, chúng chẳng bao giờ chịu đứng yên, cũng chẳng khác gì lũ dê. Lúc nào chúng cũng đánh nhau, với lại ban đêm chẳng để ai ngủ.
—Uống thêm chút whisky đi, — tôi nói rất chậm. — Anh với Daniel Dravot làm gì khi lạc đà không thể đi thêm nữa vì những con đường gồ ghề dẫn vào Kafiristan?
—Cái gì làm gì cơ? Có một gã tên là Peachey Taliaferro Carnehan đi cùng Dravot. Tôi kể ông nghe về gã ấy nhé? Gã chết rét ngoài ấy rồi. Lão Peachey rơi bịch khỏi cầu, quay tít trong không trung như cái chong chóng một xu mà người ta có thể bán cho Amir—Không; hai cái giá một xu rưỡi mới đúng, nếu không thì tôi lầm tai hại mất rồi. Rồi hai con lạc đà ấy hóa vô dụng, Peachey mới bảo Dravot, “Vì Chúa, chuồn khỏi đây trước khi đầu bọn mình bị chặt mất đi,” thế là họ giết lạc đà giữa đám núi non, vì chẳng có gì đặc biệt cho chúng hay cho họ ăn, nhưng trước hết họ dỡ mấy thùng súng và đạn xuống, thì có hai người đánh bốn con la đi tới. Dravot bật dậy nhảy múa trước mặt họ, hát rằng, “Bán cho tôi bốn con la.” Gã thứ nhất nói, “Mày giàu đến mức mua được thì cũng giàu đến mức cướp được;” nhưng trước khi hắn kịp đưa tay tới dao, Dravot đã bẻ gãy cổ hắn trên đầu gối, còn gã kia thì chạy biến. Thế là Carnehan chất những khẩu súng dỡ từ lạc đà lên lưng la, và cả bọn chúng tôi lại tiến vào những miền núi lạnh buốt ấy, đường chẳng có chỗ nào rộng hơn mu bàn tay ông.
Hắn ngừng một lát, trong khi tôi hỏi hắn có còn nhớ nổi tính chất của miền đất mà hắn đã đi qua hay không.
—Tôi đang kể cho ông thẳng nhất có thể, nhưng đầu óc tôi chẳng còn khá như trước. Chúng đóng đinh xuyên qua nó để tôi nghe rõ hơn cách Dravot chết. Xứ ấy toàn núi, mà lũ la thì khó bảo khủng khiếp, dân cư thì thưa thớt, sống lẻ loi. Bọn tôi cứ lên mãi lên mãi, rồi xuống mãi xuống mãi, còn cái gã kia là Carnehan thì van Dravot đừng hát với huýt sáo to thế, nhỡ làm sạt xuống những trận lở tuyết kinh hồn. Nhưng Dravot bảo nếu một ông vua mà không được hát thì chẳng đáng làm vua, rồi quật roi vào mông lũ la, mặc kệ suốt mười ngày rét buốt. Bọn tôi tới một thung lũng lớn bằng phẳng nằm giữa đám núi, lũ la thì gần chết, nên bọn tôi giết chúng, vì chẳng có gì đặc biệt cho chúng hay cho bọn tôi ăn cả. Bọn tôi ngồi trên các thùng hàng, chơi chẵn lẻ với những viên đạn bị xóc văng ra.
—Rồi mười người cầm cung tên chạy xuống thung lũng ấy, đuổi theo hai mươi người cầm cung tên, và trận đánh thì dữ dội kinh hồn. Họ là những người da sáng—sáng hơn cả ông với tôi—tóc vàng và thân hình đẹp lạ. Dravot vừa mở các thùng súng vừa nói, “Đây là đầu mối của vụ làm ăn. Bọn mình sẽ đánh cho mười người kia,” rồi hắn bắn hai phát vào đám hai mươi người và hạ một tên cách tảng đá bọn tôi ngồi đến hai trăm yard. Đám còn lại bắt đầu bỏ chạy, nhưng Carnehan với Dravot cứ ngồi trên các thùng hàng mà tỉa từng tên ở mọi cự li, suốt dọc lên xuống thung lũng. Rồi bọn tôi tiến về phía mười người đã chạy cả qua tuyết kia, và họ bắn vào bọn tôi một mũi tên bé tí. Dravot bắn vượt quá đầu họ, thế là cả bọn nằm rạp xuống đất. Rồi hắn bước tới đá họ, rồi kéo họ dậy bắt tay từng người cho thân thiện kiểu ấy. Hắn gọi họ lại, giao cho họ khiêng các thùng, rồi vung tay ra dáng như thể hắn đã là vua mất rồi. Họ mang các thùng cùng hắn băng qua thung lũng và trèo lên đồi vào một rừng thông trên đỉnh, ở đó có nửa tá tượng đá lớn. Dravot bước đến pho lớn nhất—một tay mà họ gọi là Imbra—và đặt một khẩu súng trường cùng một viên đạn dưới chân nó, cọ mũi mình vào mũi nó ra vẻ cung kính, vỗ đầu nó, rồi đứng trước mặt nó mà chào. Xong hắn quay lại phía đám người, gật gật đầu và nói, “Ổn rồi. Tôi cũng biết đường nước non, với mấy ông quái tượng cổ lỗ này là bạn tôi.” Rồi hắn há miệng, chỉ vào trong đó, và khi người thứ nhất mang thức ăn đến cho hắn, hắn nói, “Không”; khi người thứ hai mang thức ăn đến, hắn cũng nói, “Không”; nhưng khi một trong những lão tư tế với tay đầu làng mang thức ăn đến, hắn nói, “Được”; giọng rất hống hách, rồi ăn chậm rãi. Thế là bọn tôi vào ngôi làng đầu tiên của mình không chút rắc rối nào, cứ như từ trên trời rơi xuống. Nhưng bọn tôi lại rơi từ một trong những cây cầu dây quỷ quái ấy xuống, ông thấy đó, mà sau chuyện ấy thì khó trông mong một người còn cười cợt cho lắm.
—Uống thêm chút whisky đi rồi kể tiếp, — tôi nói. — Đó là ngôi làng đầu tiên các anh vào. Làm sao các anh thành vua được?
—Tôi không phải vua, — Carnehan nói. — Dravot mới là vua, mà hắn trông bảnh lắm với cái mão vàng trên đầu và tất cả. Hắn với cái gã kia ở lại làng đó, sáng nào Dravot cũng ngồi cạnh lão Imbra, còn dân chúng thì kéo đến cúng bái. Đó là lệnh của Dravot. Rồi một đám người khác kéo vào thung lũng, và Carnehan với Dravot dùng súng trường tỉa họ trước khi họ biết bọn tôi ở đâu, rồi chạy xuống thung lũng và trèo lên phía bên kia, tìm thấy một ngôi làng khác, y như ngôi đầu, và dân ở đó đều úp mặt nằm rạp xuống đất, còn Dravot nói, “Giờ thì chuyện rắc rối giữa hai làng bọn mày là gì?” rồi dân chúng chỉ vào một người đàn bà, da sáng như ông với tôi, đã bị bắt đi, và Dravot dẫn cô ta trở lại làng đầu tiên rồi đếm xác chết—tám cái xác cả thảy. Với mỗi người chết, Dravot rưới một ít sữa xuống đất và vung tay như chong chóng, rồi nói, “Ổn cả.” Sau đó hắn với Carnehan mỗi người khoác tay một tay đầu làng, dắt họ xuống thung lũng, chỉ cho họ cách dùng ngọn giáo rạch một đường thẳng dọc lòng thung lũng, rồi trao cho mỗi bên một mảng cỏ cắt từ cả hai phía của đường ranh ấy. Rồi toàn thể dân chúng kéo xuống, gào hét như quỷ như ma, còn Dravot nói, “Đi đào đất đi, rồi hãy sinh sôi nảy nở,” và họ làm thế, dù chẳng hiểu gì. Sau đó bọn tôi hỏi tên các thứ bằng tiếng của họ—bánh mì với nước với lửa với tượng thần các thứ—và Dravot dắt thầy tư tế của mỗi làng lên trước pho tượng, bảo hắn phải ngồi đó mà xử cho dân, và hễ có chuyện gì hỏng thì hắn sẽ bị bắn.
“Sang tuần sau thì cả bọn đã cày xới đất đai dưới thung lũng, ngoan ngoãn như ong mà nom còn đẹp hơn ong nữa, còn các thầy tế thì nghe hết mọi lời khiếu nại rồi dùng điệu bộ câm cho Dravot biết đầu đuôi câu chuyện. ‘Mới chỉ là bắt đầu thôi,’ Dravot bảo. ‘Chúng nó tưởng mình là thần.’ Anh ấy với Carnehan chọn ra hai mươi tay khá nhất, dạy họ cách bóp cò súng trường, dàn hàng bốn, tiến hàng ngang, họ khoái lắm, mà cũng tinh đủ để hiểu ngay. Rồi anh ấy lấy cái tẩu với túi thuốc lá ra, để một món ở làng này, một món ở làng kia, rồi hai đứa tôi đi xem ở thung lũng kế phải làm gì. Chỗ ấy toàn đá là đá, có một ngôi làng nhỏ, Carnehan bảo:—‘Đưa chúng nó sang thung lũng cũ mà trồng cấy,’ rồi dắt sang đó, chia cho ít đất chưa ai chiếm. Chúng là một lũ xác xơ, nên trước khi cho vào Vương quốc mới, bọn tôi làm lễ lấy máu một con dê con cho chúng. Ấy là để làm dân chúng nể, rồi chúng yên ổn hẳn, Carnehan quay lại với Dravot, lúc ấy đã mò sang một thung lũng khác, toàn tuyết với băng, núi non chót vót. Ở đấy chẳng có người nào, nên Quân đội phát khiếp, Dravot bèn bắn chết một đứa, rồi cứ đi tiếp cho tới khi gặp dân trong một làng, và Quân đội giải thích rằng nếu dân làng không muốn bị giết thì tốt hơn hết đừng có nổ mấy khẩu súng hỏa mai bé tí của họ; vì họ có súng hỏa mai thật. Bọn tôi kết bạn với thầy tế, còn tôi ở lại đó một mình với hai thằng Quân đội, dạy đàn ông cách thao diễn, thì một ông Tù trưởng to như sấm từ bên kia tuyết kéo sang, trống đồng gõ ầm ầm, tù và rền rĩ, vì nghe nói có một vị thần mới đang lảng vảng đâu đây. Carnehan ngắm vào đám nâu xỉn ấy từ nửa dặm bên kia tuyết và bắn què một đứa. Rồi anh ấy nhắn cho ông Tù trưởng rằng, nếu không muốn chết, thì phải tới bắt tay tôi và để vũ khí lại đằng sau. Tù trưởng đi một mình tới trước, Carnehan bắt tay ông ta, quăng quật cánh tay y như Dravot vẫn làm, ông Tù trưởng ngạc nhiên hết sức, rồi vuốt lông mày tôi. Xong Carnehan một mình sang phía Tù trưởng, hỏi bằng điệu bộ câm xem ông ta có kẻ thù nào căm ghét không. ‘Có,’ ông Tù trưởng nói. Thế là Carnehan nhặt trong đám người của ông ta ra những tay khá nhất, giao cho hai thằng Quân đội dạy thao diễn, và hết hai tuần thì bọn ấy xoay trở đội ngũ cũng khá gần bằng dân Quân tình nguyện. Rồi anh ấy kéo quân với ông Tù trưởng lên một cánh đồng lớn trên đỉnh núi, đám người của Tù trưởng xông vào một ngôi làng và chiếm lấy; còn ba khẩu Martini của bọn tôi thì nã vào đám nâu xỉn bên địch. Thế là bọn tôi hạ được luôn cái làng ấy, và tôi xé một mảnh áo khoác của mình trao cho ông Tù trưởng, bảo: ‘Chiếm giữ đó cho tới khi ta quay lại’: như trong Kinh Thánh ấy. Để nhắc nhớ thêm, lúc tôi với Quân đội đã cách đó một nghìn tám trăm thước, tôi thả một viên đạn xuống gần chỗ ông ta đang đứng trên tuyết, và toàn bộ dân chúng rạp cả xuống úp mặt. Rồi tôi gửi thư cho Dravot, bất kể hắn đang ở đâu trên đất liền hay ngoài biển.”
Tôi ngắt lời, liều làm cho cái sinh vật ấy đứt mạch kể:—“Trên tận đó mà anh viết thư kiểu gì được?”
“Thư à?—Ồ!—Thư ấy à! Xin cứ nhìn vào giữa hai mắt tôi. Đó là thư nói bằng dây, bọn tôi học được cách ấy từ một người ăn xin mù ở Punjab.”
Tôi nhớ đã có lần một người mù tới tòa soạn, cầm một cành cây thắt nút và một sợi dây, hắn quấn sợi dây quanh cành theo một thứ mật mã do chính hắn đặt ra. Sau mấy ngày hay mấy giờ trôi qua, hắn vẫn có thể lặp lại nguyên câu mình đã cuốn lên. Hắn rút bảng chữ cái xuống còn mười một âm sơ đẳng; và đã thử dạy tôi phương pháp ấy, nhưng không thành.
“Tôi gửi lá thư đó cho Dravot,” Carnehan nói, “bảo hắn quay về vì Vương quốc này đang phình to quá sức tôi xoay xở, rồi tôi quay lại thung lũng đầu tiên xem đám thầy tế làm ăn ra sao. Chúng gọi ngôi làng bọn tôi chiếm cùng ông Tù trưởng là Bashkai, còn làng đầu tiên bọn tôi hạ là Er-Heb. Thầy tế ở Er-Heb làm khá ổn, nhưng có cả đống vụ đất đai tồn đọng chờ tôi phân xử, lại thêm mấy tay từ làng khác đêm đêm bắn tên sang. Tôi đi tìm cái làng ấy và bắn bốn phát vào đó từ khoảng một nghìn thước. Thế là dùng hết số đạn tôi muốn phí, rồi tôi đợi Dravot, lúc ấy đã đi mất hai ba tháng, còn tôi thì giữ cho dân của mình yên ổn.”
“Một buổi sáng tôi nghe tiếng trống tù và ầm ĩ như quỷ sứ, và Dan Dravot kéo xuống đồi với Quân đội của hắn cùng một cái đuôi hàng trăm người, mà điều kinh người nhất là trên đầu hắn đội một cái vương miện vàng lớn. ‘Lạy Chúa tôi, Carnehan,’ Daniel bảo, ‘vụ này ghê gớm lắm, và ta đã vơ được cả xứ này xa tới mức đáng để vơ. Ta là con trai của Alexander với Nữ hoàng Semiramis, còn anh là em trai ta và cũng là một vị thần! Đây là chuyện lớn nhất ta từng thấy. Suốt sáu tuần nay ta vừa hành quân vừa đánh trận với Quân đội, và mọi cái làng con xíu xiu trong vòng năm mươi dặm đều đã vui mừng quy phục; mà hơn thế nữa, ta đã nắm được cái chốt của toàn bộ trò này, anh sẽ thấy ngay, và ta có cả vương miện cho anh nữa! Ta đã bảo chúng làm hai cái ở một nơi gọi là Shu, chỗ vàng nằm trong đá như mỡ lá trong thịt cừu ấy. Vàng thì tôi thấy rồi, lam ngọc thì tôi đá ra khỏi vách núi, cát dưới sông thì có hồng ngọc đỏ, còn đây là một cục hổ phách có thằng mang tới cho tôi. Gọi hết các thầy tế lên đây, và này, lấy vương miện của anh đi.’”
“Một thằng mở cái túi tóc đen ra, và tôi đội vương miện lên. Nó chật quá mà nặng quá, nhưng tôi vẫn đội cho oai. Vàng dát đấy nhé, nặng những năm pao, như một cái đai thùng vậy.”
“‘Peachey,’ Dravot bảo, ‘ta không muốn đánh nhau nữa. Chính Hội mới là mánh chứ gì nữa, xin Chúa chứng giám!’ rồi hắn đưa ra đúng cái ông Tù trưởng tôi để lại ở Bashkai ấy, về sau bọn tôi gọi là Billy Fish, vì ông ta giống hệt Billy Fish, thằng lái đầu máy bồn nước lớn ở Mach trên tuyến Bolan hồi xưa. ‘Bắt tay ông ta đi,’ Dravot bảo, và tôi bắt tay, suýt nữa thì rụng rời, vì Billy Fish trao cho tôi Dấu nắm tay. Tôi không nói gì, nhưng thử lại ông ta bằng Dấu nắm tay bậc Bạn nghề (Fellow Craft). Ông ta đáp đúng phóc, thế là tôi thử Dấu nắm tay bậc Thầy, nhưng chỗ ấy thì trượt. ‘Ông ta là hội viên bậc Bạn nghề!’ tôi nói với Dan. ‘Ông ta có biết khẩu lệnh không?’ ‘Có chứ,’ Dan đáp, ‘và tất cả thầy tế đều biết. Phép lạ đấy! Các Tù trưởng và thầy tế có thể lập một Hội quán Tam điểm bậc Bạn nghề theo lối rất giống của ta, lại còn khắc cả ký hiệu lên đá, nhưng họ không biết Bậc Ba, và họ tìm tới để hỏi cho ra. Thật như Chúa vậy. Bao năm nay tôi vốn biết dân Afghan biết tới bậc Bạn nghề, nhưng cái này là phép lạ. Tôi là thần, lại là Đại Sư phụ của Hội Tam điểm, và tôi sẽ mở một Hội quán ở Bậc Ba, rồi nâng cấp các thầy tế đứng đầu và các Tù trưởng làng.’”
“‘Làm thế là trái hết luật lệ,’ tôi nói, ‘lập Hội quán mà không có ủy nhiệm của ai cả; với lại ta có từng giữ chức vụ nào trong Hội quán đâu.’”
“‘Đây là một đòn chính trị tuyệt hay,’ Dravot bảo. ‘Nó có nghĩa là cai trị xứ này nhẹ như xe bốn bánh tuột dốc. Giờ ta không thể dừng lại mà xét cho kỹ được, không thì chúng sẽ trở mặt. Ta có bốn mươi Tù trưởng theo sát gót, và chúng sẽ được truyền qua rồi nâng cấp đúng theo công trạng của chúng. Phân người này về các làng đi, và liệu mà dựng cho được một Hội quán kiểu nào đó. Đền Imbra sẽ làm phòng Hội quán được. Đàn bà phải may tạp dề theo mẫu anh chỉ cho chúng. Tối nay ta thiết triều với các Tù trưởng, mai mở Hội quán.’”
“Tôi thì đúng là rụng rời chân cẳng, nhưng chưa ngu đến mức không thấy cái trò Hội Tam điểm này cho bọn tôi một thế lực ghê gớm thế nào. Tôi chỉ cho người nhà các thầy tế cách làm tạp dề theo từng bậc, nhưng tạp dề của Dravot thì đường viền xanh với các dấu hiệu được làm bằng cục lam ngọc gắn trên da trắng chứ không phải vải. Bọn tôi lấy một phiến đá vuông lớn trong đền làm ghế cho Sư phụ, mấy phiến nhỏ hơn làm ghế cho các viên chức, rồi sơn nền đen thành những ô vuông trắng, làm hết sức có thể để mọi thứ ra dáng đúng phép.”
“Trong buổi thiết triều tổ chức đêm ấy trên sườn đồi, giữa những đống lửa lớn, Dravot tuyên bố rằng hắn với tôi là thần thánh, là con trai của Alexander, là các cựu Đại Sư phụ của Hội, và tới đây để biến Kafiristan thành một xứ nơi ai nấy được ăn trong yên ổn, uống trong thanh bình, và nhất là phải tuân lệnh bọn tôi. Rồi các Tù trưởng lần lượt tới bắt tay, mà họ rậm lông, da trắng, tóc vàng quá đỗi, cứ như bắt tay lại những bạn cũ. Bọn tôi đặt tên cho họ theo những người họ giống ở Ấn Độ mà bọn tôi từng quen biết nào Billy Fish, Holly Dilworth, Pikky Kergan là tay quản chợ hồi tôi ở Mhow, rồi đủ cả, đủ cả.”
“Phép lạ kinh người nhất là ở Hội quán đêm hôm sau. Một lão thầy tế cứ nhìn bọn tôi chằm chặp không ngơi, tôi thấy bất an, vì tôi biết bọn tôi sẽ phải vá víu Nghi lễ, mà chẳng biết họ đã biết những gì. Lão thầy tế ấy là người lạ từ bên kia làng Bashkai tới. Vừa lúc Dravot khoác cái tạp dề bậc Thầy mà đám con gái may cho hắn lên người, lão thầy tế rú lên một tiếng rồi tru tréo, xông vào lật đổ tảng đá Dravot đang ngồi. ‘Thế là xong đời,’ tôi bảo. ‘Đụng vào Hội mà không có ủy nhiệm thì nó ra thế đấy!’ Dravot chẳng chớp lấy một cái, ngay cả khi mười thầy tế xúm vào nghiêng đổ chiếc ghế Đại Sư phụ, tức là phiến đá của Imbra. Lão thầy tế bắt đầu chùi đầu dưới của nó để quét lớp bẩn đen đi, rồi chẳng bao lâu đã chỉ cho các thầy tế khác Dấu hiệu của bậc Thầy, y hệt cái trên tạp dề của Dravot, được khắc vào phiến đá. Chính các thầy tế ở đền Imbra cũng chẳng biết nó có ở đó. Ông già lập tức sấp mặt xuống chân Dravot mà hôn. ‘Lại may nữa rồi,’ Dravot nói vọng qua Hội quán với tôi, ‘chúng bảo đây là Dấu hiệu thất truyền mà chẳng ai hiểu nổi tại sao lại có. Giờ thì ta an toàn hơn cả an toàn.’ Rồi hắn nện báng súng xuống làm búa chủ tọa và nói:—‘Nhân danh quyền lực trao cho ta bởi chính bàn tay phải của ta và sự trợ giúp của Peachey, ta tuyên bố ta là Đại Sư phụ của toàn thể Hội Tam điểm ở Kafiristan, tại chính Hội quán Mẹ của xứ này, và là vua của Kafiristan, ngang hàng với Peachey!’ Nói xong hắn đội vương miện lên, tôi cũng đội cái của tôi lên, lúc ấy tôi đang làm Giám thị thứ nhất (Senior Warden), rồi bọn tôi mở Hội quán theo nghi thức tối cao. Đúng là một phép lạ kinh người! Các thầy tế di chuyển trong Hội quán qua hai bậc đầu gần như chẳng cần chỉ dẫn, như thể ký ức đang trở lại với họ vậy. Sau đó, Peachey và Dravot nâng cấp những kẻ xứng đáng, là các thượng tế và các Tù trưởng ở những làng xa. Billy Fish là người đầu tiên, và tôi nói thật với ngài là bọn tôi dọa ông ta mất vía. Chẳng có chỗ nào đúng theo Nghi lễ cả, nhưng nó đủ dùng cho việc của bọn tôi. Bọn tôi không nâng quá mười tay lớn nhất, vì không muốn làm cho Bậc ấy thành thường quá. Mà chúng thì gào lên đòi được nâng.”
“‘Sáu tháng nữa,’ Dravot bảo, ‘ta sẽ mở một kỳ hội nữa mà xem các người làm ăn thế nào.’ Rồi hắn hỏi họ chuyện các làng của họ, và biết rằng họ đánh nhau là như cơm bữa, đứa nọ với đứa kia, đến phát ngấy phát mệt rồi. Còn lúc không đánh nhau kiểu ấy thì họ đi đánh dân Mohammedan. ‘Bọn ấy có vào xứ ta thì đánh,’ Dravot bảo. ‘Cứ mỗi mười người trong bộ lạc các người thì cắt ra một người làm lính biên phòng, rồi từng đợt gửi hai trăm người một về thung lũng này để thao luyện. Từ nay sẽ không ai bị bắn hay bị đâm giáo nữa, miễn là hắn làm cho ra trò, và ta biết các người sẽ không lừa ta vì các người là dân da trắng, là con cháu Alexander, chứ không như lũ Mohammedan đen đúa tầm thường. Các người là dân của ta, và nhân danh Chúa,’ hắn nói, đến cuối thì xổ sang tiếng Anh, ‘ta sẽ nặn các người thành một Quốc gia ra hồn, hoặc là chết giữa lúc đang nặn!’”
“Tôi không thể kể hết bọn tôi đã làm gì trong sáu tháng sau đó, vì Dravot làm khối chuyện tôi không sao nắm được đầu đuôi, lại còn học tiếng của họ theo cái lối tôi không bao giờ theo kịp. Việc của tôi là giúp dân cày bừa, rồi thỉnh thoảng dẫn một toán Quân đội đi xem các làng khác làm gì, và bắt chúng bắc cầu dây qua những khe vực cắt nát cả xứ một cách khủng khiếp. Dravot đối với tôi rất tử tế, nhưng mỗi khi hắn đi đi lại lại trong rừng thông, hai tay giật bộ râu đỏ như máu ấy của hắn, thì tôi biết hắn đang nghĩ ra những kế hoạch tôi không thể góp ý nổi, và tôi chỉ chờ lệnh thôi.”
“Nhưng Dravot chưa bao giờ tỏ vẻ coi thường tôi trước mặt dân chúng. Họ sợ tôi và Quân đội, nhưng họ yêu Dan. Hắn là bạn chí cốt của đám thầy tế với các Tù trưởng; nhưng bất cứ ai vượt núi tới với một lời khiếu nại, Dravot cũng nghe cho công bằng rồi gọi bốn thầy tế lại mà phán phải làm gì. Hắn thường cho gọi Billy Fish từ Bashkai, Pikky Kergan từ Shu, với một lão Tù trưởng bọn tôi gọi là Kafuzelum, nghe cũng gần gần tên thật của lão, rồi ngồi hội đồng với họ mỗi khi có vụ đánh dẹp ở mấy làng nhỏ. Đó là Hội đồng chiến tranh của hắn, còn bốn thầy tế ở Bashkai, Shu, Khawak và Madora là Hội đồng Cơ mật. Chính đám ấy đã phái tôi đi, mang theo bốn mươi người, hai mươi khẩu súng trường, và sáu mươi người gánh lam ngọc, sang xứ Ghorband mua mấy khẩu Martini làm tay từ các xưởng của Amir ở Kabul tuồn ra, do một trung đoàn Herati của Amir bán, cái bọn sẵn sàng bán cả răng trong mồm lấy lam ngọc.”
“Tôi ở Ghorband một tháng, biếu viên Thống đốc những giỏ đẹp nhất của tôi để bịt miệng, lại đút thêm cho tay đại tá trung đoàn ấy một mớ, và nhờ cả hai bên lẫn dân bộ lạc, bọn tôi kiếm được hơn một trăm khẩu Martini làm tay, một trăm khẩu Jezail Kohat tốt, bắn được tới sáu trăm thước, và bốn mươi gánh đạn rất tồi cho súng trường. Tôi mang những gì có được quay về, rồi phân phát cho đám người các Tù trưởng gửi tới cho tôi huấn luyện. Dravot bận quá, không để mắt tới những thứ ấy, nhưng đám Quân đội cũ bọn tôi dựng lên ban đầu có giúp tôi, và bọn tôi đào tạo ra được năm trăm người biết thao diễn, với hai trăm người biết cầm súng khá ngay hàng thẳng lối. Ngay cả mấy khẩu súng làm tay xoắn vặn như nút chai ấy cũng là phép lạ trong mắt họ. Dravot thì nói chuyện to tát về xưởng thuốc súng với nhà máy, vừa đi đi lại lại trong rừng thông khi mùa đông sắp tràn xuống.”
“‘Ta sẽ không dựng nên một Quốc gia,’ hắn nói. ‘Ta sẽ dựng nên một Đế quốc! Đám này đâu phải dân da đen; chúng là người Anh! Nhìn mắt chúng mà xem, nhìn miệng chúng mà xem. Nhìn cái dáng đứng của chúng mà xem. Chúng ngồi ghế trong chính nhà mình. Chúng là Mười Bộ tộc Thất lạc, hay thứ gì đó gần như vậy, và chúng đã lớn lên thành người Anh. Sang xuân ta sẽ điều tra dân số, nếu đám thầy tế không hoảng. Trong đám núi này phải có đến tròn hai triệu người. Làng nào cũng đầy nhóc trẻ con. Hai triệu dân, hai trăm năm mươi nghìn đàn ông cầm vũ khí được, mà toàn là người Anh! Chúng chỉ thiếu súng trường với đôi chút thao luyện thôi. Hai trăm năm mươi nghìn người, sẵn sàng bổ vào sườn phải của Nga khi nó thò tay sang Ấn Độ! Peachey, anh bạn,’ hắn nói, vừa nhai râu từng nắm lớn, ‘ta sẽ làm Hoàng đế, Hoàng đế của Mặt đất! Rajah Brooke so với ta chỉ là trẻ còn bú. Ta sẽ thương lượng ngang hàng với Phó vương. Ta sẽ bảo ông ta gửi cho ta mười hai người Anh tuyển chọn, mười hai người ta biết rõ, sang giúp ta cai trị đôi chút. Có Mackray, tay hưu binh trung sĩ ở Segowli, lắm bữa ngon hắn từng đãi tôi, còn vợ hắn từng cho tôi cả quần. Có Donkin, cai ngục nhà lao Tounghoo; còn hàng trăm người khác, nếu tôi ở Ấn Độ thì muốn chỉ tay gọi ai cũng được. Phó vương sẽ làm việc đó cho tôi. Sang xuân ta sẽ cử người đi mời những người ấy, và ta sẽ viết xin Đại Hội quán chuẩn cho điều ta đã làm với tư cách Đại Sư phụ. Việc ấy, với cả đám Snider sẽ bị thải ra khi lính bản xứ ở Ấn Độ đổi sang Martini. Chúng có thể mòn nhẵn cả rồi, nhưng vẫn đủ để đánh nhau trên núi này. Mười hai người Anh, một trăm nghìn khẩu Snider tuồn nhỏ giọt qua xứ Amir, tôi chỉ cần bằng lòng với hai mươi nghìn trong một năm thôi, là ta thành Đế quốc. Khi mọi thứ vào khuôn vào nếp, ta sẽ quỳ gối trao lại vương miện, chính cái vương miện ta đang đội đây, cho Nữ hoàng Victoria, và bà sẽ nói:—“Hãy đứng lên, Sir Daniel Dravot.” Ôi, lớn lắm! Lớn lắm, tôi bảo anh! Nhưng chỗ nào cũng còn bao việc phải làm, Bashkai, Khawak, Shu, với khắp mọi nơi khác.’”
“‘Chuyện gì thế?’ tôi hỏi. ‘Mùa thu này chẳng còn người nào tới để thao luyện nữa đâu. Nhìn mấy đám mây đen ụ ấy kìa. Chúng mang tuyết tới đấy.’”
“‘Không phải chuyện đó,’ Daniel nói, bàn tay siết vai tôi rất mạnh; ‘và tôi không muốn nói điều gì bất kính với anh, vì trên đời này không người sống nào khác đã theo tôi và làm cho tôi thành ra thế này như anh đã làm. Anh là một Tổng tư lệnh hạng nhất, dân chúng đều biết anh; nhưng xứ này rộng lắm, và không hiểu sao anh không giúp tôi được theo cái cách tôi muốn được giúp, Peachey ạ.’”
“‘Thế thì đi mà tìm lũ thầy tế chết tiệt của anh!’ tôi nói, rồi chính tôi cũng hối ngay khi buông câu ấy, nhưng quả thật tôi đau lắm khi thấy Daniel nói cái giọng bề trên như thế, trong khi chính tôi đã huấn luyện toàn bộ đám người kia và làm mọi điều hắn bảo.”
“— Đừng cãi cọ nữa, Peachey, Daniel nói, không thốt một câu chửi. — Anh cũng là vua kia mà, với lại nửa vương quốc này là của anh; nhưng anh không thấy sao, Peachey, giờ ta cần những tay khôn hơn ta mới được, ba bốn đứa để rải đi làm phó tá cho mình? Đây là một nước lớn tổ bố, mà tôi không phải lúc nào cũng biết làm thế nào mới phải, lại chẳng có thì giờ làm hết những gì tôi muốn, mà mùa đông thì sắp tới nữa chứ. Hắn nhét nửa bộ râu vào miệng, và nó đỏ rực như vàng trên vương miện của hắn.
“— Tôi xin lỗi, Daniel, tôi nói. — Tôi đã làm hết sức mình. Tôi đã luyện quân, chỉ cho dân cách chất yến mạch cho khéo hơn, lại còn mang vào đám súng bọc thiếc ấy từ Ghorband nữa — nhưng tôi biết anh đang muốn nói tới chuyện gì. Tôi đoán vua nào cũng thấy bí bức theo kiểu ấy.
“— Còn một chuyện nữa, Dravot nói, vừa đi đi lại lại. — Mùa đông sắp đến, bọn này sẽ chẳng quấy rầy nhiều đâu, mà nếu có thì mình cũng chẳng đi lại được. Tôi muốn lấy vợ.
“— Vì Chúa mà tránh xa đàn bà đi! tôi nói. — Cả hai ta đều ngập đầu công việc rồi, dù tôi có là thằng ngu chăng nữa. Nhớ cái giao kèo ấy, và liệu mà tránh đàn bà.
“— Giao kèo ấy chỉ có hiệu lực cho đến khi ta thành vua; mà mấy tháng nay ta đã là vua rồi, Dravot nói, tay cân vương miện. — Anh cũng đi kiếm vợ đi, Peachey — một con bé khỏe khoắn, mũm mĩm, để ủ ấm anh mùa đông. Bọn nó xinh hơn gái Anh, mà ta muốn chọn con nào chẳng được. Trụng chúng một hai lượt nước nóng, là trắng như thịt gà với giăm bông.
“— Đừng có cám dỗ tôi! tôi nói. — Tôi sẽ không dính tới đàn bà, ít ra chưa phải lúc này, khi ta còn chưa yên ổn hơn bây giờ biết bao. Tôi làm việc của hai người, còn anh làm việc của ba. Ta hãy lơi ra một chút, xem có kiếm được thuốc lá khá hơn từ xứ Afghan và tuồn vào ít rượu ngon; nhưng đàn bà thì không.
“— Ai nói tới đàn bà? Dravot nói. — Tôi bảo là vợ — một hoàng hậu để sinh cho vua một hoàng tử. Một hoàng hậu từ bộ tộc khỏe nhất, để họ thành anh em máu mủ với anh, để nàng nằm bên anh và kể cho anh biết dân chúng nghĩ gì về anh cùng chuyện riêng của họ. Tôi muốn thế.
“— Anh còn nhớ con mụ Bengal tôi nuôi ở Mogul Serai hồi tôi đi đặt đường ray chứ? tôi nói. — Nó có ích quái gì đâu. Nó dạy tôi tiếng bản xứ và một hai món khác; nhưng rồi sao? Nó cuỗm theo thằng hầu của trưởng ga và nửa tháng lương của tôi mà chạy mất. Rồi nó lại lù lù hiện ra ở ngã ba Dadur đi theo một thằng lai, còn trơ tráo nhận tôi là chồng nó — ngay giữa đám lái tàu trong xưởng đầu máy!
“— Chuyện ấy xong rồi, Dravot nói. — Đàn bà ở đây trắng hơn cả anh lẫn tôi, và mùa đông này tôi nhất định phải có một hoàng hậu.
“— Lần cuối tôi xin anh, Dan, đừng, tôi nói. — Chỉ tổ mang họa thôi. Kinh Thánh có nói vua không được phung phí sức lực vào đàn bà, nhất là khi còn phải uốn nắn một vương quốc mới toanh và thô sống như cái này.
“— Lần cuối tôi đáp anh, tôi sẽ làm, Dravot nói, rồi bỏ đi qua rừng thông, trông như một con quỷ đỏ khổng lồ. Nắng chiều thấp hắt vào vương miện và bộ râu của hắn từ một phía, làm cả hai rực lên như than hồng.
“Nhưng kiếm vợ không dễ như Dan tưởng. Hắn đem việc ấy ra trước Hội đồng, và không ai đáp cho tới khi Billy Fish nói rằng tốt hơn hết là hỏi các cô gái. Dravot chửi rủa cả lượt. — Tôi có gì không ổn nào? hắn thét, đứng bên tượng thần Imbra. — Tôi là chó hay là chưa đủ đàn ông cho con gái các ông? Chẳng phải tôi đã che bóng bàn tay mình lên xứ này sao? Ai chặn cuộc cướp phá Afghan lần trước? Thật ra là tôi, nhưng Dravot giận quá nên quên bẵng mất. — Ai mua súng cho các ông? Ai sửa cầu cho các ông? Ai là Đại Sư Hội Tam điểm của cái dấu khắc trên đá ấy? Rồi hắn nện tay xuống phiến đá hắn vẫn ngồi mỗi khi vào hội quán Tam điểm, và cả lúc họp Hội đồng nữa, vì Hội đồng bao giờ cũng mở đầu như một buổi hội Tam điểm. Billy Fish không nói, những kẻ khác cũng thế. — Bình tĩnh đi, Dan, tôi nói; — rồi hỏi bọn con gái ấy đi. Ở quê nhà người ta vẫn làm thế, mà dân xứ này thì Anh lắm.
“— Chuyện vua lấy vợ là quốc sự, Dan nói, nổi giận bừng bừng đến trắng người, vì hẳn hắn cũng cảm thấy, tôi hy vọng thế, rằng mình đang đi ngược lại điều khôn ngoan hơn trong bụng. Hắn bỏ ra khỏi phòng hội đồng, còn bọn kia cứ ngồi im, mắt nhìn xuống đất.
“— Billy Fish, tôi bảo viên tù trưởng Bashkai, chuyện khó ở đây là gì? Nói thật với một người bạn thật lòng đi. — Ông biết rồi, Billy Fish đáp. — Người biết hết mọi thứ như ông thì làm sao tôi nói cho ông hay? Con gái loài người sao lấy thần hay quỷ được? Không phải lẽ.
“Tôi nhớ trong Kinh Thánh hình như có đoạn gì giống thế; nhưng sau ngần ấy lâu nhìn chúng tôi, nếu họ vẫn tin chúng tôi là thần, thì tôi cũng chẳng việc gì phải làm họ vỡ mộng.
“— Thần thì làm được mọi chuyện, tôi nói. — Nếu nhà vua thích một cô gái thì ngài sẽ không để cô ấy chết. — Cô ấy sẽ phải chết, Billy Fish nói. — Trong núi này đủ mọi hạng thần với quỷ, và thỉnh thoảng lại có một cô gái lấy một đứa trong bọn đó rồi không ai còn thấy nữa. Với lại, hai ông biết Dấu khắc trên đá. Chỉ thần mới biết cái ấy. Chúng tôi tưởng hai ông là người cho tới khi hai ông cho thấy dấu hiệu của bậc Thầy.
“Khi ấy tôi ước gì ngay từ đầu chúng tôi đã giải thích chuyện những bí mật chân truyền của một Hội viên Tam điểm bậc Thầy bị thất lạc; nhưng tôi không nói gì. Suốt đêm hôm đó, kèn tù và thổi inh ỏi trong một ngôi đền tối om nhỏ xíu lưng chừng sườn đồi, và tôi nghe tiếng một cô gái khóc như thể sắp chết. Một thầy tế bảo chúng tôi rằng người ta đang chuẩn bị cho cô lấy vua.
“— Tôi không chịu cái trò nhảm nhí ấy đâu, Dan nói. — Tôi không muốn xen vào phong tục của các ông, nhưng tôi sẽ tự chọn vợ cho mình. — Cô gái hơi sợ một chút, thầy tế nói. — Cô ấy nghĩ mình sắp chết, nên người ta đang động viên cô ở dưới đền.
“— Thế thì động viên nó cho thật dịu dàng vào, Dravot nói, — nếu không tao sẽ động viên mày bằng báng súng, đến đời nào mày cũng chẳng cần ai động viên nữa. Dan liếm môi, rồi thức đi đi lại lại quá nửa đêm, nghĩ tới người vợ sáng mai hắn sẽ cưới. Còn tôi thì chẳng yên dạ tí nào, vì tôi biết dính đến đàn bà nơi đất khách, dù có đội vương miện làm vua hai mươi lần đi nữa, cũng chỉ có nước chuốc lấy hiểm họa. Sáng sớm tinh mơ, lúc Dravot còn ngủ, tôi dậy lên và thấy bọn thầy tế túm tụm thì thầm, còn các tù trưởng cũng đang rỉ rầm với nhau, liếc xéo tôi bằng khóe mắt.
“— Có chuyện gì vậy, Fish? tôi hỏi người Bashkai, đang quấn áo lông và nom oai phong lắm.
“— Tôi cũng không nói chắc được, hắn đáp; — nhưng nếu ông có thể khuyên nhà vua dẹp cái trò cưới xin này đi thì là làm ơn lớn cho ông ấy, cho tôi, và cho chính ông.
“— Tôi tin lắm chứ, tôi nói. — Nhưng hẳn anh cũng biết, Billy ạ, như tôi biết, sau khi từng đánh nhau chống lại rồi lại đánh nhau vì chúng tôi, rằng nhà vua với tôi chẳng qua chỉ là hai gã đàn ông cừ nhất mà Đức Chúa toàn năng từng nặn ra. Chỉ có thế thôi, tôi cam đoan với anh.
“— Có thể vậy, Billy Fish nói, — mà dẫu vậy tôi vẫn tiếc nếu đúng thế. Hắn vùi đầu vào chiếc áo choàng lông lớn một lúc mà ngẫm nghĩ. — Vua ạ, hắn nói, — ông là người, là thần hay là quỷ thì hôm nay tôi vẫn theo ông. Tôi có hai mươi người đi cùng, và họ sẽ theo tôi. Ta sẽ về Bashkai cho tới khi cơn giông qua đi.
“Đêm có rơi một ít tuyết, và mọi thứ đều trắng xóa trừ những đám mây mỡ màng nhờn nhợt từ phương bắc cuộn xuống hết lớp này đến lớp khác. Dravot đội vương miện bước ra, vừa vung tay vừa giậm chân, nom khoái chí hơn cả Punch.
“— Lần cuối cùng, bỏ đi, Dan, tôi thì thầm. — Billy Fish ở đây bảo sẽ có biến.
“— Dân của tôi mà làm loạn ư! Dravot nói. — Không đời nào. Peachey, anh ngu lắm mới không kiếm lấy một bà vợ nữa. Con bé đâu? hắn gầm lên, oang oang như tiếng lừa kêu. — Gọi hết các tù trưởng với thầy tế lại đây, để Hoàng đế xem vợ mình có vừa mắt không.
“Chẳng cần gọi ai cả. Họ đều đã có mặt, tựa súng và giáo quanh khoảng trống giữa rừng thông. Một phái đoàn thầy tế đi xuống ngôi đền nhỏ để đưa cô gái lên, và tù và thổi vang đến nỗi người chết cũng phải tỉnh. Billy Fish lượn quanh rồi đứng ép sát Daniel nhất có thể, sau lưng hắn là hai mươi tay súng hỏa mai. Không một ai trong bọn họ thấp dưới sáu foot. Tôi đứng bên cạnh Dravot, còn sau lưng tôi là hai mươi người quân chính quy. Rồi cô gái đi lên, một con bé khỏe mạnh đẫy đà thật sự, mình phủ bạc với lam ngọc, nhưng trắng bệch như xác chết, phút nào cũng ngoái nhìn lại bọn thầy tế.
“— Được đấy, Dan nói, ngắm nghía cô. — Có gì mà phải sợ, em? Lại đây hôn ta nào. Hắn quàng tay ôm cô. Cô nhắm mắt lại, kêu éc một tiếng, rồi vùi mặt vào một bên bộ râu đỏ rực của Dan.
“— Con khốn đó cắn tôi! hắn thét, ôm tay lên cổ; mà quả thật, tay hắn đỏ lòm máu. Billy Fish cùng hai tay súng hỏa mai chộp lấy vai Dan, lôi hắn sang phía nhóm Bashkai, còn bọn thầy tế tru tréo bằng thứ tiếng của chúng: — Chẳng phải thần cũng chẳng phải quỷ, chỉ là người! Tôi thì sững cả người, vì một thầy tế chém bổ tới trước mặt tôi, còn đám quân sau lưng bắt đầu nã vào người Bashkai.
“— Đức Chúa toàn năng ơi! Dan nói. — Cái này nghĩa là thế nào?
“— Quay lại! Đi thôi! Billy Fish nói. — Chỉ có tan tành và binh biến thôi. Nếu được thì ta phá vòng vây về Bashkai.
“Tôi cố ra lệnh thế nào đó cho quân của tôi — đám quân chính quy — nhưng vô ích, thế là tôi cầm khẩu Martini của Anh bắn đại vào giữa cái đám da nâu ấy, bắn hạ ba thằng một hàng. Cả thung lũng đặc sệt tiếng la hét, tru hú, và người nào người nấy đều gào lên: — Chẳng phải thần cũng chẳng phải quỷ, chỉ là người! Quân Bashkai bám Billy Fish hết sức mình, nhưng súng hỏa mai của họ đâu có ngon bằng bọn súng nạp hậu từ Kabul, và bốn người ngã xuống. Dan gầm như bò mộng vì giận điên lên; Billy Fish phải khó nhọc lắm mới ngăn được hắn xông ra giữa đám đông.
“— Không trụ được đâu, Billy Fish nói. — Chạy dọc xuống thung lũng thôi! Cả xứ này chống lại ta rồi. Đám súng hỏa mai chạy trước, và chúng tôi lao xuống thung lũng mặc Dravot kêu phản đối om sòm. Hắn chửi như quỷ và gào rằng mình là vua. Bọn thầy tế lăn những tảng đá lớn xuống đầu chúng tôi, quân chính quy thì bắn như vãi, và lúc xuống tới đáy thung lũng, ngoài Dan, Billy Fish và tôi, chẳng còn quá sáu người sống sót.
“Rồi chúng ngừng bắn, và những chiếc tù và trong đền lại thổi lên. — Đi đi — vì Chúa đi đi! Billy Fish nói. — Chúng sẽ cho người chạy tới mọi làng trước cả khi ta tới Bashkai. Về đó tôi còn che chở được cho các ông, chứ bây giờ thì tôi chẳng làm gì nổi.
“Theo ý tôi thì kể từ giờ ấy, đầu óc Dan bắt đầu hóa dại. Hắn nhìn trừng trừng lên xuống như lợn bị xiên. Rồi hắn đòi quay trở lại một mình giết đám thầy tế bằng tay không; mà hắn làm được thật. — Tôi là Hoàng đế, Daniel nói, — và sang năm tôi sẽ là Hiệp sĩ của Nữ hoàng.
“— Được rồi, Dan, tôi nói, — nhưng giờ thì đi thôi, còn kịp.
“— Tại anh cả, hắn nói, — vì không trông nom quân của anh cho khá hơn. Có loạn ở ngay giữa, thế mà anh chẳng hay — đồ chó lái đầu máy, đặt đường ray, đi xin giấy thông hành của bọn giáo sĩ! Hắn ngồi phịch lên tảng đá và gọi tôi bằng mọi thứ tên chó má hắn có thể nghĩ ra. Tôi đau lòng quá nên cũng mặc, dẫu chính cái ngu của hắn mới gây ra tai vỡ lở này.
“— Tôi lấy làm tiếc, Dan, tôi nói, — nhưng dân bản xứ thì chẳng lường được. Vụ này là Cái Năm Năm Mươi Bảy của ta. Biết đâu tới Bashkai rồi ta còn xoay được gì.
“— Thế thì tới Bashkai đã, Dan nói, — rồi, nhân danh Chúa, khi tôi quay lại đây lần nữa, tôi sẽ quét sạch cái thung lũng này cho đến một con rệp trong chăn cũng chẳng còn!
“Chúng tôi đi suốt ngày hôm ấy, và suốt đêm Dan cứ dậm dình trên tuyết, nhai râu và lầm bầm một mình.
“— Không có hy vọng thoát đâu, Billy Fish nói. — Bọn thầy tế ắt đã cho người chạy tới các làng báo rằng các ông chỉ là người. Sao các ông không cứ làm thần đi cho đến khi mọi việc yên hơn? Tôi là người chết rồi, Billy Fish nói, rồi quăng mình xuống tuyết và bắt đầu cầu khấn các thần của hắn.
“Sáng hôm sau, chúng tôi lọt vào một vùng xấu kinh khủng — toàn dốc lên dốc xuống, không có lấy một khoảnh đất bằng, mà cũng chẳng có đồ ăn. Sáu người Bashkai nhìn Billy Fish bằng ánh mắt đói ngấu như muốn hỏi điều gì, nhưng tuyệt không mở miệng. Đến trưa chúng tôi lên tới đỉnh một quả núi bằng phẳng phủ kín tuyết, và vừa trèo lên đó thì, này nhé, có cả một đạo quân dàn sẵn chờ ngay giữa!
“— Bọn chạy tin quả là lẹ, Billy Fish nói, bật cười khe khẽ. — Chúng đang đợi ta.
“Bên phía quân địch có ba bốn người bắt đầu bắn, và một phát rủi trúng bắp chân Daniel. Thế là hắn tỉnh người lại. Hắn nhìn qua mặt tuyết sang đạo quân kia, và thấy những khẩu súng trường chính tay chúng tôi đã đem vào xứ này.
“— Thế là hết đời rồi, hắn nói. — Bọn này giờ cũng như người Anh rồi, đám người này — và chính cái trò ngu chết tiệt của tôi đã đẩy anh đến nông nỗi này. Lui lại đi, Billy Fish, dẫn người của anh đi đi; anh đã làm hết sức rồi, giờ thì chuồn cho lẹ. Carnehan, hắn nói, bắt tay tôi rồi đi cùng Billy đi. Biết đâu chúng không giết anh. Tôi sẽ ra gặp chúng một mình. Chính tôi gây ra chuyện này. Tôi, nhà vua!
“— Đi ấy à! tôi nói. — Xuống địa ngục đi, Dan. Tôi ở đây với anh. Billy Fish, anh chuồn đi, còn hai chúng tôi sẽ ra gặp bọn ấy.
“— Tôi là tù trưởng, Billy Fish nói, rất điềm tĩnh. — Tôi ở lại với các ông. Người của tôi có thể đi.
“Bọn Bashkai chẳng chờ nói lần hai, chạy biến đi ngay, còn Dan với tôi và Billy Fish thì bước về phía trống đang dồn, tù và đang rúc. Lạnh lắm — lạnh kinh khủng. Đến giờ tôi vẫn còn cái lạnh ấy ở sau đầu. Nó vón thành một cục ở đấy.”
Bọn phu kéo quạt đã ngủ gật cả. Hai ngọn đèn dầu hỏa cháy rực trong văn phòng, và mồ hôi chảy ròng ròng xuống mặt tôi, nhỏ lộp bộp lên giấy thấm khi tôi cúi người về trước. Carnehan đang run lẩy bẩy, và tôi sợ trí óc hắn có thể sắp hỏng mất. Tôi lau mặt, nắm lại đôi bàn tay bị dập nát thảm hại ấy, rồi nói: — Sau đó thế nào?
Chỉ một cái liếc mắt chệch đi thoáng chốc ấy cũng đủ cắt đứt dòng kể đang tuôn rành rọt.
—Ngài vừa bảo gì cơ? — Carnehan rên rỉ. — Chúng tóm lấy họ mà chẳng một tiếng động. Dọc suốt mặt tuyết không một lời thì thào, dẫu Nhà Vua quật ngã tên đầu tiên thò tay vào ông ấy, dẫu lão Peachey bắn viên đạn cuối cùng vào giữa đám da nâu ấy. Bọn súc sinh ấy không thốt ra nổi lấy một tiếng lẻ loi. Chúng cứ thế khép chặt lại, sít rịt, mà tôi nói cho ngài biết, lông thú trên người chúng hôi không chịu nổi. Có một người tên Billy Fish, bạn tốt của tất cả chúng tôi, thế mà chúng cắt họng ông ấy, thưa ngài, ngay tại chỗ, như cắt tiết lợn; còn Nhà Vua đá tung đám tuyết chết tiệt lên mà nói: “Ta đã có một phen thật đáng đồng tiền bát gạo. Giờ đến món gì nữa đây?” Nhưng Peachey, Peachey Taliaferro ấy, tôi nói riêng với ngài thôi, giữa hai người bạn với nhau, hắn cuống trí mất rồi, thưa ngài. Không, cũng chẳng phải hắn. Chính Nhà Vua bị chặt đầu, đúng thế, trên một trong những cái cầu dây quỷ quái ấy. Làm ơn cho tôi mượn con dao rọc giấy, thưa ngài. Nó nghiêng thế này này. Chúng lùa ông ấy đi một dặm trên tuyết tới một cây cầu dây bắc qua vực, dưới đáy có sông chảy. Hẳn ngài từng thấy loại ấy rồi. Chúng chọc sau lưng ông ấy như lùa một con bò. “Đồ khốn kiếp!” Nhà Vua nói. “Chúng tưởng ta không biết chết như một quý ông hay sao?” Ông quay sang Peachey, Peachey lúc ấy khóc như một đứa trẻ. “Tôi đã lôi anh đến nông nỗi này, Peachey,” ông nói. “Lôi anh khỏi cuộc sống yên ổn để bị giết ở Kafiristan, nơi anh mới đây còn là Tổng tư lệnh quân đội Hoàng đế. Hãy nói là anh tha thứ cho tôi đi, Peachey.” “Tôi tha,” Peachey nói. “Tôi tha thứ cho anh hoàn toàn và tự nguyện, Dan ạ.” “Bắt tay đi, Peachey,” ông nói. “Tôi đi đây.” Thế là ông bước ra, chẳng nhìn phải cũng chẳng nhìn trái, và khi đã đúng giữa lưng chừng mấy sợi dây chao đảo ấy, ông thét: “Cắt đi, lũ khốn!” Thế là chúng cắt, và lão Dan rơi xuống, quay tròn, quay tròn mãi, suốt hai vạn dặm, vì lão mất đến nửa giờ mới chạm nước, và tôi còn nhìn thấy xác lão mắc trên một tảng đá, cái vương miện vàng nằm sát bên.
—Nhưng ngài có biết chúng làm gì với Peachey giữa hai thân thông không? Chúng đóng đinh hắn lên, thưa ngài, cứ nhìn tay Peachey là biết. Chúng dùng chốt gỗ đóng xuyên tay và chân hắn; thế mà hắn không chết. Hắn treo ở đó mà gào thét, rồi hôm sau chúng hạ hắn xuống, bảo rằng hắn không chết đúng là một phép lạ. Chúng hạ hắn xuống, tội nghiệp lão Peachey có làm hại gì chúng đâu, có làm hại gì chúng đâu...
Hắn lắc lư qua lại rồi òa khóc thảm thiết, lấy mu bàn tay đầy sẹo quệt mắt và rên rỉ như một đứa trẻ chừng mười phút.
—Chúng còn ác đến nỗi cho hắn ăn uống no đủ trong đền, vì chúng bảo hắn còn giống thần hơn cả lão Daniel, vốn chỉ là người. Rồi chúng đuổi hắn ra tuyết, bảo hắn đi về nhà, và Peachey về tới nhà sau chừng một năm, dọc đường cứ thế đi xin mà vẫn bình an; vì Daniel Dravot đi trước mặt và nói: “Đi nào, Peachey. Chúng ta đang làm một việc lớn.” Núi non nhảy múa ban đêm, núi non tìm cách đổ sập lên đầu Peachey, nhưng Dan giơ tay lên, và Peachey cứ còng lưng mà đi theo. Hắn không bao giờ buông tay Dan, và hắn cũng không bao giờ buông cái đầu Dan. Chúng cho hắn cái đầu ấy làm quà trong đền, để nhắc hắn đừng quay lại nữa, và tuy cái vương miện là vàng ròng, mà Peachey thì chết đói đến nơi, Peachey cũng không đời nào bán nó. Ngài từng biết Dravot mà, thưa ngài! Ngài từng biết Huynh đệ Rất Đáng Kính (Right Worshipful) Dravot mà! Giờ hãy nhìn ông ấy đi!
Hắn lục lọi trong đống giẻ rách quấn quanh cái lưng còng; lôi ra một cái túi đen bằng lông ngựa thêu chỉ bạc; rồi dốc từ đó lên mặt bàn tôi cái đầu khô quắt, teo tóp của Daniel Dravot! Ánh nắng sớm, từ lâu đã làm những ngọn đèn tái nhợt đi, chiếu vào bộ râu đỏ và đôi mắt mù lòa hõm sâu; cũng chiếu lên một vòng vàng nặng nạm ngọc lam thô mà Carnehan dịu dàng đặt lên hai bên thái dương méo dập.
—Giờ thì ngài nhìn thấy rồi đấy, — Carnehan nói, — Đức Hoàng đế đúng dung dạng lúc sinh thời, vua Kafiristan với vương miện trên đầu. Tội nghiệp lão Daniel, một thời cũng là bậc quân vương!
Tôi rùng mình, vì bất chấp bao nhiêu hủy hoại biến dạng, tôi vẫn nhận ra cái đầu của người đàn ông ở Marwar Junction. Carnehan đứng dậy đi. Tôi cố giữ hắn lại. Hắn không còn đủ sức mà đi ngoài đường. —Cất chai whiskey đi, rồi cho tôi ít tiền, — hắn thở hổn hển. — Tôi đã từng là vua. Tôi sẽ tới viên Phó Ủy viên và xin ngồi ở nhà tế bần cho tới khi lại sức. Không, đa tạ, tôi không thể chờ ngài kiếm xe cho tôi đâu. Tôi có việc riêng khẩn cấp, ở phía nam, tại Marwar.
Hắn lảo đảo ra khỏi văn phòng và đi về phía nhà viên Phó Ủy viên. Trưa hôm đó tôi có việc phải đi dọc con đường Mall nóng lòa mắt, và tôi thấy một người đàn ông lưng còng đang bò men theo lớp bụi trắng bên vệ đường, mũ cầm trong tay, giọng run run thảm não theo lối bọn hát rong ngoài phố bên quê nhà. Chẳng có một bóng người nào trong tầm mắt, và hắn ở quá xa để bất kỳ căn nhà nào có thể nghe thấy. Hắn hát bằng giọng mũi, đầu quay từ phải sang trái:
—Con Người ra đi chinh chiến, để giành một mão vàng; ngọn cờ đỏ máu của Người tung bay nơi xa — ai theo chân Người?
Tôi không đợi nghe thêm nữa, mà đỡ gã khốn khổ lên xe mình rồi chở thẳng tới nhà truyền giáo gần nhất để sau đó chuyển vào nhà thương điên. Hắn lặp lại bài thánh ca hai lần trong lúc ở với tôi, người mà hắn hoàn toàn chẳng nhận ra, và tôi bỏ hắn lại, vẫn đang hát với nhà truyền giáo.
Hai ngày sau tôi hỏi viên Giám thị nhà thương điên về tình trạng của hắn.
—Ông ta được nhận vào trong tình trạng cảm nắng. Ông ta chết vào sáng sớm hôm qua, — viên Giám thị nói. — Có thật là ông ta đã ở ngoài nắng giữa trưa suốt nửa giờ đồng hồ mà đầu trần không?
—Vâng, — tôi đáp, — nhưng ông có tình cờ biết được là lúc chết ông ta có mang theo thứ gì trên người không?
—Theo chỗ tôi biết thì không, — viên Giám thị đáp.
Và sự việc dừng lại ở đó.