Phố chính — Chương 39
Chương 40 / 40 · Bài review Phố chính
Suốt đường về nhà, nàng tự hỏi mình sẽ có những cảm giác gì. Nàng tự hỏi đến nỗi rốt cuộc có đủ mọi cảm giác nàng từng hình dung. Mỗi hiên nhà thân thuộc, mỗi tiếng “Chà, chà!” nồng hậu đều làm nàng náo nức, và nàng được tâng bốc vì, trong một ngày, mình là tin tức quan trọng nhất của cộng đồng. Nàng tất tả đi thăm hỏi. Juanita Haydock tuôn trào về cuộc chạm mặt của họ ở Washington, rồi ôm Carol vào vòng tay xã giao của mình. Kẻ đối địch từ thuở nào này xem chừng sẽ thành bạn thân thiết nhất của nàng, vì Vida Sherwin, tuy niềm nở, vẫn đứng lùi ra quan sát những tà thuyết nhập cảng.
Buổi tối Carol đến nhà máy xay. Tiếng Om-Om-Om huyền bí của các máy phát điện ở nhà máy điện phía sau nhà xay nghe lớn hơn trong bóng tối. Bên ngoài, người gác đêm Champ Perry ngồi đó. Ông giơ đôi bàn tay gân guốc lên, the thé: “Ai cũng nhớ cô kinh khủng.”
Ở Washington, ai sẽ nhớ nàng?
Ở Washington, ai đáng tin cậy được như Guy Pollock? Khi thấy chàng trên phố, vẫn mỉm cười như mọi khi, chàng dường như là một thứ vĩnh hằng, một phần của chính nàng.
Sau một tuần, nàng quyết rằng mình chẳng vui cũng chẳng buồn vì đã trở về. Nàng bước vào mỗi ngày với thái độ thực tế như khi đến văn phòng ở Washington. Đó là việc của nàng; sẽ có những chi tiết máy móc và những câu chuyện vô nghĩa; thì đã sao?
Vấn đề duy nhất nàng từng tiếp cận bằng xúc cảm hóa ra lại không đáng kể. Trên tàu, nàng đã tự khích lệ mình đến mức tận tụy sẵn sàng từ bỏ căn phòng riêng, thử chia sẻ toàn bộ đời mình với Kennicott.
Mười phút sau khi nàng bước vào nhà, chàng lẩm bẩm: “Này, anh vẫn giữ nguyên phòng của em như cũ. Anh cũng phần nào quay sang lối nghĩ của em rồi. Chẳng hiểu sao người ta cứ phải làm nhau bực mình chỉ vì thân thiết. Quỷ thật, anh đâm ra thích có chút riêng tư và tự mình nghiền ngẫm mọi chuyện.”
II
Nàng vừa rời một thành phố thức đêm để bàn về cuộc chuyển biến phổ quát; về cách mạng châu Âu, chủ nghĩa xã hội phường hội, thơ tự do. Nàng từng tưởng cả thế giới đang thay đổi.
Nàng nhận ra không phải vậy.
Ở Gopher Prairie, những đề tài mới mẻ duy nhất được bàn luận hăng hái là lệnh cấm rượu, chỗ ở Minneapolis có thể mua whisky giá mười ba đô một quart, công thức bia tự nấu, “chi phí sinh hoạt đắt đỏ,” cuộc bầu cử tổng thống, chiếc xe mới của Clark, và các tật xấu chẳng mấy mới lạ của Cy Bogart. Vấn đề của họ đúng y như hai năm trước, như hai mươi năm trước, và như hai mươi năm sau sẽ thế. Trong khi thế giới là một núi lửa có thể phun, những người làm ruộng vẫn cày dưới chân núi. Núi lửa thỉnh thoảng cũng trút một dòng nham thạch xuống ngay cả những nhà nông giỏi nhất, khiến họ kinh ngạc và thiệt hại đáng kể, nhưng con cháu họ thừa kế nông trại, rồi một hai năm sau lại trở về cày cấy.
Nàng không thể say sưa cho lắm trước bảy căn bungalow mới và hai ga-ra mà Kennicott làm ra vẻ quan trọng đến thế. Ý nghĩ mãnh liệt nhất của nàng về chúng là: “À phải, chắc là chúng cũng ổn.” Thay đổi nàng thực sự để ý là việc dựng lên tòa nhà trường, với những bức tường gạch vui mắt, cửa sổ rộng, nhà thể dục, các lớp học nông nghiệp và nấu ăn. Nó báo hiệu thắng lợi của Vida, và thôi thúc nàng hoạt động—bất cứ hoạt động nào. Nàng đến gặp Vida, tươi tỉnh nói: “Tôi nghĩ tôi sẽ làm việc cho cô. Và tôi sẽ bắt đầu từ dưới đáy.”
Nàng đã làm vậy. Mỗi ngày nàng thay người trông coi phòng nghỉ một giờ. Cải tiến duy nhất của nàng là sơn cái bàn gỗ thông màu đen và cam, gây chướng mắt ghê gớm đối với Câu lạc bộ Thanatopsis. Nàng trò chuyện với các bà vợ nông dân, dỗ dành con họ, và thấy hạnh phúc.
Nghĩ đến họ, nàng không nghĩ đến vẻ xấu xí của Phố Chính khi vội vã đi dọc đó tới cuộc chuyện trò ríu rít của Hội Mười Bảy Vui Vẻ.
Giờ đây nàng đeo kính mắt khi ra phố. Nàng bắt đầu hỏi Kennicott và Juanita liệu trông mình có trẻ không, trẻ hơn nhiều so với tuổi ba mươi ba. Kính mắt ép đau sống mũi. Nàng tính đến kính gọng. Chúng sẽ khiến nàng trông già hơn, và như đã an phận không còn hy vọng. Không! Nàng chưa chịu đeo kính gọng. Nhưng nàng thử một chiếc ở phòng mạch của Kennicott. Quả thật chúng dễ chịu hơn nhiều.
III
Bác sĩ Westlake, Sam Clark, Nat Hicks và Del Snafflin đang trò chuyện trong tiệm cắt tóc của Del.
“Chà, tôi thấy vợ Kennicott bây giờ đang thử sức ở phòng nghỉ,” bác sĩ Westlake nói. Ông nhấn mạnh chữ “bây giờ.”
Del ngừng cạo râu cho Sam, rồi với cây chổi còn nhỏ giọt bọt xà phòng, hóm hỉnh nhận xét:
“Tiếp theo cô ta sẽ bày trò gì nữa đây? Nghe nói trước kia cô ta từng bảo cái xó này chẳng đủ sang cho một cô gái thành thị như cô ta, rồi xin chúng ta tự đánh thuế chừng ba mươi bảy phẩy chín để sửa sang hết cho đẹp đẽ, bọc ren cho vòi nước chữa cháy và đặt tượng trên các bãi cỏ——”
Sam cáu kỉnh thổi bọt khỏi môi, thành những bong bóng nhỏ trắng đục, rồi khịt mũi: “Sẽ tốt cho hầu hết bọn thô lỗ chúng ta nếu có một phụ nữ thông minh chỉ bảo cách sửa sang thị trấn. Ý kiến cô ấy cũng có lý chẳng kém chuyện Jim Blausser ba hoa về các nhà máy. Và cứ tin tôi, bà Kennicott thông minh lắm, dù hơi đồng bóng. Mừng vì cô ấy về lại.”
Bác sĩ Westlake vội vàng giữ thế an toàn. “Tôi cũng vậy! Tôi cũng vậy! Cô ấy có cách cư xử dễ mến, với lại biết khá nhiều về sách vở, hay ít nhất là tiểu thuyết. Dĩ nhiên cô ấy giống mọi phụ nữ khác—không có nền tảng vững—không uyên bác—chẳng biết gì về kinh tế chính trị—hễ một gã lập dị ba hoa nào tung ra ý tưởng mới là mê tít. Nhưng cô ấy là người phụ nữ dễ mến. Chắc cô ấy sẽ sửa sang phòng nghỉ, mà phòng nghỉ là thứ tuyệt vời, kéo được nhiều việc làm ăn vào thị trấn. Và giờ bà Kennicott đã đi xa một thời gian, có lẽ cô ấy đã khỏi vài ý tưởng ngớ ngẩn. Có lẽ cô ấy hiểu rằng người ta chỉ cười cô ấy khi cô ấy cố dạy chúng ta điều hành mọi thứ.”
“Đúng. Cô ta sẽ tự tỉnh ngộ thôi,” Nat Hicks nói, mím môi như đang phán xét. “Về phần tôi, tôi phải nói cô ta là một trong những chiếc váy đẹp nhất thị trấn. Nhưng ôi chao!” Giọng ông khiến cả bọn giật mình. “Chắc cô ta nhớ tay người Thụy Điển Valborg từng làm cho tôi lắm! Đúng là một cặp! Nói thơ với trăng gió! Nếu làm được, chắc họ đã quấn quýt yêu đương đến chết đi được——”
Sam Clark ngắt lời: “Vớ vẩn, họ chẳng hề nghĩ đến chuyện yêu đương, chỉ nói sách vở với thứ tào lao ấy thôi. Tôi bảo ông nhé, Carrie Kennicott là phụ nữ thông minh, mà những phụ nữ thông minh có học này đều nảy ra ý tưởng kỳ quặc, nhưng sau ba bốn đứa con thì hết. Rồi ông sẽ thấy một ngày nào đó cô ta yên ổn, dạy Trường Chúa nhật, phụ giúp các buổi liên hoan, cư xử cho phải phép, chứ không cố chen vào kinh doanh với chính trị nữa. Chắc chắn!”
Chỉ sau mười lăm phút hội ý về đôi tất của nàng, con trai nàng, phòng ngủ riêng của nàng, âm nhạc của nàng, mối quan tâm từ xưa của nàng đối với Guy Pollock, mức lương có lẽ nàng nhận ở Washington, và mọi lời nàng từng nói mà họ biết từ khi nàng trở về, hội đồng tối cao quyết định sẽ cho phép Carol Kennicott được sống, rồi chuyển sang cân nhắc mẩu truyện mới của Nat Hicks về người chào hàng rong và cô gái già.
IV
Vì một lý do hoàn toàn bí ẩn với Carol, Maud Dyer dường như bực bội trước sự trở về của nàng. Tại Hội Mười Bảy Vui Vẻ, Maud cười khúc khích đầy căng thẳng: “Chà, tôi đoán công việc thời chiến là cái cớ hay để cô đi vắng và vui chơi sang trọng. Juanita! Cô không thấy chúng ta nên bắt Carrie kể về những sĩ quan cô ấy gặp ở Washington sao?”
Họ xôn xao, nhìn chằm chằm. Carol nhìn họ. Tò mò như thế dường như tự nhiên và chẳng quan trọng gì.
“Ồ có, có chứ, hôm nào phải làm thế,” nàng ngáp.
Nàng không còn xem dì Bessie Smail đủ nghiêm trọng để phải vật lộn giành độc lập. Nàng hiểu dì Bessie không định xâm phạm; dì muốn làm mọi việc cho cả nhà Kennicott. Thế là Carol chạm đến bi kịch của tuổi già: không phải nó kém sung sức hơn tuổi trẻ, mà là tuổi trẻ không cần đến nó; tình yêu và sự khôn ngoan vụn vặt của nó, từng quan trọng biết bao chỉ vài năm trước, giờ được vui lòng hiến dâng lại bị khước từ bằng tiếng cười. Nàng đoán rằng khi dì Bessie mang vào một hũ thạch nho dại, dì chờ đợi với hy vọng người ta sẽ hỏi công thức. Từ đó, nàng vẫn có thể bực mình, nhưng không thể buồn bã vì cơn gió nóng rát những câu hỏi của dì Bessie.
Nàng cũng chẳng buồn bã ngay cả khi nghe bà Bogart nhận xét: “Giờ ta đã có lệnh cấm rượu, tôi thấy vấn đề kế tiếp của đất nước không hẳn là bỏ thuốc lá, mà là bắt mọi người giữ ngày Sa-bát và tống giam bọn phạm luật chơi bóng chày, đi xem phim, làm đủ thứ vào Ngày của Chúa.”
Chỉ có một điều làm tổn thương lòng tự phụ của Carol. Ít người hỏi nàng về Washington. Những người từng khẩn khoản xin Percy Bresnahan cho ý kiến với vẻ ngưỡng mộ nhất lại ít quan tâm nhất đến những sự thật nàng biết. Nàng cười mình khi nhận ra mình đã mong vừa là một kẻ dị giáo vừa là một nữ anh hùng trở về; nàng rất hợp lý và vui vẻ về điều đó; nhưng nó vẫn đau y như cũ.
Đứa bé của nàng, sinh vào tháng Tám, là con gái. Carol không thể quyết định cô bé sẽ thành một thủ lĩnh nữ quyền hay lấy một nhà khoa học, hoặc cả hai, nhưng đã quyết cho năm thứ nhất ở Vassar một bộ tricolette cùng chiếc mũ đen nhỏ.
VI
Hugh nói liến thoắng trong bữa sáng. Cậu muốn kể những ấn tượng của mình về cú và Phố F.
“Đừng làm ồn thế. Con nói nhiều quá,” Kennicott gầm gừ.
Carol bùng lên. “Đừng nói với con như vậy! Sao anh không nghe con nói? Con có vài chuyện rất thú vị để kể.”
“Sao thế? Ý em là anh phải bỏ hết thời giờ nghe nó huyên thuyên à?”
“Sao lại không?”
“Trước hết, nó phải học chút kỷ luật. Đã đến lúc nó bắt đầu được giáo dục.”
“Em học được kỷ luật nhiều hơn, được giáo dục nhiều hơn từ con, so với những gì con học từ em.”
“Gì đây? Lại một ý tưởng nuôi con kiểu mới em mang từ Washington về à?”
“Có lẽ. Anh đã bao giờ nhận ra trẻ con cũng là con người chưa?”
“Được rồi. Nhưng anh không để nó độc chiếm cuộc trò chuyện.”
“Không, dĩ nhiên. Chúng ta cũng có quyền của mình. Nhưng em sẽ nuôi con như một con người. Nó có số ý nghĩ nhiều y như chúng ta, và em muốn nó phát triển những ý nghĩ ấy, chứ không nhận lấy phiên bản Gopher Prairie của chúng. Công việc lớn nhất của em bây giờ là ngăn bản thân em, ngăn anh, khỏi ‘giáo dục’ con.”
“Thôi, đừng cãi nhau chuyện này. Nhưng anh không để nó bị nuông chiều.”
Mười phút sau Kennicott đã quên chuyện ấy; và nàng cũng quên—lần này.
VII
Nhà Kennicott và nhà Sam Clark lái xe lên phía bắc, đến một lối vịt bay qua giữa hai hồ, vào một ngày thu xanh biếc và ánh đồng.
Kennicott đưa nàng một khẩu súng săn cỡ hai mươi nhẹ. Nàng được học bài đầu tiên về bắn súng: phải mở mắt, không giật mình, hiểu rằng đầu ngắm ở cuối nòng thực sự có liên quan đến việc nhắm súng. Nàng rạng rỡ; nàng gần như tin Sam khi ông khăng khăng chính nàng đã bắn con vịt cổ xanh mà cả hai cùng bắn.
Nàng ngồi trên bờ hồ đầy lau sậy và tìm thấy sự nghỉ ngơi trong những lời bình thản thơi của bà Clark về những chuyện chẳng đâu. Hoàng hôn nâu tĩnh lặng. Sau lưng họ là những đầm lầy tối. Những thửa ruộng mới cày tỏa mùi tươi mới. Hồ màu ngọc hồng lựu và bạc. Giọng những người đàn ông chờ đàn vịt bay cuối cùng vang rõ trong không khí se lạnh.
“Đằng trái!” Kennicott cất tiếng gọi kéo dài như hát.
Ba con vịt sà xuống thành một hàng nhanh. Súng nổ đùng đùng, một con vịt chấp chới. Những người đàn ông đẩy chiếc thuyền nhẹ ra mặt hồ bóng loáng, khuất sau đám lau. Từ trong vùng mờ tối, tiếng nói vui vẻ của họ cùng tiếng mái chèo chậm rãi khua nước, va lách cách vọng về Carol. Trên trời, một đồng bằng rực lửa dốc xuống một hải cảng thanh bình. Nó tan đi; mặt hồ thành đá cẩm thạch trắng; và Kennicott đang gọi: “Này bà già, về nhà nhé? Bữa tối chắc ngon lắm, hả?”
“Em sẽ ngồi sau với Ethel,” nàng nói, khi đến xe.
Đó là lần đầu nàng gọi bà Clark bằng tên riêng; lần đầu nàng tự nguyện ngồi ghế sau, một người đàn bà của phố chánh.
“Mình đói. Được đói thật hay,” nàng nghĩ, khi xe chạy đi.
Nàng nhìn qua những cánh đồng im lìm về phía tây. Nàng ý thức một dải đất trải miên man đến Rockies, đến Alaska, một cương vực sẽ vươn tới sự vĩ đại chưa từng có khi các đế quốc khác đã già cỗi. Trước lúc ấy, nàng biết, một trăm thế hệ Carol sẽ khát vọng rồi ngã xuống trong bi kịch không có khăn phủ quan tài và tiếng tụng niệm trang nghiêm, bi kịch tẻ nhạt không tránh khỏi của cuộc đấu tranh chống lại sự trì trệ.
“Tối mai cả bọn đi xem phim nhé. Phim kích thích lắm,” Ethel Clark nói.
“Ừm, tôi định đọc một cuốn sách mới nhưng——Được, đi thôi,” Carol nói.
VIII
“Họ quá sức với em,” Carol thở dài với Kennicott. “Em đã nghĩ đến việc tổ chức một Ngày Cộng đồng hằng năm, khi cả thị trấn quên hiềm khích, ra ngoài chơi thể thao, dã ngoại và khiêu vũ. Nhưng Bert Tybee (sao anh lại bầu ông ta làm thị trưởng chứ?)—ông ta đã cướp ý tưởng của em. Ông ta muốn Ngày Cộng đồng, nhưng lại muốn có một chính khách ‘đọc diễn văn.’ Chính thứ kiểu cách lên gân ấy là điều em cố tránh. Ông ta hỏi Vida, và dĩ nhiên cô ấy đồng ý với ông ta.”
Kennicott cân nhắc chuyện ấy trong khi lên dây đồng hồ, rồi họ dậm chân bước lên lầu.
“Phải, Bert mà xen vào thì hẳn em khó chịu,” chàng ôn tồn nói. “Em định làm rùm beng nhiều vì cái vụ Cộng đồng này không? Em không bao giờ chán chuyện lo lắng, băn khoăn, rồi thử nghiệm sao?”
“Em còn chưa bắt đầu nữa kia. Nhìn này!” Nàng dẫn chàng tới cửa phòng trẻ, chỉ cái đầu nâu mờ mờ của con gái. “Anh thấy vật thể trên gối kia không? Anh biết nó là gì không? Đó là một quả bom để thổi tung sự tự mãn. Nếu các anh, đám Tory, khôn ngoan, các anh đã chẳng bắt bớ những người vô chính phủ; các anh sẽ tống cổ tất cả bọn trẻ này đi khi chúng còn đang ngủ trong nôi. Hãy nghĩ xem trước khi chết vào năm 2000, con bé ấy sẽ thấy và nhúng tay vào bao nhiêu chuyện! Có thể nó sẽ thấy một nghiệp đoàn công nghiệp của toàn thế giới, có thể nó sẽ thấy máy bay đi tới Sao Hỏa.”
“Ừm, chắc sẽ có thay đổi đấy,” Kennicott ngáp dài.
Nàng ngồi bên mép giường chàng, trong khi chàng lục lọi chiếc tủ com-mốt để tìm một cái cổ áo vốn phải có ở đó mà cứ nhất định không có.
“Em sẽ cứ tiếp tục, mãi mãi. Và em hạnh phúc. Nhưng Ngày Cộng đồng này khiến em thấy mình đã bị đánh bại triệt để biết bao.”
“Cái cổ áo chết tiệt ấy đúng là mất tiêu rồi,” Kennicott lẩm bẩm, rồi nói to hơn, “Phải, anh nghĩ em—Anh không nghe rõ em vừa nói gì, em yêu.”
Nàng vỗ lại gối, kéo chăn ngay ngắn cho chàng, vừa nghĩ:
“Nhưng em đã thắng ở chỗ này: em chưa bao giờ biện hộ cho những thất bại của mình bằng cách chế giễu những khát vọng của mình, bằng cách giả vờ rằng mình đã vượt qua chúng. Em không thừa nhận rằng Phố Chính đẹp như nó phải đẹp! Em không thừa nhận rằng Gopher Prairie vĩ đại hay rộng lượng hơn châu Âu! Em không thừa nhận rằng việc rửa bát đủ làm mọi phụ nữ thỏa mãn! Có thể em chưa chiến đấu cuộc chiến đấu cao đẹp, nhưng em đã giữ vững đức tin.”
“Đúng thế. Chắc chắn là em đã làm vậy,” Kennicott nói. “Thôi, chúc ngủ ngon. Anh có cảm giác ngày mai có thể tuyết rơi. Chẳng bao lâu nữa phải tính chuyện lắp cửa sổ chống bão. Này, em có để ý xem cô gái đã đặt trả cái tua vít lại chưa?”