Phố chính — Chương 38
Chương 39 / 40 · Bài review Phố chính
Nàng đã sống ở Washington được một năm. Nàng chán công sở. Nó chịu được, chịu được hơn việc nội trợ rất nhiều, nhưng chẳng có gì phiêu lưu.
Nàng đang uống trà ăn bánh mì nướng quế, một mình ở chiếc bàn tròn nhỏ ngoài ban công tiệm bánh kẹo Rauscher. Bốn cô gái mới ra mắt xã hội lách cách bước vào. Nàng đã thấy mình trẻ trung và phong lưu, đã khá hài lòng về bộ đồ đen pha xanh lá non của mình; nhưng khi nhìn họ—cổ chân mảnh, cằm hơi nọng, cùng lắm mười bảy mười tám tuổi—hút thuốc lá với vẻ chán chường đúng điệu và nói về “những trò hề phòng the”, về mong muốn “phóng lên New York xem thứ gì mặn mà”, nàng bỗng hóa già, quê kệch, tầm thường, và chỉ muốn rút lui khỏi những đứa trẻ sắc sảo lạnh lùng ấy để về một đời sống dễ chịu và cảm thông hơn. Khi họ chớp nhoáng biến mất, và một cô gái gọi tài xế ra lệnh, Carol không còn là một triết gia thách thức đời nữa, mà là một nữ thư ký công chức đã phai tàn từ Gopher Prairie, Minnesota.
Nàng buồn bã bước lên đại lộ Connecticut. Nàng dừng lại; tim nàng cũng ngừng. Đi về phía nàng là Harry và Juanita Haydock. Nàng chạy tới, hôn Juanita, trong khi Harry thổ lộ: “Không ngờ lại đến Washington—phải lên New York mua ít hàng—không mang theo địa chỉ của cô—mới tới sáng nay—cứ tự hỏi biết làm sao liên lạc được với cô trên đời này.”
Nàng thực lòng tiếc khi nghe họ sẽ đi lúc chín giờ tối, và cố níu họ lại được bao lâu hay bấy lâu. Nàng đưa họ đến St. Mark's ăn tối. Khom người, khuỷu tay tì trên bàn, nàng hăm hở nghe rằng “Cy Bogart bị cúm, nhưng dĩ nhiên hắn keo kiệt chết tiệt đến nỗi chẳng thèm chết vì nó.”
“Will viết cho tôi rằng ông Blausser đã đi rồi. Ông ấy thế nào?”
“Tốt! Tốt lắm! Thị trấn mất đi một người thật đáng quý. Đúng là một công dân đầy tinh thần vì việc chung!”
Nàng nhận ra mình giờ chẳng còn ý kiến gì về ông Blausser, bèn cảm thông hỏi: “Anh vẫn tiếp tục chiến dịch cổ xúy thị trấn chứ?”
Harry lúng túng: “À, bọn tôi chỉ tạm dừng thôi, nhưng—chắc chắn rồi! Này, bác sĩ có viết cho cô chuyện B. J. Gougerling gặp may thế nào khi đi săn vịt dưới Texas không?”
Khi tin tức đã kể xong và sự hào hứng của họ dịu xuống, nàng nhìn quanh và hãnh diện vì có thể chỉ cho họ một thượng nghị sĩ, giải thích sự khéo léo của khu vườn có mái che. Nàng tưởng một người đàn ông mặc lễ phục tối, ria mép đánh sáp, đã liếc khinh bộ đồ nâu sáng ôm khít của Harry và chiếc váy lụa nâu vàng của Juanita, những đường may có vẻ đáng ngờ. Nàng trừng mắt đáp lại, che chở cho người của mình, thách cả thế giới đừng dám không trân trọng họ.
Rồi vẫy tay chào họ, nàng nhìn mất họ ở cuối mái che dài của sân ga. Nàng đứng đọc danh sách các ga: Harrisburg, Pittsburg, Chicago. Qua Chicago—? Nàng thấy những hồ nước và cánh đồng trơ gốc rạ, nghe nhịp côn trùng và tiếng xe ngựa kẽo kẹt, được Sam Clark chào: “Chà chà, cô bé dạo này thế nào?”
Ở Washington chẳng ai đủ quan tâm đến nàng để bứt rứt về tội lỗi của nàng như Sam.
Nhưng đêm ấy, tại căn hộ, họ có một người đàn ông vừa từ Phần Lan trở về.
II
Nàng ở sân thượng Powhatan cùng ông đại úy. Tại một bàn, có một người đàn ông với tấm lưng to lớn quen thuộc, đang khá ầm ĩ mua những thứ “nước giải khát” khó tin cho hai cô gái tóc bồng bềnh.
“Ôi! Tôi nghĩ tôi biết người ấy,” nàng lẩm bẩm.
“Ai? Ở kia à? Ồ, Bresnahan, Percy Bresnahan.”
“Phải. Ông đã gặp anh ta? Anh ta là hạng người thế nào?”
“Một kẻ ngốc tốt bụng. Tôi khá mến anh ta, và tin rằng làm người bán ô tô thì anh ta xuất sắc. Nhưng ở ban hàng không, anh ta là của nợ. Cố sức tỏ ra hữu ích, nhưng chẳng biết gì cả—chẳng biết gì cả. Khá đáng thương: một người giàu cứ lẩn quẩn, cố làm điều hữu ích. Cô có muốn nói chuyện với anh ta không?”
“Không—không—tôi không nghĩ thế.”
III
Nàng đi xem chiếu bóng. Bộ phim được quảng cáo rầm rộ mà thảm hại, phảng phất những thợ làm tóc điệu đà, nước hoa rẻ tiền, những bộ sa-lông nhung đỏ trong các phố sau của khu ăn chơi, và những bà béo tự mãn nhai kẹo cao su. Nó tự nhận là nói về đời sống các xưởng phim. Nam chính vẽ một bức chân dung, một kiệt tác. Chàng còn thấy ảo ảnh trong khói tẩu, rất can đảm, nghèo và trong sạch. Chàng để tóc quăn lọn, còn kiệt tác của chàng lạ thay lại giống hệt một tấm ảnh phóng lớn.
Carol chuẩn bị bỏ về.
Trên màn ảnh, trong vai một nhà soạn nhạc, xuất hiện một diễn viên tên Eric Valour.
Nàng giật mình, không tin nổi, rồi khốn khổ. Nhìn thẳng ra phía nàng, đội mũ bê-rê và mặc áo nhung, là Erik Valborg.
Chàng có một vai mờ nhạt, diễn không hay mà cũng chẳng dở. Nàng nghĩ: “Tôi đã có thể uốn nắn chàng đến biết bao—” Nàng không nghĩ tiếp.
Nàng về nhà đọc thư Kennicott. Trước đó thư chàng có vẻ cứng nhắc và thiếu chi tiết; nhưng giờ đây, từ những lá thư ấy hiện lên một nhân cách, một nhân cách khác hẳn chàng trai ủ rũ mặc áo nhung, đang gảy cây đàn piano giả trong căn phòng bằng vải bạt.
IV
Tháng Mười Một, mười ba tháng sau khi nàng đến Washington, Kennicott mới lần đầu tới thăm. Khi chàng báo sẽ đến, nàng hoàn toàn không chắc mình có muốn gặp chàng hay không. Nàng mừng vì chàng đã tự quyết định.
Nàng xin nghỉ ở công sở hai ngày.
Nàng nhìn chàng sải bước ra từ đoàn tàu, rắn chắc, tự tin, mang chiếc va-li nặng; nàng trở nên e dè—chàng là một con người quá đồ sộ để đối phó. Họ hôn nhau dò hỏi, cùng lúc nói: “Trông em khỏe lắm; thằng bé thế nào?” và “Anh trông khỏe quá, anh yêu; mọi sự thế nào?”
Chàng cằn nhằn: “Anh không muốn xen vào những dự tính của em, hay bạn bè của em, hay gì hết, nhưng nếu em có thì giờ, anh muốn đi loanh quanh Washington, thử vài nhà hàng, xem vài buổi diễn này nọ, rồi quên công việc một lát.”
Trong xe tắc-xi, nàng nhận ra chàng mặc bộ đồ xám mềm, đội mũ mềm thoải mái, thắt chiếc cà vạt hơi ngông.
“Em thích bộ cánh mới không? Mua ở Chicago đấy. Trời ạ, anh mong đúng là kiểu em thích.”
Họ ở căn hộ nửa giờ, với Hugh. Nàng bối rối, nhưng chàng không hề có dấu hiệu sẽ hôn nàng lần nữa.
Khi chàng đi lại trong những căn phòng nhỏ, nàng nhận ra đôi giày nâu vàng mới của chàng đã được đánh bóng loáng như đồng. Trên cằm chàng có một vết cắt mới. Hẳn chàng đã cạo râu trên tàu, ngay trước lúc vào Washington.
Thật dễ chịu khi cảm thấy mình quan trọng đến thế, khi nàng quen biết bao người, lúc đưa chàng đến Điện Capitol, lúc bảo chàng—chàng hỏi và nàng vui vẻ đoán—từ đây lên đỉnh vòm là bao nhiêu bộ, lúc chỉ cho chàng Thượng nghị sĩ LaFollette và phó tổng thống, và đến giờ ăn trưa chứng tỏ mình là khách quen bằng cách dẫn chàng qua những lối đi như hầm mộ tới nhà ăn Thượng viện.
Nàng nhận ra chàng hói thêm đôi chút. Cách quen thuộc mái tóc chàng rẽ ngôi bên trái làm nàng bồn chồn. Nàng nhìn xuống bàn tay chàng, và việc móng tay chàng vẫn bị hành hạ tệ như xưa khiến nàng xúc động hơn cả vẻ nài nỉ trong đôi giày đánh bóng của chàng.
“Chiều nay anh muốn lái xe xuống Mount Vernon chứ?” nàng nói.
Đó là điều duy nhất chàng đã dự tính. Chàng sung sướng vì nó dường như là một việc hoàn toàn đúng mực và rất Washington.
Trên đường đi, chàng rụt rè nắm tay nàng, kể tin tức: họ đang đào tầng hầm cho ngôi trường mới, Vida “làm anh phát mệt vì cái lối cô ta cứ nhìn Maje”, tội nghiệp Chet Dashaway đã chết trong một tai nạn ô tô ở miền Duyên hải. Chàng không năn nỉ nàng yêu chàng. Tại Mount Vernon, chàng ngưỡng mộ thư viện ốp pa-nô và dụng cụ nha khoa của Washington.
Nàng biết chàng sẽ muốn ăn hàu, biết chàng hẳn đã nghe nói đến Harvey's nhân dịp Grant và Blaine, nên nàng đưa chàng đến đó. Trong bữa tối, giọng nói sang sảng, niềm vui nghỉ ngơi của chàng trước mọi thứ, dần thành nỗi bồn chồn vì chàng muốn biết một số điều thú vị, chẳng hạn họ có còn là vợ chồng không. Nhưng chàng không hỏi, cũng chẳng nói gì về chuyện nàng trở về. Chàng hắng giọng, nhận xét: “À này, anh đang thử dùng lại máy ảnh cũ. Em không thấy mấy tấm này khá đẹp sao?”
Chàng đưa cho nàng ba mươi tấm ảnh Gopher Prairie và vùng nông thôn quanh đó. Không phòng bị, nàng bị ném trở lại trong ấy. Nàng nhớ rằng chàng đã quyến dụ nàng bằng ảnh vào thời tán tỉnh; nàng ghi nhận sự không đổi của chàng, sự hài lòng của chàng với những chiến thuật từng hiệu nghiệm; nhưng nàng quên điều đó giữa những nơi chốn thân thuộc. Nàng thấy dương xỉ lấm tấm nắng giữa những cây bạch dương bên bờ Minniemashie, thấy những dặm lúa mì gợn sóng trong gió, thấy hiên nhà mình nơi Hugh từng chơi, Phố Chính nơi nàng biết mọi khung cửa và mọi khuôn mặt.
Nàng trả ảnh lại, khen tài chụp ảnh của chàng, và chàng nói về ống kính cùng thời gian phơi sáng.
Bữa tối đã xong, họ đang chuyện phiếm về các bạn cùng căn hộ của nàng, nhưng có một kẻ xâm nhập ngồi cùng họ, ngả người ra sau, dai dẳng, không sao thoát nổi. Nàng không chịu được nữa. Nàng ấp úng:
“Em bảo anh gửi hành lý ở ga vì em không thật chắc anh sẽ ở đâu. Em vô cùng xin lỗi, căn hộ không đủ chỗ cho anh ở. Lẽ ra chúng em phải tìm phòng cho anh từ trước. Anh gọi đến Willard hoặc Washington ngay bây giờ, có lẽ hơn chứ?”
Chàng mơ hồ nhìn nàng. Không lời, chàng hỏi; không tiếng nói, nàng đáp: liệu nàng cũng sẽ đến Willard hay Washington chăng. Nhưng nàng cố tỏ ra như chẳng biết họ đang bàn đến bất cứ chuyện gì như thế. Giá chàng nhu nhược về việc ấy, nàng hẳn đã ghét chàng. Nhưng chàng không nhu nhược, cũng không giận dữ. Dù có thể sốt ruột trước vẻ thản nhiên của nàng, chàng vẫn mau mắn nói:
“Ừ, chắc anh nên làm thế. Chờ anh một lát. Rồi sao, bắt một chiếc tắc-xi—Trời ạ, mấy gã lái tắc-xi này ôm cua như phát điên, hết biết! Chúng lái táo bạo hơn anh nhiều!—rồi lên căn hộ của em một lúc nhé? Anh muốn gặp bạn em—hẳn là những cô tuyệt lắm—và xem Hugh ngủ thế nào. Anh muốn biết nó thở ra sao. Không nghĩ nó bị VA, nhưng tốt hơn cứ chắc chắn, phải không?” Chàng vỗ vai nàng.
Ở căn hộ, họ gặp hai người bạn cùng nhà của nàng và một cô gái từng vào tù vì quyền bầu cử cho phụ nữ. Kennicott hòa nhập đáng ngạc nhiên. Chàng cười chuyện cô gái kể về những điều khôi hài của cuộc tuyệt thực; chỉ cho cô thư ký phải làm gì khi mắt mỏi vì đánh máy; và cô giáo hỏi chàng—không phải với tư cách chồng của bạn mình mà với tư cách bác sĩ—liệu “việc tiêm phòng cảm lạnh này có chút tác dụng nào không.”
Những lối nói thông tục của chàng, với Carol, chẳng lỏng lẻo hơn thứ tiếng lóng quen dùng của họ.
Như một người anh cả, chàng hôn chúc nàng ngủ ngon giữa mọi người.
“Anh ấy tử tế quá,” các bạn cùng nhà nàng nói, rồi chờ tâm sự. Họ chẳng nhận được gì, mà lòng nàng cũng vậy. Nàng không tìm ra điều gì rõ rệt để đau khổ. Nàng cảm thấy mình không còn phân tích và kiểm soát các sức mạnh nữa, mà đang bị chúng cuốn đi.
Chàng đến căn hộ ăn sáng, rồi rửa bát. Đó là dịp duy nhất để nàng cay cú. Ở nhà chàng có bao giờ nghĩ đến chuyện rửa bát đâu!
Nàng dẫn chàng đi xem những “thắng cảnh” hiển nhiên—Bộ Ngân khố, Đài Tưởng niệm, Phòng trưng bày Corcoran, tòa nhà Liên Mỹ, Đài tưởng niệm Lincoln, với Potomac bên kia, những ngọn đồi Arlington và hàng cột dinh Lee. Dù chàng sẵn sàng vui chơi, vẫn có một nỗi u sầu phủ lên chàng, khiến nàng bứt rứt. Đôi mắt thường ngày vô cảm của chàng giờ có chiều sâu, và nét xa lạ. Khi họ đi qua Quảng trường Lafayette, nhìn vượt tượng Jackson tới mặt tiền thanh nhã, yên tĩnh của Nhà Trắng, chàng thở dài: “Giá anh từng có dịp đến những nơi thế này. Hồi học đại học, anh phải tự kiếm tiền lo một phần học phí; mà khi không làm việc hay học hành, chắc anh chỉ nghịch ngợm. Đám bạn anh giỏi lang thang, phá phách lắm. Có lẽ nếu anh được uốn từ sớm, được đưa đi nghe hòa nhạc với mọi thứ như thế—liệu anh có thành người mà em gọi là thông minh không?”
“Ôi, anh yêu, đừng khiêm tốn! Anh thông minh mà! Chẳng hạn, anh là bác sĩ kỹ lưỡng nhất—”
Chàng đang dò dẫm quanh một điều muốn nói. Rồi chàng chộp lấy nó:
“Rốt cuộc em cũng khá thích những bức ảnh G. P. ấy, phải không?”
“Vâng, dĩ nhiên.”
“Thoáng thấy thị trấn cũ cũng không đến nỗi tệ, phải không?”
“Không, không tệ. Cũng như em vô cùng mừng khi gặp nhà Haydock. Nhưng xin anh hiểu cho! Điều đó không có nghĩa em rút lại mọi phê phán. Việc em có thể thích thoáng gặp lại bạn cũ chẳng liên quan đặc biệt gì đến vấn đề Gopher Prairie có nên có các lễ hội và món sườn cừu hay không.”
Vội vàng, “Không, không! Chắc chắn không. Anh hiểu.”
“Nhưng em biết hẳn sống với một người hoàn hảo như em thì mệt lắm.”
Chàng cười toe. Nàng thích nụ cười ấy.
V
Chàng say mê những người đánh xe da đen già, các đô đốc, máy bay, tòa nhà mà tiền thuế thu nhập của chàng rốt cuộc sẽ đóng góp, một chiếc Rolls-Royce, hàu Lynnhaven, phòng xử án Tối cao pháp viện, một nhà quản lý sân khấu New York xuống đây xem buổi diễn thử của vở kịch, ngôi nhà Lincoln qua đời, áo choàng của các sĩ quan Ý, những xe đẩy nơi công chức mua cơm hộp vào buổi trưa, các sà lan trên Kênh Chesapeake, và sự thật rằng xe mang biển District of Columbia có cả giấy phép District lẫn Maryland.
Nàng kiên quyết dẫn chàng đi xem những ngôi nhà nhỏ trắng xanh và những ngôi nhà kiểu Georgia mà nàng yêu thích. Chàng thừa nhận rằng những ô cửa quạt, và những cánh chớp trắng trên nền gạch hồng, trông thân thuộc hơn một cái hộp gỗ sơn phết. Chàng tự nói: “Tôi hiểu ý em rồi. Chúng khiến tôi nghĩ đến những bức tranh Giáng sinh xưa. Chà, nếu em cứ kiên trì đủ lâu, thế nào em cũng bắt Sam với tôi đọc thơ đủ thứ. À này, tôi đã kể em nghe chuyện Jack Elder cho sơn chiếc xe của hắn màu xanh lục chói mắt chưa?”
VI
Họ đang dùng bữa tối.
Chàng gợi ý: “Trước khi em cho tôi xem những chỗ ấy hôm nay, tôi đã quyết rằng khi xây căn nhà mới mà trước đây ta vẫn nói đến, tôi sẽ làm theo ý em. Tôi khá thực tế về móng, hệ thống sưởi các thứ, nhưng chắc tôi không biết bao nhiêu về kiến trúc.”
“Anh yêu, chợt nghĩ đến đây tôi mới bàng hoàng nhận ra: em cũng chẳng biết!”
“Ờ—dù sao thì—em cứ để tôi lo ga-ra với hệ thống ống nước, còn em làm phần còn lại, nếu bao giờ—ý tôi là—nếu bao giờ em muốn.”
Nàng ngần ngại: “Anh tốt quá.”
“Nghe này, Carrie; em tưởng tôi sắp xin em yêu tôi. Không đâu. Và tôi cũng không định xin em về lại Gopher Prairie!”
Nàng tròn mắt.
“Đó là một cuộc vật lộn dữ dội. Nhưng tôi nghĩ mình đã hiểu rằng em sẽ chẳng bao giờ chịu nổi G. P. nếu em không MUỐN trở về. Tôi không cần nói tôi khao khát có em đến điên lên. Nhưng tôi sẽ không xin em. Tôi chỉ muốn em biết tôi chờ em thế nào. Mỗi lần có thư, tôi đều mong thư em, mà nhận được rồi lại hơi sợ mở ra, vì hy vọng quá rằng em sẽ về. Những buổi tối—Em biết đấy, suốt mùa hè vừa rồi tôi chẳng hề mở căn nhà nhỏ bên hồ. Không sao chịu nổi cảnh mọi người khác cười đùa, bơi lội, mà em không ở đó. Tôi thường ngồi ngoài hiên nhà trong thị trấn, và tôi—tôi không sao xua được cảm giác rằng em chỉ chạy lên hiệu thuốc rồi sẽ về ngay, và mãi đến khi trời tối, tôi vẫn bắt gặp mình dõi mắt nhìn lên phố, chờ em, nhưng em chẳng về, và căn nhà trống trải, im lìm đến nỗi tôi không muốn bước vào. Có khi tôi ngủ thiếp ngay trên ghế ngoài ấy, mãi quá nửa đêm mới tỉnh, và căn nhà—Ôi, quỷ thật! Xin em hiểu cho tôi, Carrie. Tôi chỉ muốn em biết em sẽ được đón chào biết bao nếu một ngày em trở về. Nhưng tôi không xin em về.”
“Anh—Thật là—”
“Còn một chuyện nữa. Tôi sẽ nói thật. Tôi không phải lúc nào cũng, ừm, hoàn toàn đứng đắn. Tôi vẫn yêu em hơn mọi thứ trên đời, em và thằng bé. Nhưng đôi khi em lạnh nhạt với tôi, tôi cô đơn và bực bội, rồi lỉnh đi và—Chẳng hề có ý—”
Nàng giải cứu chàng bằng một câu đầy thương hại: “Không sao đâu. Ta quên chuyện ấy đi.”
“Nhưng trước khi cưới, em từng nói nếu chồng em làm điều gì sai trái, em sẽ muốn anh ấy nói cho em biết.”
“Em có nói thế à? Em không nhớ. Em không nghĩ được nữa. Ôi, anh yêu, em biết anh đang cố gắng rộng lượng biết bao để làm em hạnh phúc. Chỉ có điều—Em không nghĩ được. Em không biết mình nghĩ gì.”
“Thế thì nghe đây! Đừng nghĩ! Đây là điều tôi muốn em làm! Xin nghỉ ở văn phòng hai tuần. Ở đây trời bắt đầu lạnh rồi. Ta xuống Charleston và Savannah, rồi có thể tới Florida.”
“Một tuần trăng mật thứ hai ư?” nàng ngập ngừng.
“Không. Đừng gọi thế. Gọi là một cuộc theo đuổi lần thứ hai. Tôi sẽ không đòi hỏi gì hết. Tôi chỉ muốn có dịp rong chơi với em. Có lẽ trước đây tôi chưa từng biết mình may mắn thế nào khi có một cô gái giàu tưởng tượng và đôi chân linh hoạt để cùng vui đùa. Vậy nên—Em có thể trốn đi cùng tôi, đi xem miền Nam, được không? Nếu em muốn, em có thể—em có thể cứ giả vờ là em gái tôi và—Tôi sẽ thuê thêm một y tá cho Hugh! Tôi sẽ thuê y tá giỏi nhất chết tiệt ở Washington!”
VII
Chính tại Villa Margherita, bên những hàng cọ của bờ Battery ở Charleston và bến cảng ánh lên sắc kim loại, sự xa cách của nàng tan chảy.
Khi họ ngồi trên ban công tầng trên, mê mẩn trước ánh trăng lấp lánh, nàng bật lên: “Em có nên về Gopher Prairie với anh không? Anh quyết định cho em đi. Em mệt vì cứ quyết rồi lại không quyết.”
“Không. Em phải tự quyết định. Thực ra, dẫu có tuần trăng mật này, tôi không nghĩ mình muốn em về nhà. Chưa.”
Nàng chỉ biết nhìn chằm chằm.
“Tôi muốn em hài lòng khi em đến đó. Tôi sẽ làm mọi điều có thể để giữ em vui, nhưng tôi sẽ mắc nhiều sai lầm, nên tôi muốn em dành thời gian suy nghĩ kỹ.”
Nàng thấy nhẹ nhõm. Nàng vẫn còn cơ hội nắm lấy những tự do mơ hồ mà huy hoàng. Nàng có thể đi—ồ, bằng cách nào đó nàng sẽ đi châu Âu, trước khi bị bắt trở lại. Nhưng nàng cũng kính trọng Kennicott hơn. Nàng từng tưởng đời mình có thể thành một câu chuyện. Nàng biết trong đó chẳng có gì anh hùng hay hiển nhiên kịch tính, chẳng có phép màu của những giờ phút hiếm hoi, cũng chẳng có một lời thách thức can trường; nhưng nàng thấy mình có chút ý nghĩa bởi nàng là tính tầm thường, đời sống thông thường của thời đại, được cất thành lời và phản kháng. Nàng chưa từng nghĩ rằng cũng có một câu chuyện về Will Kennicott, trong đó nàng hiện diện chỉ chừng nào chàng hiện diện trong chuyện của nàng; rằng chàng có những hoang mang và che giấu rắc rối chẳng kém của nàng, cùng những khao khát mềm yếu, đầy phản bội, muốn được cảm thông.
Nàng trầm ngâm như thế, nhìn biển cả kỳ diệu, nắm tay chàng.
VIII
Nàng ở Washington; Kennicott ở Gopher Prairie, vẫn viết khô khan như bao giờ về ống nước, săn ngỗng và chứng viêm xương chũm của bà Fageros.
Trong bữa tối, nàng đang trò chuyện với một nữ thống soái của phong trào đòi quyền bầu cử. Nàng có nên trở về không?
Người lãnh đạo mệt mỏi nói:
“Cô thân mến, tôi hoàn toàn ích kỷ. Tôi không hình dung thật rõ nhu cầu của chồng cô, và theo tôi, con cô sẽ học ở trường tại đây cũng tốt như ở doanh trại quê nhà của cô.”
“Vậy bà nghĩ tốt hơn là tôi không nên về ư?” Carol nghe có vẻ thất vọng.
“Chuyện phức tạp hơn thế. Khi nói mình ích kỷ, ý tôi là điều duy nhất tôi xét ở phụ nữ là liệu họ có thể hữu ích trong việc gây dựng quyền lực chính trị thực sự cho phụ nữ hay không. Còn cô? Tôi nói thẳng nhé? Hãy nhớ rằng khi nói ‘cô’, tôi không chỉ riêng cô. Tôi nghĩ đến hàng nghìn phụ nữ mỗi năm đến Washington, New York và Chicago, bất mãn ở quê nhà và tìm kiếm một dấu hiệu từ trời cao—mọi hạng phụ nữ, từ những bà mẹ nhút nhát năm mươi tuổi đeo găng tay bông, đến những cô gái vừa rời Vassar đã tổ chức bãi công trong chính nhà máy của cha mình! Tất cả các cô ít nhiều đều hữu ích với tôi, nhưng chỉ ít người có thể thay chỗ tôi, bởi tôi có một đức hạnh (chỉ một thôi): tôi đã từ bỏ cha mẹ và con cái vì tình yêu Thượng đế.”
“Đây là phép thử cho cô: cô đến để ‘chinh phục miền Đông’, như người ta nói, hay cô đến để chinh phục chính mình?”
“Mọi chuyện phức tạp hơn bất cứ ai trong các cô biết—phức tạp hơn tôi từng biết khi xỏ đôi Ground Grippers và lên đường cải tạo thế giới. Điều phức tạp cuối cùng trong việc ‘chinh phục Washington’ hay ‘chinh phục New York’ là người chinh phục, hơn hết mọi sự, không được chinh phục! Hẳn thời xưa dễ dàng biết bao, khi các tác giả chỉ mơ bán được một trăm nghìn cuốn sách, các nhà điêu khắc mơ được chiêu đãi trong những dinh cơ lớn, và ngay cả những người Nâng cao như tôi cũng có tham vọng chân thành, giản dị là được bầu vào chức vụ quan trọng và được mời đi diễn thuyết khắp nơi. Nhưng chúng ta, lũ thích xen vào, đã đảo lộn mọi thứ. Giờ đây, điều đáng hổ thẹn với bất kỳ ai trong chúng ta là thành công quá rõ ràng. Người Nâng cao rất được các nhà bảo trợ giàu có mến chuộng có thể khá chắc rằng ông ta đã làm mềm triết lý của mình để chiều họ; còn tác giả kiếm được nhiều tiền—tội nghiệp họ, tôi đã nghe họ xin lỗi về điều đó với những kẻ bám trụ chua chát, tả tơi; tôi đã thấy họ xấu hổ vì những bộ hành lý bóng bẩy kiếm được từ tiền bán quyền làm phim.”
“Cô có muốn hy sinh mình trong một thế giới đảo điên như vậy không, nơi sự nổi tiếng khiến cô mất lòng những người cô yêu, nơi thất bại duy nhất là thành công rẻ tiền, và người cá nhân chủ nghĩa duy nhất là kẻ từ bỏ mọi cá tính để phục vụ một giai cấp vô sản vui vẻ mà vô ơn, cứ hếch mũi chế nhạo anh ta?”
Carol mỉm cười lấy lòng, để tỏ rằng quả thật nàng là người mong muốn hy sinh, nhưng nàng thở dài: “Tôi không biết; e rằng tôi không anh hùng. Chắc chắn khi ở quê nhà tôi đã không như thế. Sao tôi không làm những điều lớn lao, hữu hiệu—?”
“Không phải chuyện anh hùng. Là chuyện bền bỉ. Miền Trung Tây của cô là Thanh giáo kép—Thanh giáo thảo nguyên chồng lên Thanh giáo New England; ngoài mặt là kẻ khai phá biên cương thô lỗ, nhưng trong tim vẫn ôm lý tưởng Plymouth Rock giữa một trận mưa tuyết. Có một cuộc tấn công cô có thể tiến hành với nó, có lẽ là loại duy nhất đạt được nhiều kết quả ở bất cứ đâu: cứ nhìn hết thứ này đến thứ khác trong gia đình, nhà thờ và ngân hàng của cô, rồi hỏi tại sao lại như vậy, ai là người đầu tiên định ra rằng nó phải như thế. Nếu đủ nhiều người chúng ta làm việc ấy đủ vô lễ, thì chỉ trong khoảng hai mươi nghìn năm nữa ta sẽ văn minh, thay vì phải chờ hai trăm nghìn năm như những người bạn nhân học cay độc của tôi tính. . . . Công việc tại nhà dễ chịu, sinh lợi cho các bà vợ: bắt mọi người định nghĩa công việc của họ. Đó là học thuyết nguy hiểm nhất tôi biết!”
Carol đang suy tính: “Tôi sẽ về! Tôi sẽ tiếp tục đặt câu hỏi. Tôi vẫn luôn làm vậy, và vẫn luôn thất bại, nhưng đó là tất cả những gì tôi có thể làm. Tôi sẽ hỏi Ezra Stowbody tại sao ông ấy phản đối quốc hữu hóa đường sắt, hỏi Dave Dyer tại sao một dược sĩ luôn khoái chí khi được gọi là ‘bác sĩ’, và có lẽ hỏi bà Bogart tại sao bà ấy đội tấm voan góa phụ trông như một con quạ chết.”
Người nữ lãnh đạo ngồi thẳng lại. “Và cô có một điều. Cô có một đứa bé để ôm ấp. Đó là cám dỗ của tôi. Tôi mơ về những đứa bé—về một đứa bé—và tôi lén lút quanh công viên để nhìn chúng chơi. (Trẻ con ở Dupont Circle như một vườn anh túc.) Vậy mà bọn chống đối gọi tôi là ‘vô nữ tính’!”
Carol hoảng hốt nghĩ: “Chẳng phải Hugh nên hít thở không khí đồng quê sao? Mình sẽ không để nó thành một gã nhà quê. Mình có thể dẫn nó tránh xa thói lêu lổng ở góc phố. . . . Mình nghĩ mình có thể.”
Trên đường về nhà: “Giờ mình đã có một tiền lệ, đã gia nhập công đoàn, tham gia một cuộc bãi công và học được tình đoàn kết cá nhân, mình sẽ không còn sợ đến thế. Will sẽ không mãi chống lại chuyện mình bỏ đi. Một ngày nào đó mình thật sự sẽ đi châu Âu cùng anh ấy . . . hoặc không cùng anh ấy.”
“Mình đã sống với những người không sợ vào tù. Mình có thể mời một Miles Bjornstam đến ăn tối mà không sợ nhà Haydock . . . Mình nghĩ mình có thể.”
“Mình sẽ mang về âm vang những bài hát của Yvette Guilbert và tiếng vĩ cầm của Elman. Chúng sẽ chỉ càng đáng yêu hơn trên nền tiếng dế rì rầm trong gốc rạ vào một ngày thu.”
“Giờ mình có thể cười và bình thản . . . Mình nghĩ mình có thể.”
Dẫu trở về, nàng tự nhủ, nàng sẽ không hoàn toàn bại trận. Nàng vui vì cuộc nổi loạn của mình. Thảo nguyên không còn là vùng đất trống dưới ánh nắng chói lòa; nó là con thú vàng nâu sống động mà nàng đã chiến đấu với và làm cho đẹp đẽ bằng cuộc chiến đấu ấy; và trên những con phố trong làng có bóng những khát vọng của nàng, tiếng bước chân hành quân của nàng, cùng những hạt mầm bí ẩn và vĩ đại.
IX
Mối căm ghét chủ động của nàng đối với Gopher Prairie đã cạn. Giờ nàng thấy nó như một khu định cư mới đang cần cù lao động. Với lòng cảm thông, nàng nhớ lời Kennicott bênh vực dân thị trấn là “một đám người khá tử tế, làm việc chăm chỉ và cố nuôi dạy gia đình mình tốt nhất có thể.” Nàng dịu dàng nhớ sự non trẻ vụng về của Phố Chính và những sự chắp vá của các ngôi nhà nhỏ màu nâu; nàng thương cho vẻ tồi tàn và cô lập của chúng; thương cả sự khẳng định văn hóa của chúng, dù được bộc lộ trong các bài viết Thanatopsis, sự giả vờ vĩ đại của chúng, dù được tự quảng bá bằng những lời tung hô. Nàng thấy Phố Chính trong hoàng hôn bụi bặm của thảo nguyên, một hàng lều tạm miền biên cương với những con người nghiêm trang, cô độc đang chờ nàng, nghiêm trang và cô độc như một ông già đã sống lâu hơn bạn bè mình. Nàng nhớ Kennicott và Sam Clark từng lắng nghe nàng hát, và nàng muốn chạy đến với họ, cất tiếng hát.
“Cuối cùng,” nàng hân hoan, “mình đã có thái độ công bằng hơn với thị trấn. Giờ mình có thể yêu nó.”
Có lẽ nàng khá tự hào vì đã đạt được bao dung đến thế.
Ba giờ sáng, nàng thức dậy sau giấc mơ bị Ella Stowbody và bà góa Bogart hành hạ.
“Mình đã biến thị trấn thành một huyền thoại. Đây là cách người ta duy trì truyền thống về quê hương hoàn hảo, tuổi thơ hạnh phúc, những người bạn đại học xuất chúng. Ta quên dữ lắm. Mình đã quên rằng Phố Chính không hề thấy mình cô đơn và đáng thương chút nào. Nó nghĩ nó là Miền Đất Riêng Của Chúa. Nó không chờ mình. Nó chẳng quan tâm.”
Nhưng tối hôm sau, nàng lại thấy Gopher Prairie như mái nhà của mình, chờ nàng trong hoàng hôn, viền quanh bởi vẻ huy hoàng.
Nàng chưa trở về trong năm tháng nữa; năm tháng chật ních sự thu gom tham lam những âm thanh và màu sắc để mang về cho những ngày dài lặng im.
Nàng đã sống ở Washington gần hai năm.
Khi lên đường về Gopher Prairie, vào tháng Sáu, đứa con thứ hai đã cựa mình trong lòng nàng.