Quo Vadis — Chương 42

Chương 43 / 75 · Bài review Quo Vadis

VINICIUS chỉ kịp truyền cho mấy tên nô lệ theo mình; rồi phóng lên ngựa, lao vút vào đêm thẳm trên những con đường vắng hướng về Laurentum. Tin dữ ghê gớm ấy đã xô chàng vào một cơn cuồng loạn, như thể trí óc đã lìa khỏi chủ. Có lúc chàng không còn biết rõ trong đầu mình đang diễn ra điều gì; chàng chỉ cảm thấy tai họa đang cùng cưỡi ngựa với mình, ngồi ngay sau vai, gào bên tai: “Rome đang cháy!”; như thể nó đang quất roi vào cả ngựa lẫn người, xua họ lao về phía biển lửa. Áp cái đầu trần xuống cổ con vật, chàng phóng đi trong chiếc tunic độc nhất, một mình, mặc cho ngựa chạy hú họa, không nhìn trước mặt, chẳng màng những chướng ngại mà bất thần chàng có thể đâm sầm vào.

Trong im lặng và trong đêm thanh ấy, người cưỡi và con ngựa, phủ ánh trăng lấp loáng, trông như những ảo ảnh trong mộng. Con tuấn mã xứ Idumea cụp tai, vươn cổ, lao đi như mũi tên qua những hàng bách đứng bất động và những biệt thự trắng ẩn giữa chúng. Tiếng vó nện trên mặt đá đánh thức lũ chó đó đây; chúng sủa đuổi theo bóng hình lạ lùng ấy; rồi, bị kích động bởi cơn vụt đến bất ngờ ấy, chúng tru lên, ngẩng mõm về phía vầng trăng. Bọn nô lệ cố thúc ngựa đuổi theo Vinicius chẳng bao lâu đã tụt lại phía sau, vì ngựa của chúng kém xa. Sau khi bão táp xuyên qua Laurentum đang ngủ say, chàng rẽ về phía Ardea, nơi, cũng như ở Aricia, Bovillae và Ustrinum, chàng đã cho bố trí những trạm ngựa thay từ ngày đến Antium, để rút ngắn tối đa quãng đường giữa mình với Rome. Nhớ tới những trạm ấy, chàng vắt kiệt mọi sức lực còn lại của con ngựa.

Qua khỏi Ardea, chàng thấy phía đông bắc bầu trời như được phủ một ánh hồng phản chiếu. Có thể đó là rạng đông, vì giờ đã khuya và tháng Bảy thì trời sáng rất sớm. Nhưng Vinicius không nén nổi một tiếng kêu vừa giận dữ vừa tuyệt vọng, vì chàng tưởng đó chính là ánh rực của đám cháy. Chàng nhớ lời viên chấp chính: “Cả thành là một biển lửa,” và trong chốc lát chàng thật sự cảm thấy cơn điên đang chực chờ nuốt lấy mình, vì chàng đã hoàn toàn mất hết hy vọng có thể cứu được Lygia, hoặc thậm chí tới kịp thành trước khi nó biến thành một đống tro tàn. Tư tưởng chàng lúc này còn nhanh hơn bước lao của tuấn mã; chúng bay vọt lên phía trước như một đàn chim đen, quái dị, gọi dậy nỗi tuyệt vọng. Quả thật chàng không biết ngọn lửa khởi đầu ở phần nào của thành; nhưng chàng đoán khu Trans-Tiber, chen chúc những nhà trọ, bãi gỗ, kho chứa và những lán gỗ dùng làm chợ bán nô lệ, hẳn đã là mồi đầu tiên của lửa.

Ở Rome, hỏa hoạn xảy ra khá thường; và trong những vụ cháy ấy, những hành vi bạo lực và cướp bóc cũng thường xảy ra không kém, nhất là ở những khu dân cư của đám người nghèo khổ và bán khai. Vậy thì ở một nơi như Trans-Tiber, sào huyệt của một đám ô hợp tụ về từ khắp mặt đất, điều gì lại không thể xảy ra? Ý nghĩ về Ursus với sức mạnh vượt quá sức người lóe lên trong đầu Vinicius; nhưng một con người, dẫu là một Titan đi nữa, có thể làm gì trước sức tàn phá của lửa?

Nỗi sợ một cuộc nổi dậy của nô lệ như cơn ác mộng đã đè nghẹt Rome suốt bao năm trời. Người ta đồn rằng hàng trăm nghìn kẻ trong số ấy vẫn nghĩ tới thời Spartacus, và chỉ chờ một dịp thuận lợi để cầm vũ khí chống lại những kẻ áp bức chúng và chống lại Rome. Nay thì thời khắc ấy đã đến! Có thể chiến tranh và chém giết đang hoành hành trong thành cùng với lửa. Thậm chí cũng có thể bọn cấm vệ quân đã tràn vào thành, đang giết chóc theo lệnh Caesar.

Và ngay lúc ấy tóc chàng dựng đứng lên vì kinh hãi. Chàng nhớ lại tất cả những cuộc trò chuyện về những thành phố bị thiêu rụi, những câu đã được lặp đi lặp lại ở triều đình Caesar suốt một thời gian với một sự dai dẳng kỳ lạ; chàng nhớ những lời than phiền của Caesar rằng ông ta buộc phải mô tả một thành phố bốc cháy mà chưa từng thấy một đám cháy thực sự; nhớ câu trả lời đầy khinh miệt của ông ta với Tigellinus, kẻ đã đề nghị đốt Antium hoặc một thành phố gỗ nhân tạo; sau hết là những lời ca thán của ông ta về Rome và những ngõ ngách ôn dịch của khu Subura. Phải; chính Caesar đã ra lệnh đốt thành! Chỉ mình ông ta mới có thể ban ra một mệnh lệnh như thế, cũng như chỉ Tigellinus mới có thể thi hành nó. Nhưng nếu Rome cháy theo lệnh Caesar, ai dám chắc rằng dân chúng sẽ không bị giết theo lệnh ông ta luôn? Con quái vật ấy đủ sức làm cả việc đó. Hỏa hoạn, nổi dậy của nô lệ, rồi tàn sát! Một cõi hỗn mang khủng khiếp biết bao, một cuộc tháo cũi sổ lồng của những lực lượng hủy diệt và cơn điên cuồng của quần chúng! Và giữa tất cả những điều đó có Lygia.

Tiếng rên của Vinicius hòa cùng tiếng phì và tiếng thở khò khè của con ngựa; con vật, đang chạy trên con đường dốc mãi lên phía Aricia, đã dùng đến hơi sức cuối cùng. Ai sẽ cướp nàng ra khỏi thành phố đang cháy; ai có thể cứu nàng? Ở đây Vinicius rạp hẳn người xuống lưng ngựa, dúi những ngón tay vào tóc mình, đau đớn đến nỗi tưởng như muốn cắn nát cổ con vật.

Đúng lúc ấy, một kỵ sĩ khác cũng lao như cuồng phong, nhưng theo hướng ngược lại, về phía Antium, vừa vụt qua vừa hét lớn: “Rome đang diệt vong!” rồi đi mất. Tai Vinicius chỉ còn kịp nghe thêm một tiếng: “Các thần!” còn lại đều bị nhấn chìm trong sấm vó. Nhưng chính tiếng kêu ấy đã làm chàng bừng tỉnh: “Các thần!”

Vinicius vụt ngẩng đầu, rồi giang tay về phía bầu trời đầy sao và bắt đầu cầu nguyện.

“Không phải các đền thờ của các ngươi đang cháy mà ta kêu cầu, nhưng là Ngài! Chính Ngài đã từng chịu khổ. Chỉ mình Ngài là giàu lòng thương xót! Chỉ mình Ngài đã hiểu nỗi đau của con người; Ngài đã đến thế gian này để dạy loài người lòng trắc ẩn; vậy thì xin hãy tỏ lòng ấy ra lúc này. Nếu Ngài đúng là Đấng mà Peter và Paul rao giảng, xin cứu Lygia cho con, xin ôm lấy nàng trong tay Ngài, mang nàng ra khỏi lửa. Ngài có quyền năng làm điều đó! Xin trả nàng lại cho con, và con sẽ dâng máu mình cho Ngài. Nhưng nếu Ngài không muốn làm điều ấy vì con, thì xin làm vì nàng. Nàng yêu Ngài và tín thác nơi Ngài. Ngài hứa ban sự sống và hạnh phúc sau khi chết, nhưng hạnh phúc sau khi chết thì không mất đi, còn nàng thì chưa muốn chết. Xin để nàng được sống. Xin ôm lấy nàng trong tay Ngài, mang nàng ra khỏi Rome. Ngài có thể làm được, nếu Ngài không nỡ từ chối.”

Và chàng dừng lại, vì chàng cảm thấy nếu cầu thêm nữa, lời khẩn nguyện có thể biến thành một sự đe dọa; chàng sợ xúc phạm tới Đấng Thiêng liêng vào đúng lúc mình cần ân huệ và lòng thương xót hơn bao giờ hết. Chỉ riêng ý nghĩ ấy cũng đủ làm chàng kinh hãi, và để không cho một cái bóng nào của sự đe dọa lọt vào đầu mình, chàng lại quất ngựa, nhất là khi những bức tường trắng của Aricia, nằm giữa quãng đường về Rome, đã lấp loáng hiện ra dưới ánh trăng.

Một lúc sau chàng phóng hết tốc lực qua đền Mercury, ngôi đền đứng trong một khu rừng nhỏ trước thành. Hẳn người ta đã biết tai họa, vì trước đền có một sự náo động khác thường. Khi vụt qua, Vinicius thấy đông người đứng trên những bậc cấp và giữa các hàng cột. Đám người cầm đuốc ấy đang vội vã tìm sự che chở nơi vị thần. Hơn nữa, con đường không còn trống trải và thông thoáng như bên kia Ardea. Quả thật đám đông đang hối hả men theo các lối nhỏ để vào khu rừng, nhưng trên đại lộ cũng có những nhóm người vội vàng tránh dạt sang hai bên trước người kỵ mã đang lao tới. Từ trong thành vang ra tiếng người. Vinicius cưỡi vào Aricia như lốc xoáy, xô ngã và giẫm lên không ít kẻ trên đường. Chung quanh chàng là những tiếng thét: “Rome đang cháy!” “Rome bốc lửa rồi!” “Cầu các thần cứu Rome!”

Con ngựa loạng choạng, nhưng dưới bàn tay ghìm cương mạnh mẽ đã chồm dựng lên trước quán trọ, nơi Vinicius đặt sẵn một con ngựa khác để thay. Bọn nô lệ, như thể đang chờ chủ đến, đứng trước quán, và vừa nghe lệnh đã tranh nhau chạy đi dắt con ngựa mới ra. Vinicius trông thấy một toán mười cấm vệ quân cưỡi ngựa, rõ ràng đang mang tin từ thành về Antium, liền phóng đến phía họ.

“Phần nào của thành đang cháy?” chàng hỏi.

“Ngươi là ai?” viên decurion hỏi lại.

“Vinicius, quan tribune quân sự, một Augustian. Liệu hồn mà đáp!”

“Lửa bùng lên ở các cửa hàng gần Circus Maximus. Khi chúng tôi được phái đi, khu trung tâm thành đã cháy rồi.”

“Còn Trans-Tiber?”

“Lửa chưa lan tới Trans-Tiber, nhưng từng lúc một nó đang chộp lấy những khu mới với một sức mạnh không gì ngăn nổi. Người ta chết vì nóng và khói; cứu viện hoàn toàn bất khả.”

Đúng lúc ấy người ta dắt con ngựa mới tới. Chàng hộ dân quan trẻ nhảy lên lưng nó và lại lao đi. Giờ đây chàng đang hướng về Albanum, để Alba Longa cùng hồ nước tráng lệ của nó ở bên phải. Con đường từ Aricia chạy men chân núi, ngọn núi che khuất hoàn toàn chân trời, và Albanum nằm ở phía bên kia. Nhưng Vinicius biết rằng khi lên tới đỉnh, chàng sẽ không chỉ thấy Bovillae và Ustrinum, nơi ngựa mới đã chờ sẵn cho mình, mà còn thấy cả Rome nữa: vì bên kia Albanum, đồng bằng Campania thấp trải rộng về hai phía của đường Appia, dọc đó chỉ có những vòm cầu dẫn nước chạy về phía thành, và không gì ngăn trở tầm mắt.

“Từ trên đỉnh ta sẽ thấy lửa,” chàng tự nhủ; rồi lại quất ngựa. Nhưng trước khi lên tới đỉnh núi, chàng đã cảm thấy gió tạt vào mặt, và cùng với nó là mùi khói lọt vào mũi. Cùng lúc ấy, chóp cao của ngọn đồi đang dần dát vàng.

“Lửa!” Vinicius nghĩ.

Đêm đã nhạt từ lâu, rạng đông đã chuyển thành ánh sáng, và trên tất cả những đỉnh gần hơn đều đang rung lên những vệt vàng và hồng, có thể phát ra từ Rome đang cháy, mà cũng có thể từ ban mai đang lên. Cuối cùng Vinicius chạm tới đỉnh cao, và một cảnh tượng khủng khiếp đập vào mắt chàng.

Toàn bộ vùng thấp bên dưới phủ kín khói, như thể thành một đám mây khổng lồ nằm sát mặt đất. Trong đám mây ấy, các thị trấn, những cầu dẫn nước, biệt thự, cây cối đều biến mất; nhưng vượt lên khỏi đồng bằng xám xịt ghê rợn ấy, thành phố đang cháy trên các ngọn đồi.

Đám cháy không có hình một cột lửa như khi chỉ một tòa nhà bốc cháy, dẫu tòa nhà ấy có lớn đến đâu. Trái lại, đó là một dải dài, mang dáng một vành đai của buổi bình minh. Phía trên dải ấy dâng lên một làn sóng khói, chỗ thì đen ngòm, chỗ thì ánh hồng, chỗ thì như máu, chỗ thì cuộn ngược vào chính nó, nơi phồng lên, nơi thắt lại và quằn quại, như một con rắn đang tháo cuộn mà duỗi dài ra. Làn sóng quái dị ấy có lúc tưởng như che lấp cả dải lửa, khiến dải ấy chỉ còn mảnh như một dải ruy băng; nhưng rồi chính dải ruy băng ấy lại soi sáng làn khói từ bên dưới, biến những nếp cuộn thấp nhất của nó thành những lượn sóng lửa. Cả hai kéo dài từ đầu này sang đầu kia của bầu trời, che lấp phần thấp của nó, như đôi khi một dải rừng che mất chân trời. Hoàn toàn không còn nhìn thấy đồi Sabine đâu nữa.

Thoạt nhìn, Vinicius tưởng như không chỉ thành phố đang cháy, mà cả thế giới cũng đang cháy, và không một sinh linh nào có thể tự cứu mình khỏi đại dương lửa và khói ấy.

Gió từ phía đám cháy thổi tới mỗi lúc một mạnh hơn, mang theo mùi vật cháy và mùi khói, thứ khói bắt đầu che khuất cả những vật ở gần. Ban ngày trong trẻo đã đến, và mặt trời chiếu sáng những đỉnh núi bao quanh hồ Alban. Nhưng những tia vàng rực rỡ của buổi sớm, nhìn qua màn khói, lại thành ra đỏ ửng và bệnh hoạn. Vinicius, trong khi đổ dốc xuống Albanum, tiến vào làn khói mỗi lúc một dày, một kém trong hơn. Chính thị trấn cũng đã chìm hẳn trong đó. Những công dân hốt hoảng đã đổ cả ra đường. Chỉ nghĩ tới cảnh tượng ở Rome thôi cũng đủ kinh hoàng, khi đến Albanum mà thở còn thấy khó.

Nỗi tuyệt vọng lại chụp lấy Vinicius, và kinh hãi khiến tóc chàng muốn dựng đứng lên lần nữa. Nhưng chàng cố hết sức trấn định mình. “Không thể nào,” chàng nghĩ, “một thành phố lại bắt đầu cháy ở khắp mọi nơi cùng một lúc. Gió đang thổi từ phương bắc và chỉ đẩy khói về hướng này. Phía bên kia không có. Nhưng dẫu sao, chỉ cần Ursus đưa Lygia qua cổng Janiculum là đủ cứu cả mình lẫn nàng. Cũng không thể nào toàn thể dân chúng đều chết hết, và thành phố thống trị thế giới lại bị quét khỏi mặt đất cùng toàn bộ cư dân của nó. Ngay cả những nơi bị chiếm, nơi lửa và chém giết cùng hoành hành, vẫn luôn có người sống sót; vậy thì cớ sao Lygia lại chắc chắn phải chết? Trái lại, Thiên Chúa đang gìn giữ nàng, chính Đấng đã tự mình chiến thắng sự chết.” Nghĩ như thế, chàng lại bắt đầu cầu nguyện, và theo một thói quen đã ăn sâu, chàng khấn với Christ những lời trọng thể, hứa dâng lễ vật và hy sinh. Sau khi lao qua Albanum, nơi hầu như mọi cư dân đều đã trèo lên mái nhà và leo lên cây để nhìn về phía Rome, chàng bình tĩnh hơn phần nào và lấy lại được sự điềm tĩnh. Chàng cũng nhớ rằng Lygia không chỉ được Ursus và Linus che chở, mà còn có cả Tông đồ Peter. Chỉ riêng sự hồi tưởng ấy cũng đổ thêm một niềm an ủi mới vào tim chàng. Đối với chàng, Peter là một con người không thể hiểu thấu, gần như siêu phàm. Từ khi nghe ông nói ở Ostrianum, một ấn tượng kỳ diệu cứ bám riết lấy chàng, về điều này chàng đã từng viết cho Lygia trong những ngày đầu ở Antium, rằng mọi lời của ông lão ấy đều là sự thật, hoặc rồi sau này sẽ chứng tỏ là sự thật. Sự gần gũi hơn mà trong cơn đau ốm chàng đã có với vị Tông đồ càng làm sâu thêm ấn tượng ấy, và về sau nó đã biến thành một niềm tin vững chắc. Vì Peter đã chúc lành cho tình yêu của chàng và hứa trao Lygia cho chàng, nên Lygia không thể chết trong lửa. Thành phố có thể cháy, nhưng không một tia lửa nào từ đám cháy sẽ rơi lên áo nàng. Dưới ảnh hưởng của một đêm không ngủ, của cuộc phi ngựa cuồng loạn và của những ấn tượng dồn dập, một cơn hưng cảm kỳ lạ chiếm lấy chàng hộ dân quan trẻ; trong cơn hưng cảm ấy, mọi sự đều dường như có thể: Peter nói với lửa, lấy một lời mà mở lửa ra, rồi họ đi qua một hành lang lửa mà không hề hấn gì. Hơn nữa, Peter nhìn thấy những biến cố tương lai; vậy hẳn nhiên ông đã thấy trước trận hỏa hoạn, mà nếu thế thì làm sao ông lại không cảnh báo và dẫn các Kitô hữu ra khỏi thành, và trong số ấy có cả Lygia, người mà ông yêu như chính con gái mình? Và một niềm hy vọng, mạnh thêm theo từng khắc, đi vào tim Vinicius. Nếu họ đang trốn khỏi thành, chàng có thể gặp họ ở Bovillae, hoặc bắt gặp họ trên đường. Gương mặt yêu dấu ấy có thể hiện ra bất cứ lúc nào từ giữa làn khói đang phủ lan ngày một rộng trên khắp Campania.

Điều ấy đối với chàng xem ra càng có phần đúng hơn, vì dọc đường chàng gặp mỗi lúc một đông những người đã bỏ thành mà đi về phía đồi Alban; họ thoát khỏi đám cháy và muốn đi vượt ra ngoài vệt khói. Trước khi tới Ustrinum, chàng đã phải ghìm bớt ngựa vì dòng người chen chúc. Ngoài những kẻ đi bộ vác bọc trên lưng, chàng còn gặp ngựa thồ, la, xe cộ chất đầy đồ đạc, và sau cùng là những cỗ kiệu trong đó nô lệ khiêng các công dân giàu có hơn. Ustrinum đông nghịt những người chạy loạn từ Rome tới nỗi khó lòng len qua đám đông. Ngoài quảng trường, dưới các hàng cột đền miếu, và trên các đường phố đâu đâu cũng đặc nghẹt người tị nạn. Chỗ này chỗ kia người ta dựng lều để cả gia đình có nơi trú tạm. Những kẻ khác thì ngồi bệt dưới trời trống, vừa la hét, vừa kêu cầu các thần, hoặc nguyền rủa số mệnh. Giữa cơn kinh hoàng chung, hỏi thăm bất cứ điều gì cũng khó. Những người Vinicius tìm đến hoặc không đáp, hoặc với đôi mắt hãy còn ngơ ngác vì sợ hãi chỉ trả lời rằng thành phố và cả thế gian đang tiêu vong. Từ phía Rome, từng đợt đàn ông, đàn bà và trẻ nhỏ lại kéo đến không ngớt; mỗi lúc họ càng làm tăng thêm hỗn loạn và tiếng kêu gào. Có kẻ lạc mất người thân giữa đám đông, cuống cuồng đi tìm; có kẻ đánh nhau để giành chỗ cắm trại. Những gã chăn cừu nửa hoang dã từ Campania cũng ùa vào thị trấn để nghe ngóng tin tức, hoặc kiếm chác nhờ cướp bóc dễ dàng trong cảnh náo loạn. Chỗ này chỗ kia, những đám nô lệ đủ mọi giống người và các đấu sĩ bắt đầu cướp phá nhà cửa, biệt thự trong thị trấn, rồi giao chiến với binh lính xuất hiện để bảo vệ dân chúng.

Junius, một nghị sĩ mà Vinicius trông thấy tại quán trọ, đang được một toán nô lệ Batavia vây quanh, là người đầu tiên cho chàng biết những tin tức chi tiết hơn về trận hỏa hoạn. Lửa đã bùng lên tại Circus Maximus, ở phía giáp với đồi Palatine và đồi Caelian, nhưng lan đi với một tốc độ không sao hiểu nổi rồi chụp lấy toàn bộ trung tâm thành phố. Từ thời Brennus tới nay, chưa bao giờ Rome phải chịu một tai họa ghê gớm đến thế. Junius nói: “Toàn bộ Circus đã cháy rụi, cả những cửa hiệu và nhà cửa chung quanh cũng vậy; đồi Aventine và đồi Caelian đang bốc lửa. Ngọn lửa vây lấy Palatine đã lan tới Carinae...”

Nói tới đó, Junius, người có tại Carinae một tòa “insula” lộng lẫy, đầy những tác phẩm nghệ thuật mà ông yêu quý, liền vốc một nắm bụi bẩn, rắc lên đầu, rồi rên rỉ trong tuyệt vọng.

Nhưng Vinicius nắm vai ông lay mạnh: “Nhà tôi cũng ở Carinae,” chàng nói, “nhưng khi mọi sự đều đang tiêu vong, thì cứ để nó tiêu vong luôn đi.”

Rồi sực nhớ rằng theo lời khuyên của mình, có thể Lygia đã đến nhà Aulus, chàng hỏi,--

“Thế còn Vicus Patricius?”

“Đang cháy!” Junius đáp.

“Còn Trans-Tiber?”

Junius nhìn chàng sửng sốt.

“Mặc Trans-Tiber đi,” ông nói, hai bàn tay ôm lấy hai thái dương đau nhức.

“Đối với tôi, Trans-Tiber còn quan trọng hơn mọi phần khác của Rome,” Vinicius kêu lên dữ dội.

“Đường đi là theo Via Portuensis, gần Aventine; nhưng hơi nóng sẽ làm ngươi nghẹt thở. Còn Trans-Tiber ư? Ta không biết. Lửa chưa lan tới đó; nhưng giờ này nó đã tới hay chưa thì chỉ các thần mới hay.” Nói tới đây Junius ngần ngừ trong chốc lát, rồi hạ thấp giọng: “Ta biết ngươi sẽ không phản ta, nên ta nói cho ngươi hay rằng đây không phải một vụ cháy thông thường. Người ta đã không cho cứu Circus. Khi nhà cửa bắt đầu bốc cháy tứ phía, chính ta đã nghe hàng nghìn tiếng kêu lên: ‘Giết những kẻ cứu lửa!’ Có những kẻ chạy khắp thành và ném đuốc đang cháy vào các tòa nhà. Đằng khác, dân chúng cũng nổi loạn, vừa kêu rằng thành phố đang cháy theo lệnh. Ta không thể nói gì hơn nữa. Khốn cho thành phố, khốn cho tất cả chúng ta, và khốn cho cả ta! Lưỡi người không sao kể xiết những gì đang diễn ra ở đó. Người ta chết trong lửa hoặc giết lẫn nhau giữa đám đông. Đây là tận số của Rome!”

Và một lần nữa ông lại lặp đi lặp lại: “Khốn thay! Khốn cho thành phố và cho chúng ta!” Vinicius nhảy phắt lên ngựa, thúc đi dọc theo đường Appia. Nhưng lúc này, đó không còn là phi ngựa nữa, mà đúng hơn là vật lộn để len qua giữa một dòng thác người và xe cộ đang tuôn ra khỏi thành. Thành phố, bị một trận đại hỏa hoạn quái dị ôm trùm, hiện ra trước mắt Vinicius như nằm gọn trên lòng bàn tay. Từ biển lửa và khói ấy tỏa tới một sức nóng kinh khủng, và tiếng gào thét của con người cũng không át nổi tiếng gầm cùng tiếng rít của ngọn lửa.