Quo Vadis — Chương 44
Chương 45 / 75 · Bài review Quo Vadis
Ánh sáng từ thành phố đang cháy nhuộm rực bầu trời đến tận tầm mắt con người có thể vươn tới. Từ sau dãy núi, vầng trăng lớn và tròn nhô lên; vừa bị ánh lửa hắt vào, nó lập tức mang màu đồng nung đỏ. Dường như nó đang kinh ngạc nhìn xuống đô thành thống trị thế giới nay đang lụi tàn. Trong những vực thẳm màu hồng của trời đêm, những vì sao hồng lấp lánh; nhưng khác hẳn những đêm thường, mặt đất lại sáng hơn cả bầu trời. Rome, như một giàn hỏa thiêu khổng lồ, soi rực toàn cõi Campania. Trong thứ ánh sáng đỏ máu ấy hiện ra những dãy núi xa, những thị trấn, biệt thự, đền đài, núi non, và những cầu dẫn nước vươn về phía thành từ khắp các ngọn đồi chung quanh; trên các cầu dẫn nước chen chúc từng đàn người, tụ tập ở đó để tìm nơi an toàn hoặc để ngắm nhìn biển lửa.
Trong khi ấy, hung thần khủng khiếp kia đang ôm trùm những khu vực mới của thành phố. Không thể nào ngờ vực rằng chính bàn tay tội ác đã làm lửa lan ra, vì những đám cháy mới không ngớt bùng lên ở những nơi xa hẳn ổ lửa chính. Từ các cao điểm nơi Rome được dựng nên, ngọn lửa tuôn xuống các thung lũng ken đặc nhà cửa như sóng biển tràn đi, những ngôi nhà năm sáu tầng, chất đầy cửa hiệu, quầy hàng, những hí trường gỗ di động dựng lên để phục vụ đủ loại trò diễn; rồi đến các kho gỗ, ô-liu, ngũ cốc, hạt dẻ, quả thông mà nhân của chúng nuôi sống lớp dân nghèo khốn hơn cả, cùng quần áo mà nhờ ân huệ của Caesar thỉnh thoảng vẫn được phân phát cho đám cùng dân chen chúc trong những ngõ hẹp. Ở những nơi ấy, lửa gặp vô vàn vật liệu dễ bén nên gần như biến thành một chuỗi nổ liên tiếp, chiếm trọn cả dãy phố với tốc độ chưa từng thấy. Những người cắm trại ngoài thành hoặc đứng trên các cầu dẫn nước chỉ nhìn màu ngọn lửa cũng biết thứ gì đang cháy. Sức cuồng nộ của gió cuốn từ vực lửa ra hàng ngàn, hàng triệu vỏ hạch đào và hạnh đang cháy; chúng bất thần lao vọt lên trời như muôn đàn bướm sáng, nổ lách tách, hoặc bị gió cuốn rơi xuống những phần khác của thành phố, xuống các cầu dẫn nước và những cánh đồng ngoài Rome. Mọi ý nghĩ cứu vãn đều trở nên lạc lõng; cảnh hỗn loạn mỗi lúc một tăng, vì một phía dân thành phố tháo chạy qua mọi cổng ra vùng ngoài, còn phía kia lửa lại dụ vào hàng ngàn người từ các miền lân cận, nào dân các thị trấn nhỏ, nông dân, những gã chăn súc vật nửa hoang dã ở Campania, bị lôi đến bởi hy vọng cướp bóc. Tiếng thét, “Rome đang diệt vong!” không rời khỏi môi đám đông; sự sụp đổ của đô thành lúc ấy dường như chấm dứt mọi quyền lực và tháo tung mọi mối ràng buộc bấy lâu từng liên kết con người trong một trật tự chung. Đám ô hợp, trong đó nô lệ chiếm phần đông, chẳng hề bận tâm đến quyền bá chủ của Rome. Thành phố bị hủy diệt chỉ có thể giải phóng họ; bởi thế đây đó họ bắt đầu mang vẻ đe dọa. Bạo lực và cướp bóc lan tràn. Tưởng như chỉ có quang cảnh thành phố hấp hối mới giữ được sự chú ý và tạm thời ngăn lại một cơn tàn sát sẽ bùng ra ngay khi Rome hóa thành đống đổ nát. Hàng trăm ngàn nô lệ, quên rằng Rome ngoài đền đài và tường thành còn có hàng chục quân đoàn rải khắp thế giới, dường như chỉ chờ một khẩu hiệu và một thủ lĩnh. Người ta bắt đầu nhắc đến tên Spartacus, nhưng Spartacus không còn sống nữa. Trong khi ấy, các công dân tụ họp và ai có gì thì tự vũ trang bằng thứ nấy. Những lời đồn quái đản nhất lan khắp mọi cổng thành. Có kẻ quả quyết rằng Vulcan, theo lệnh Jupiter, đang dùng lửa từ dưới lòng đất mà hủy diệt thành phố; kẻ khác nói Vesta đang báo thù cho Rubria. Những người tin như thế chẳng buồn cứu lấy bất cứ thứ gì nữa, mà bao vây các đền thờ, khẩn cầu chư thần thương xót. Tuy nhiên, điều được truyền miệng nhiều nhất vẫn là Caesar đã ra lệnh đốt Rome để giải thoát mình khỏi những mùi xú uế bốc lên từ Subura và dựng một thành phố mới mang tên Neronia. Ý nghĩ ấy làm dân chúng nổi cơn thịnh nộ; và nếu, như Vinicius tin chắc, có một thủ lĩnh biết lợi dụng luồng căm hận bùng phát ấy, thì giờ tận số của Nero hẳn đã điểm sớm hơn nhiều năm.
Người ta cũng đồn rằng Caesar đã hóa điên, rằng hắn sẽ lệnh cho đội cấm vệ và bọn đấu sĩ xông vào dân chúng mà mở một cuộc tàn sát đại quy mô. Những kẻ khác lại nhân danh các thần mà thề rằng theo lệnh của Râu Đồng, thú dữ đã được thả ra từ khắp các vivaria. Người ta bảo đã thấy trên đường phố những con sư tử bờm cháy rực, những con voi điên và bò rừng dẫm nát đám người thành từng mảng. Trong đó thậm chí cũng có phần sự thật; vì tại vài nơi, voi vừa thấy lửa tiến gần đã phá tung các vivaria, giành lấy tự do rồi hoảng loạn bỏ chạy khỏi biển lửa, quét sạch mọi thứ trước mặt như một cơn cuồng phong. Tin đồn công cộng ước số người thiệt mạng trong trận đại hỏa hoạn lên tới hàng chục ngàn. Thật ra quả có rất nhiều người đã chết. Có những kẻ mất sạch gia sản, hoặc mất đi những người thân yêu nhất, đã vì tuyệt vọng mà tự nguyện lao vào lửa. Kẻ khác chết ngạt trong khói. Giữa trung tâm thành phố, một bên là Capitol, bên kia là Quirinal, Viminal và Esquiline, cũng như giữa Palatine và đồi Caelian, nơi đường sá chật kín nhà cửa nhất, lửa bốc lên đồng thời ở quá nhiều chỗ đến nỗi cả đoàn người, đang chạy trốn về một hướng, bỗng bất ngờ gặp trước mặt một bức tường lửa mới và chết một cái chết kinh hoàng trong cơn lũ lửa.
Trong kinh hoàng, rối loạn và choáng váng, người ta không biết phải chạy đi đâu. Đường phố bị hàng hóa chặn kín, và ở nhiều chỗ hẹp thì hoàn toàn bít lối. Những ai lánh nạn tại các chợ và quảng trường của thành phố, nơi về sau hí trường Flavian được dựng lên, gần đền Đất, gần Portico của Silvia, và cao hơn nữa, tại các đền Juno và Lucinia, giữa Clivus Virbius và cổng Esquiline cũ, đều chết cháy vì sức nóng, bị bao quanh bởi một biển lửa. Ở những nơi ngọn lửa chưa chạm tới, về sau người ta còn tìm thấy hàng trăm thi thể đã bị sức nóng thiêu quắt, dù đây đó vẫn có những kẻ bất hạnh cố cạy những phiến đá lát phẳng và tự chôn nửa thân mình xuống để chống hơi nóng. Hầu như không một gia đình nào ở khu trung tâm thành phố còn sống sót nguyên vẹn; bởi vậy dọc theo tường thành, tại các cổng và trên mọi nẻo đường, tiếng tru khóc của những người đàn bà tuyệt vọng vang lên, gọi mãi những tên thân yêu của những kẻ đã chết trong dòng người chen lấn hoặc trong biển lửa.
Và thế là, trong khi một số người cầu khẩn các thần, những kẻ khác lại nguyền rủa các thần vì tai họa khủng khiếp này. Người ta thấy những ông già từ đền Jupiter Liberator đi ra, giơ tay lên mà kêu rằng: “Nếu ngài thật là đấng giải cứu, thì hãy cứu các bàn thờ của ngài và cứu lấy thành phố!” Nhưng tuyệt vọng trước hết quay sang chống lại các vị thần La Mã cổ xưa, những đấng mà trong tâm trí dân chúng vốn phải canh giữ thành đô này cẩn trọng hơn mọi thần khác. Các vị ấy đã tỏ ra bất lực; vì thế bị lăng nhục. Trái lại, trên đường Via Asinaria đã xảy ra chuyện rằng khi một toán tư tế Ai Cập xuất hiện, đang rước pho tượng Isis mà họ đã cứu ra khỏi ngôi đền gần Porta Caelimontana, thì một đám đông liền xông vào giữa hàng tư tế, bám lấy cỗ xe, kéo nó đến cổng Appia, rồi giật pho tượng đem đặt vào đền Mars, vừa làm vừa áp đảo các tư tế của vị thần ấy khi họ dám chống cự. Ở những nơi khác, người ta khẩn cầu Serapis, Baal hoặc Jehovah, mà tín đồ của các vị ấy, từ những ngõ hẻm gần Subura và vùng bên kia sông Tiber tràn ra như kiến, đã làm cánh đồng gần tường thành dậy đầy tiếng la hét và náo động. Trong tiếng kêu của họ có những âm điệu như chiến thắng; bởi thế, khi một số công dân hòa theo tiếng hô tụng “Chúa tể của Thế gian”, những kẻ khác, phẫn nộ trước niềm hớn hở ấy, liền tìm cách đàn áp bằng bạo lực. Đây đó vang lên những bài thánh ca do những người trai đang độ sung sức, những ông già, đàn bà và trẻ con cùng hát, những bài ca kỳ diệu và trang nghiêm, mà ý nghĩa của chúng họ không hiểu, nhưng trong đó cứ lặp đi lặp lại những lời: “Kìa Đấng Phán Xét ngự đến trong ngày thịnh nộ và tai ương.” Thế là trận hồng thủy người không nghỉ không ngủ ấy bao quanh thành phố đang cháy như một biển lớn bị bão xua dồn.
Nhưng tuyệt vọng cũng không, lời báng bổ cũng không, mà thánh ca cũng không giúp ích được gì. Sự hủy diệt dường như không gì cưỡng nổi, trọn vẹn, và tàn nhẫn như chính Định Mệnh. Quanh hí trường của Pompey, những kho chứa cây gai dầu bắt lửa, rồi đến dây thừng dùng trong các cuộc diễn ở circus, trong đấu trường, và trong mọi loại máy móc phục vụ trò chơi, cùng với những tòa nhà kề bên chứa đầy thùng hắc ín để trét lên dây thừng. Chỉ trong vài giờ, toàn bộ khu vực ấy của thành phố, phía bên kia là Campus Martius, đã rực lên dưới những ngọn lửa vàng tươi đến nỗi trong chốc lát, đối với những người đứng nhìn, nửa mê nửa tỉnh vì kinh sợ, dường như trong cảnh hủy diệt chung, trật tự của đêm và ngày đã bị xóa nhòa và họ đang nhìn thấy ánh mặt trời. Nhưng về sau một vầng sáng đỏ máu khủng khiếp đã dập tắt mọi màu lửa khác. Từ biển lửa, những vòi lửa khổng lồ phóng vọt lên nền trời nung nóng, những cột lửa xòe ở đỉnh thành cành và lông lửa; rồi gió cuốn chúng đi, biến chúng thành những sợi vàng, thành mái tóc, thành tia lửa, và quét băng qua Campania về phía đồi Alban. Đêm càng lúc càng sáng; bản thân không khí dường như cũng bị thấm đẫm không chỉ ánh sáng mà cả ngọn lửa. Sông Tiber chảy như lửa sống. Thành phố khốn khổ đã biến thành một cõi địa ngục duy nhất. Trận đại hỏa hoạn chiếm lấy ngày càng nhiều không gian, công hãm các ngọn đồi, tràn ngập chỗ bằng, nhấn chìm các thung lũng, gầm thét, rú vang và rền sấm.