Quo Vadis — Chương 46
Chương 47 / 75 · Bài review Quo Vadis
Thành phố vẫn cháy rừng rực. Circus Maximus đã đổ thành đống hoang tàn. Cả những dãy phố và ngõ hẻm ở các khu bắt lửa trước nhất lần lượt sụp xuống. Sau mỗi lần đổ, những cột lửa lại bốc vọt lên một lúc tới tận trời cao. Gió đã đổi chiều, giờ thổi mạnh dữ dội từ phía biển, mang theo về phía Caelian, Esquiline và Viminal những dòng lửa, những thanh củi cháy đỏ và tro than. Dẫu vậy, nhà chức trách vẫn lo việc cứu nạn. Theo lệnh Tigellinus, kẻ đã vội từ Antium trở về từ ba ngày trước, người ta phá dỡ các ngôi nhà trên đồi Esquiline để ngọn lửa, gặp khoảng trống, tự lịm đi. Tuy nhiên, việc ấy chỉ được làm cốt để cứu lấy phần tàn dư của thành phố; còn cứu những gì đang cháy thì không thể nghĩ tới nữa. Cũng cần phải ngăn chặn những hậu quả khác do cảnh điêu tàn gây ra. Những của cải vô kể đã tiêu tan ở Rome; toàn bộ tài sản của dân chúng đã biến mất; hàng trăm ngàn người đang lang thang ngoài tường thành trong cảnh thiếu thốn cùng cực. Ngay từ ngày thứ hai, cơn đói đã bắt đầu hành hạ đám đông ấy, vì những kho lương thực mênh mông trong thành đã cháy theo thành phố. Giữa cơn rối loạn toàn diện và sự tan rã của quyền lực, không ai nghĩ đến việc cung cấp nguồn tiếp tế mới. Chỉ sau khi Tigellinus tới nơi, lệnh thích đáng mới được gửi xuống Ostia; nhưng trong lúc ấy dân chúng đã trở nên ngày một đe dọa hơn.
Ngôi nhà ở Aqua Appia, nơi Tigellinus tạm trú lúc bấy giờ, bị vây kín bởi đám đông đàn bà, từ sáng đến khuya cứ gào lên: “Bánh ăn và mái che!” Đám cấm vệ quân, được điều từ đại doanh trại nằm giữa Via Salaria và Nomentana tới, uổng công cố duy trì một trật tự nào đó. Chỗ này chỗ kia họ gặp phải sự chống cự công khai bằng vũ khí. Ở nhiều nơi, những đám đông tay không chỉ vào thành phố đang cháy và thét lên: “Giết chúng ta trước đám cháy ấy đi!” Họ chửi rủa Caesar, đám Augustiani, cả cấm vệ quân; sự kích động tăng lên từng phút, đến nỗi Tigellinus, ban đêm nhìn những ngọn lửa quanh thành phố bốc lên hàng ngàn đốm, đã tự nhủ rằng đó là lửa trong doanh trại quân thù.
Theo lệnh ông ta, ngoài bột mì, người ta còn chở đến càng nhiều bánh nướng sẵn càng tốt, không chỉ từ Ostia mà từ khắp các thị trấn và làng mạc lân cận. Khi chuyến đầu tiên tới Emporium vào ban đêm, dân chúng phá tung cổng chính phía Aventine, chớp mắt đã cướp sạch mọi đồ tiếp tế và gây nên một cảnh hỗn loạn kinh khủng. Dưới ánh hỏa hoạn, họ đánh giành từng ổ bánh và giẫm nát biết bao chiếc xuống đất. Bột mì từ những bao bị xé rách phủ trắng như tuyết cả khoảng đất từ kho lẫm tới các vòm Drusus và Germanicus. Tiếng náo loạn kéo dài mãi cho đến khi binh lính chiếm lại tòa nhà và dùng tên cùng lao đạn xua tan đám đông.
Từ sau cuộc xâm lăng của người Gaul dưới quyền Brennus, Rome chưa từng chứng kiến tai họa nào đến thế. Người tuyệt vọng đem so sánh hai trận đại hỏa hoạn. Nhưng vào thời Brennus, Điện Capitol vẫn còn. Còn giờ đây Capitol bị siết chặt trong một vòng lửa khủng khiếp. Đúng là những khối cẩm thạch không bốc cháy; nhưng ban đêm, khi gió nhất thời quét lửa sang bên, những hàng cột trong thánh điện cao vời của Jupiter hiện ra đỏ rực như than hồng. Hơn nữa, vào thời Brennus, Rome còn có một dân tộc thuần nhất, có kỷ cương, gắn bó với thành phố và các bàn thờ của mình; còn nay những đám dân tạp ngữ lang thang như dân du mục quanh tường thành Rome đang cháy, thành phần phần lớn là nô lệ và người được phóng thích, bị kích động, vô trật tự, và sẵn sàng, dưới sức ép của thiếu thốn, quay lại chống chính quyền và chống cả thành phố.
Nhưng chính quy mô ghê gớm của đám cháy, làm mọi con tim khiếp đảm, lại phần nào giải giới đám đông. Sau lửa có thể sẽ đến đói kém và dịch bệnh; và để hoàn tất tai ương, cái nóng khủng khiếp của tháng Bảy đã ập tới. Không thể nào thở nổi thứ không khí bị nung cháy bởi cả lửa lẫn mặt trời. Đêm không đem lại chút khuây khỏa nào, trái lại phơi ra một địa ngục. Ban ngày, trước mắt người ta là một cảnh tượng ghê rợn và điềm dữ. Ở trung tâm, một thành phố khổng lồ trên các đồi cao đã biến thành một núi lửa gầm thét; xung quanh, trải mãi tới Alban Hills, là một doanh trại vô biên dựng bằng lều quán, chòi tạm, xe cộ, kiện hàng, bọc gói, sạp bày, bếp lửa, tất cả phủ trong khói và bụi, được soi sáng bằng những tia nắng đỏ lên vì xuyên qua màn khói; đâu đâu cũng đầy tiếng gầm, tiếng thét, lời đe dọa, lòng căm hận và nỗi kinh hoàng, một bầy người quái dị gồm đàn ông, đàn bà và trẻ con. Lẫn với các Quirites là người Hy Lạp, những kẻ lông lá từ phương Bắc với đôi mắt xanh, người Phi châu và người Á châu; giữa các công dân là nô lệ, người được phóng thích, đấu sĩ, lái buôn, thợ thuyền, gia nhân và binh lính, một biển người đích thực đang cuồn cuộn quanh hòn đảo lửa.
Đủ loại tin đồn lay động biển người ấy như gió lay một mặt biển thực sự. Có tin lành và tin dữ. Người ta nói rằng vô số lúa mì và y phục sẽ được chở tới Emporium để phát không cho dân. Lại cũng nói rằng theo lệnh Caesar, các tỉnh ở Á châu và Phi châu sẽ bị vét sạch của cải, rồi những kho tàng ấy sẽ được trao cho dân Rome để ai nấy tự dựng lại nhà mình. Nhưng đồng thời cũng rộ lên rằng nước trong các thủy đạo đã bị đầu độc; rằng Nero định xóa sổ thành phố, giết sạch dân chúng không chừa một ai, rồi dời sang Hy Lạp hoặc Ai Cập và từ một nơi mới mà cai trị thế giới. Mỗi tin đồn lao đi nhanh như chớp, và mỗi tin đều được bọn dân ô hợp tin sái cổ, gây nên những cơn bùng phát hy vọng, giận dữ, kinh hoàng hoặc cuồng nộ. Sau cùng, một cơn sốt nào đó đã chế ngự hàng ngàn con người du mục ấy. Niềm tin của các Kitô hữu rằng ngày tận thế bằng lửa đã đến, lan cả sang những kẻ thờ các thần và mỗi ngày một rộng hơn. Người ta rơi vào trạng thái đờ đẫn hoặc điên loạn. Trong những đám mây rực sáng vì đám cháy, người ta thấy các vị thần đang cúi nhìn cảnh điêu tàn; những cánh tay vươn lên phía các thần ấy để cầu xin thương xót hoặc ném tới các ngài những lời nguyền rủa.
Trong khi đó binh lính, được một số cư dân giúp sức, tiếp tục phá dỡ nhà cửa trên Esquiline và Caelian, cũng như ở vùng bên kia sông Tiber; nhờ thế những khu ấy phần lớn được cứu. Nhưng ngay trong thành phố, những kho tàng chất chứa qua bao thế kỷ chinh phục đã bị hủy diệt không kể xiết; những tác phẩm nghệ thuật vô giá, những đền đài lộng lẫy, những di tích quý giá nhất của quá khứ và vinh quang Rome. Người ta thấy trước rằng toàn bộ Rome rồi chỉ còn sót lại dăm phần ở rìa ngoài, và hàng trăm ngàn người sẽ không còn mái che. Có kẻ tung tin rằng binh lính phá nhà không phải để chặn lửa, mà để không cho phần nào của thành phố được cứu cả. Tigellinus hết phái sứ giả này đến sứ giả khác về Antium, trong mỗi thư đều khẩn khoản xin Caesar trở về, dùng sự hiện diện của mình mà trấn an dân chúng đang tuyệt vọng. Nhưng Nero chỉ lên đường khi lửa đã bén tới domus transitoria, và ông ta vội vã chỉ cốt để khỏi lỡ khoảnh khắc đám cháy lên tới mức dữ dội nhất.
Trong lúc ấy, lửa đã tràn đến Via Nomentana, nhưng lập tức đổi hướng theo một cơn gió mới về phía Via Lata và sông Tiber. Nó bao vây Capitol, lan dọc Forum Boarium, thiêu hủy mọi thứ trước đó còn chừa lại, rồi lần thứ hai áp sát Palatine.
Tigellinus tập hợp toàn bộ lực lượng cấm vệ quân, lại phái sứ giả này đến sứ giả khác tới gặp Caesar để báo rằng ông ta sẽ chẳng mất gì về mặt tráng lệ của cảnh tượng, vì đám cháy còn dữ hơn nữa.
Nhưng Nero, đang ở dọc đường, lại muốn tới vào ban đêm để được thỏa thuê hơn khi ngắm kinh thành đang tiêu vong. Bởi thế ông ta dừng lại gần Aqua Albana, triệu nghệ sĩ bi kịch Aliturus vào lều mình, rồi cùng người ấy quyết định dáng điệu, ánh mắt và nét mặt; học những cử chỉ thích hợp, còn bướng bỉnh tranh luận với diễn viên xem ở câu “Ôi thành đô thiêng liêng, tưởng bền vững hơn cả Ida,” thì nên giơ cả hai tay lên, hay một tay cầm forminga buông xuống bên mình và chỉ nâng tay kia lên. Khi ấy, câu hỏi ấy đối với ông ta còn quan trọng hơn mọi điều khác. Cuối cùng lên đường vào lúc chạng vạng, ông ta còn hỏi ý Petronius xem ở những câu tả tai họa kia có thể thêm vào vài lời báng bổ thần linh thật huy hoàng hay không, và xét từ quan điểm nghệ thuật, liệu những lời ấy chẳng phải sẽ tự nhiên bật ra từ miệng một con người ở vào hoàn cảnh ấy, một con người đang mất đi quê sinh quán của mình sao.
Rốt cuộc, vào khoảng nửa đêm, ông ta tiến gần tường thành cùng triều tùy tùng đông đảo, gồm nguyên những toán quý tộc, nghị sĩ, kỵ sĩ, người được phóng thích, nô lệ, đàn bà và trẻ nhỏ. Mười sáu ngàn cấm vệ quân, dàn thành thế trận dọc đường, giữ gìn sự yên ổn và an toàn cho cuộc tiến vào của ông ta, đồng thời chặn đám dân đang kích động ở một khoảng cách thích hợp. Dân chúng thấy đoàn tùy tùng thì nguyền rủa, la ó và huýt gió, nhưng không dám tấn công. Tuy vậy, ở nhiều nơi cũng có tiếng hoan hô của hạng cùng dân vốn chẳng có gì, nên cũng chẳng mất gì trong trận cháy, và đang hy vọng được phát lúa mì, ôliu, y phục và tiền bạc hậu hĩnh hơn thường lệ. Cuối cùng tiếng la ó, tiếng huýt sáo và tiếng vỗ tay đều bị nhấn chìm trong tiếng tù và và kèn đồng vang dậy mà Tigellinus đã cho thổi lên.
Nero tới Ostian Gate thì dừng lại và nói: “Một quân vương không nhà của một dân tộc không nhà, đêm nay biết đặt cái đầu bất hạnh này ở đâu đây?”
Sau khi đi qua Clivus Delphini, ông ta bước lên thủy đạo Appia bằng những bậc cấp đã được chuẩn bị sẵn có chủ ý. Theo sau ông ta là đám Augustiani và một dàn ca sĩ mang cithara, đàn luýt và các nhạc cụ khác.
Mọi người đều nín thở chờ xem liệu ông ta có nói ra những lời lớn lao nào chăng, những lời mà vì an toàn của chính mình họ phải ghi nhớ. Nhưng ông ta đứng đó, trang nghiêm, im lặng, trong chiếc áo choàng tía và vòng nguyệt quế vàng, nhìn sức mạnh cuồng nộ của ngọn lửa. Khi Terpnos trao cho ông ta cây đàn luýt bằng vàng, ông ta ngước mắt lên bầu trời rực cháy, như thể đang đợi nguồn cảm hứng.
Từ xa, dân chúng chỉ trỏ ông ta đang đứng trong ánh đỏ như máu. Đằng xa, những con rắn lửa rít lên. Những công trình cổ xưa và thiêng liêng nhất đều đang bốc cháy: đền Hercules do Evander dựng lên đang cháy; đền Jupiter Stator đang cháy, đền Luna do Servius Tullius xây, nhà của Numa Pompilius, thánh điện Vesta với các penates của dân La Mã; giữa những đợt lửa lay động, Capitol lúc ẩn lúc hiện; quá khứ và linh hồn Rome đang cháy. Thế mà Caesar ở đó, cây đàn trong tay, nét mặt diễn xướng trên mặt, không nghĩ đến đất nước đang tiêu vong, mà chỉ nghĩ đến dáng đứng của mình và những lời tiên tri nào có thể giúp mình mô tả hay nhất tầm vóc tai ương, khơi dậy nhiều thán phục nhất, và nhận được những tràng tán thưởng nồng nhiệt nhất. Ông ta ghét thành phố ấy, ghét cư dân của nó, chỉ yêu những bài ca và câu thơ của riêng mình; bởi thế trong lòng vui sướng vì cuối cùng đã được trông thấy một bi kịch như cái bi kịch mình đang viết. Kẻ làm thơ hạnh phúc, kẻ ngâm xướng thấy cảm hứng dâng lên, kẻ săn tìm xúc động thì mê đắm trước cảnh tượng kinh hoàng và nghĩ ngất ngây rằng ngay cả sự hủy diệt thành Troy cũng chẳng là gì nếu so với sự hủy diệt của thành phố khổng lồ này. Còn gì hơn nữa để mong cầu? Cả Rome thống trị thế gian đang cháy rực, còn ông ta đứng trên những vòm thủy đạo với cây đàn vàng, nổi bật, áo tía, được chiêm ngưỡng, lộng lẫy, thi vị. Bên dưới, đâu đó trong bóng tối, dân chúng đang rì rầm và sôi lên. Mặc họ rì rầm! Thời đại sẽ trôi qua, hàng ngàn năm sẽ qua đi, nhưng nhân loại sẽ nhớ tới và tôn vinh nhà thơ đã hát về sự sụp đổ và cháy rụi của thành Troy trong đêm ấy. Homer là gì khi đặt cạnh ông ta? Chính Apollo với cây đàn khoét rỗng của thần lại là gì?
Đến đây, ông ta giơ hai tay lên, gảy vào dây đàn và cất lên những lời của Priam.
“Ôi tổ chim của cha ông ta, ôi chiếc nôi yêu dấu!” Giọng ông ta giữa trời trống, hòa với tiếng gầm của biển lửa và tiếng rì rầm xa xa của hàng ngàn con người chen chúc, nghe yếu ớt, chập chờn và trầm thấp đến kỳ lạ, còn tiếng nhạc đệm thì như tiếng côn trùng vo ve. Nhưng các nghị sĩ, phẩm quan và Augustiani tụ trên thủy đạo đều cúi đầu, lắng nghe trong một niềm xuất thần im lặng. Ông ta hát rất lâu, và điệu hát càng lúc càng sầu thảm. Có lúc, khi dừng lại lấy hơi, dàn đồng ca lặp lại câu cuối; rồi Nero quăng từ vai xuống chiếc syrma bi kịch [Một thứ áo choàng có vạt dài, đặc biệt dành cho diễn viên bi kịch] bằng một cử chỉ học từ Aliturus, gảy đàn, và hát tiếp. Khi cuối cùng đã hát xong những câu thơ soạn sẵn, ông ta ứng tác, tìm trong cảnh tượng bày ra trước mắt những so sánh thật hùng vĩ. Gương mặt ông ta bắt đầu đổi khác. Quả thực ông ta không xúc động vì kinh đô của đất nước mình đang bị hủy diệt; nhưng ông ta lại say mê và xúc động trước chính sự bi thiết trong lời mình đến nỗi thình lình mắt ngập lệ. Sau cùng ông ta đánh rơi cây đàn xuống dưới chân choang một tiếng, rồi quấn mình trong chiếc syrma, đứng chết lặng như hóa đá, như một pho tượng Niobe từng trang hoàng sân trong điện Palatine.
Chẳng bao lâu, một trận mưa vỗ tay phá tan im lặng. Nhưng từ đằng xa đáp lại là tiếng gào tru của đám đông. Khi ấy không ai còn nghi ngờ rằng Caesar đã ra lệnh đốt thành để tự dành cho mình một cảnh tượng mà hát trên đó. Nghe tiếng kêu dậy lên từ hàng trăm ngàn người, Nero quay sang đám Augustiani với nụ cười buồn bã, cam chịu của một kẻ đang chịu nỗi bất công.
“Các ngươi thấy đó,” ông ta nói, “Quirites định giá thơ ca và định giá ta như thế đấy.”
“Phường khốn kiếp!” Vatinius đáp. “Xin ngài truyền cho cấm vệ quân xông vào chúng.”
Nero quay sang Tigellinus,
“Ta có thể trông cậy vào lòng trung thành của binh sĩ chứ?”
“Có, thưa đấng thần minh,” viên tổng quản đáp.
Nhưng Petronius nhún vai và nói,
“Vào lòng trung thành của họ thì có, nhưng không thể vào số lượng của họ. Trước mắt xin ngài cứ ở nguyên nơi này, vì ở đây là an toàn nhất; nhưng phải làm dịu dân chúng.”
Seneca cũng cùng ý kiến ấy, cả Licinus chấp chính quan cũng vậy. Trong khi đó, bên dưới cơn kích động đang tăng lên. Dân chúng đang vũ trang bằng đá, cọc lều, gậy lấy từ xe, ván gỗ và đủ thứ sắt thép. Một lát sau, vài chỉ huy cấm vệ quân tới báo rằng các cohortes, bị đám đông ép sát, đang hết sức khó nhọc mới giữ nổi hàng trận, và vì chưa có lệnh tấn công nên họ không biết phải làm gì.
“Ôi các thần!” Nero nói, “Đêm gì mà đêm!” Một bên là biển lửa, bên kia là biển người cuồng nộ. Rồi ông ta bắt đầu tìm những lời lẽ huy hoàng nhất để mô tả hiểm nguy của giờ phút ấy; nhưng thấy quanh mình những ánh mắt kinh hoảng và những gương mặt tái xanh, ông ta cũng hoảng sợ theo mọi người.
“Đem cho ta chiếc áo choàng sẫm màu có mũ trùm!” ông ta kêu lên; “lẽ nào thật sự lại phải đến đánh nhau sao?”
“Thưa ngài,” Tigellinus nói bằng giọng bất định, “tôi đã làm những gì có thể, nhưng nguy hiểm đang đe dọa. Xin ngài hãy nói với dân chúng và hứa hẹn với họ.”
“Caesar phải nói với bọn dân ô hợp sao? Hãy để kẻ khác làm điều đó nhân danh ta. Ai nhận việc ấy?”
“Tôi!” Petronius bình thản đáp.
“Đi đi, bằng hữu của ta; trong mọi cơn ngặt nghèo, ngươi vẫn trung thành với ta hơn ai hết. Đi đi, và đừng tiếc lời hứa nào.”
Petronius quay lại phía đoàn tùy tùng, vẻ mặt thản nhiên mà châm biếm,
“Các nghị sĩ có mặt nơi đây, cả Piso, Nerva và Senecio, xin theo tôi.”
Rồi chàng chậm rãi đi xuống theo đường dẫn nước. Những kẻ được chàng gọi đến nối gót theo sau, không phải không ngần ngại, nhưng với một niềm tin cậy nào đó do chính vẻ điềm tĩnh của chàng truyền sang. Tới chân những vòm cuốn, Petronius ra lệnh dắt đến cho mình một con ngựa trắng; rồi lên ngựa, chàng phi đi ở đầu đoàn tùy tùng, giữa hai hàng cấm vệ quân dày đặc, tiến thẳng tới đám đông đen ngòm đang tru gào; chàng không mang vũ khí, chỉ cầm cây gậy ngà mảnh mà chàng vẫn quen dùng.
Khi đã tới gần, chàng thúc ngựa vào giữa đám người. Chung quanh, dưới ánh lửa cháy rực, hiện ra những cánh tay giơ cao, tay nào cũng lăm lăm đủ mọi thứ khí giới, những con mắt rực lửa, những gương mặt đẫm mồ hôi, những đôi môi đang gầm rít và sùi bọt mép. Một biển người điên cuồng vây kín chàng và những kẻ theo hầu; chung quanh chỉ là một biển đầu người, chuyển động, gào thét, khủng khiếp.
Những cơn bùng nổ càng dữ dội hơn, thành một tiếng gầm man dại như từ cõi âm vọng lại; sào, chĩa, đến cả gươm cũng vung lên trên đầu Petronius; những bàn tay chộp giật vươn về phía dây cương ngựa chàng và về phía chính chàng, nhưng chàng vẫn tiến lên nữa; lạnh lùng, dửng dưng, khinh mạn. Có lúc chàng dùng gậy gõ lên những cái đầu xấc xược nhất, như thể chỉ đang tự mở lối trong một đám đông tầm thường; mà chính cái tự tín ấy, cái điềm tĩnh ấy, đã khiến lũ dân ô hợp đang cuồng nộ phải kinh ngạc. Rốt cuộc họ nhận ra chàng, và vô số tiếng bắt đầu hô lên,--
“Petronius! Arbiter Elegantiarum! Petronius! Petronius!” vang dậy khắp bốn phía. Và khi cái tên ấy được lặp đi lặp lại, những gương mặt quanh chàng bớt ghê dữ hơn, tiếng huyên náo cũng bớt man rợ hơn: bởi vị quý tộc La Mã tao nhã ấy, tuy chưa từng tranh cầu cảm tình của dân chúng, vẫn là người được họ yêu mến. Chàng vốn được xem là người nhân hậu và quảng đại; và thanh thế của chàng lại càng tăng, nhất là từ vụ Pedanius Secundus, khi chàng đã lên tiếng xin giảm nhẹ bản án tàn khốc kết tội xử chết toàn bộ nô lệ của viên prefect ấy. Đám nô lệ từ đó lại càng yêu mến chàng hơn hết, bằng thứ tình yêu vô bờ mà những kẻ bị áp bức hay bất hạnh thường dành cho người nào tỏ ra với họ dù chỉ một chút cảm thông. Hơn nữa, trong khoảnh khắc ấy còn có thêm lòng hiếu kỳ muốn biết sứ giả của Caesar sẽ nói gì, vì không ai nghi ngờ rằng chính Caesar đã sai chàng tới.
Chàng cởi tấm toga trắng viền đỏ thắm, giơ cao lên không, rồi phất trên đầu, ra hiệu rằng chàng muốn nói.
“Im lặng! Im lặng!” dân chúng bốn phía cùng la lên.
Một lúc sau quả có im lặng. Bấy giờ chàng ngồi thẳng người trên yên ngựa và cất tiếng rõ ràng, vững vàng,--
“Công dân La Mã, những ai nghe thấy ta hãy nhắc lại lời ta cho những người đứng xa hơn, và tất cả hãy xử sự như người, chứ không như dã thú trong đấu trường.”
“Chúng tôi sẽ làm, sẽ làm!”
“Vậy thì nghe đây. Thành phố sẽ được dựng lại. Những khu vườn của Lucullus, Maecenas, Caesar và Agrippina sẽ mở cho các người. Ngày mai sẽ bắt đầu phát lúa mì, rượu vang và ô-liu, để ai nấy đều được no tới cổ. Rồi Caesar sẽ mở hội vui cho các người, những cuộc vui mà thế gian chưa từng trông thấy; trong những cuộc vui ấy sẽ có yến tiệc và quà ban cho các người. Sau trận cháy này, các người sẽ giàu hơn trước.”
Một tiếng rì rầm đáp lại chàng, lan từ giữa đám đông ra tứ phía, như làn sóng dấy lên trên mặt nước khi có hòn đá ném vào. Những kẻ đứng gần nhắc lại lời chàng cho những người ở xa hơn. Rồi đây đó vang lên những tiếng hò giận dữ hoặc tán thưởng, và cuối cùng hợp thành một tiếng kêu chung của tất cả: “Panem et circenses!!!”
Petronius lại khoác toga vào người và đứng nghe một lúc không nhúc nhích, trong tấm áo trắng nom như pho tượng cẩm thạch. Tiếng náo động càng tăng, lấn át cả tiếng gầm của ngọn lửa, được đáp lại từ khắp các phía và từ những khoảng cách mỗi lúc một xa hơn. Nhưng hẳn vị sứ giả còn muốn nói thêm điều gì, vì chàng vẫn chờ. Cuối cùng, lại truyền cho họ im lặng, chàng cất tiếng,--“Ta đã hứa với các người panem et circenses; giờ hãy tung hô Caesar, đấng cho các người ăn mặc; rồi đi ngủ đi, hỡi dân chúng thân yêu, vì bình minh chẳng bao lâu nữa sẽ tới.”
Đoạn chàng quay ngựa, khẽ dùng gậy chạm vào đầu và mặt những kẻ đứng chắn lối, rồi thong thả tiến về hàng ngũ cấm vệ quân. Chẳng bao lâu chàng đã ở dưới đường dẫn nước. Phía trên gần như rối loạn cả lên, vì họ không hiểu tiếng hô “Panem et circenses,” và tưởng đó là một cơn bộc phát phẫn nộ mới. Họ thậm chí không ngờ Petronius có thể thoát thân; nên Nero, vừa trông thấy chàng, liền chạy ra các bậc cấp, mặt tái đi vì xúc động, hỏi,--
“Sao rồi, họ đang làm gì? Có đánh nhau không?”
Petronius hít đầy không khí vào phổi, thở ra thật sâu, rồi đáp,--“Nhân danh Pollux! Chúng đang vã mồ hôi! mà cái mùi mới khủng khiếp làm sao! Có ai cho ta một chiếc epilimma được chăng?--ta muốn ngất đi đây.” Rồi chàng quay sang Caesar.
“Ta đã hứa với chúng,” chàng nói, “lúa mì, ô-liu, mở cửa các khu vườn, và hội vui. Chúng lại tôn thờ bệ hạ như trước, và đang tru hò để tôn vinh bệ hạ. Chư thần ôi, lũ bình dân ấy bốc mùi thật kinh khủng!”
“Ta đã cho cấm vệ quân sẵn sàng,” Tigellinus kêu lên; “và nếu ngươi không dẹp yên chúng, thì bọn la hét ấy đã bị bắt im tiếng vĩnh viễn rồi. Thật đáng tiếc, Caesar, rằng bệ hạ đã không để ta dùng vũ lực.”
Petronius nhìn hắn, nhún vai, rồi nói thêm,--
“Cơ hội chưa mất đâu. Có thể ngày mai ngươi sẽ phải dùng đến nó.”
“Không, không!” Caesar kêu lên, “ta sẽ truyền mở các khu vườn cho chúng vào, và phát lúa mì. Nhờ ngươi, Petronius, ta sẽ có hội vui; còn bài ca mà hôm nay ta đã hát, ta sẽ hát công khai trước mọi người.”
Rồi hắn đặt hai tay lên vai vị arbiter, lặng đi một lát, cuối cùng như sực nhớ ra điều gì, liền hỏi,--
“Hãy nói thật cho ta biết, lúc ta hát, trong mắt ngươi ta ra sao?”
“Bệ hạ xứng với cảnh tượng ấy, và cảnh tượng ấy cũng xứng với bệ hạ,” Petronius đáp.
“Nhưng giờ hãy lại ngắm nó một lần nữa,” chàng nói, ngoảnh về phía đám cháy, “và từ biệt thành Rome cổ xưa.”