Quo Vadis — Chương 48
Chương 49 / 75 · Bài review Quo Vadis
Khắp các khu vườn uy nghi của Caesar, nguyên là vườn của Domitius và Agrippina, người ta dựng lên những trại người; trại cũng mọc trên Campus Martius, trong các khu vườn của Pompey, Sallust và Maecenas, dưới những hàng cột dài, trên các sân quần cầu, trong các biệt quán mùa hạ lộng lẫy và trong những chuồng trại vốn dựng để nuôi thú dữ. Những con công, hồng hạc, thiên nga, đà điểu, linh dương gazelle, sơn dương Phi châu và hươu nai từng là đồ trang sức cho các khu vườn ấy đều rơi dưới dao của đám dân ô hợp. Lương thực lúc này từ Ostria đổ về dồi dào đến nỗi người ta có thể đi như trên một chiếc cầu mà băng qua từ bờ nọ sông Tiber sang bờ kia, bước trên những chiến thuyền, thuyền nhỏ và sà lan. Lúa mì được bán với cái giá rẻ chưa từng nghe là ba sestertia, và còn phát không cho kẻ cùng khổ. Rượu, ô-liu và hạt dẻ được chở vào thành từng khối lượng mênh mông; cừu và bò từ miền núi ngày nào cũng bị lùa xuống. Những kẻ khốn cùng trước vụ cháy còn phải ẩn nấp trong các ngõ hẻm vùng Subura, và thường ngày sống lay lắt vì đói, giờ đây lại có một đời sống dễ chịu hơn. Nạn đói đã hoàn toàn được ngăn chặn, nhưng cướp bóc, giết chóc và những điều lạm dụng thì lại khó dẹp hơn nhiều. Đời sống du mục bảo đảm cho bọn trộm cắp được ung dung vô sự; lại càng dễ hơn vì chúng xưng mình là những kẻ ngưỡng mộ Caesar, và hễ người xuất hiện ở đâu là chúng vỗ tay tung hô ở đó không tiếc lời. Hơn nữa, khi sức ép của biến cố làm cho nhà chức trách gần như tê liệt, khi thiếu hẳn lực lượng vũ trang để đè bẹp sự ngỗ ngược trong một thành phố đầy rẫy cặn bã của nhân loại đương thời, thì đã xảy ra những việc vượt quá sức tưởng tượng của con người. Đêm nào cũng có đánh nhau và án mạng; đêm nào cũng có trẻ trai và đàn bà bị bắt đi. Ở Porta Mugionis, nơi có trạm dừng cho những đàn gia súc lùa từ Campania vào, đã nổ ra những cuộc xung đột khiến hàng trăm người thiệt mạng. Mỗi sáng, bờ sông Tiber lại phủ đầy xác người chết đuối mà chẳng ai thu nhặt; vì hơi nóng bị ngọn lửa làm dữ thêm, chúng phân hủy rất nhanh và làm ô uế cả không khí. Bệnh tật bùng lên trong các bãi trại, và những kẻ nhút nhát hơn thì đã thấy trước một trận ôn dịch lớn.
Nhưng thành phố vẫn cháy không ngơi. Mãi đến ngày thứ sáu, khi ngọn lửa lan tới những khoảng trống trên đồi Esquiline, nơi một số nhà cửa vô cùng lớn đã bị cố ý phá đi, nó mới yếu bớt. Nhưng những đống than hồng cháy rực vẫn tỏa ra ánh sáng mạnh đến nỗi người ta không sao tin được rằng tai ương đã tới hồi kết. Thật vậy, sang đêm thứ bảy, lửa lại bùng lên dữ dội trong các dinh cơ của Tigellinus, nhưng vì thiếu chất đốt nên chỉ kéo dài trong chốc lát. Dẫu vậy, những ngôi nhà đã cháy vẫn còn đổ sập đây đó, tung lên những ngọn tháp lửa và những cột tàn lửa bắn tóe. Song bề mặt các đống đổ nát nung đỏ đã bắt đầu ngả đen. Sau lúc mặt trời lặn, bầu trời không còn rực lên màu máu nữa, và chỉ khi đêm xuống hẳn, những chiếc lưỡi xanh mới run rẩy chập chờn trên khoảng đen mênh mang, vọt lên từ những đống tro than.
Trong mười bốn khu của La Mã chỉ còn lại bốn, kể cả Trans-Tiber. Tất cả những khu khác đều đã bị lửa nuốt trọn. Rốt cuộc, khi những đống than vụn đã hóa hết thành tro, từ sông Tiber tới đồi Esquiline hiện ra một khoảng không gian mênh mông, xám xịt, u ám, chết lặng. Trên khoảng ấy dựng đứng những hàng ống khói, như những cột mốc trên mồ trong một nghĩa địa. Giữa những hàng cột đó, ban ngày những đám đông ủ rũ đi lại, kẻ tìm của quý, người tìm hài cốt của thân nhân. Đêm đến, chó tru trên tro tàn và phế tích của những ngôi nhà xưa.
Tất cả sự ban phát và cứu trợ mà Caesar dành cho dân chúng cũng không ngăn nổi những lời độc địa và cơn phẫn nộ. Chỉ có cái bầy trộm cướp, tội phạm và lưu manh vô gia cư, những kẻ được ăn đủ, uống đủ và cướp đủ, là bằng lòng. Những người mất sạch tài sản và cả những người thân yêu nhất không thể bị mua chuộc bằng việc mở vườn, phát bánh hay hứa hẹn trò diễn cùng quà tặng. Tai họa quá lớn, chưa từng có tiền lệ. Còn những ai vẫn còn giấu kín trong lòng một chút tia yêu mến đối với thành phố và nơi chôn nhau cắt rốn của mình, thì bị xô vào tuyệt vọng bởi tin rằng cái tên xưa “Roma” sẽ biến mất, và từ đống tro của kinh thành, Caesar sẽ dựng lên một thành phố mới mang tên Neropolis. Một trận lũ căm ghét dâng lên và mỗi ngày một cao hơn, bất chấp những lời nịnh bợ của bọn Augustian và những vu cáo của Tigellinus. Nero, nhạy cảm với sự sủng ái của quần chúng hơn bất cứ Caesar nào trước đó, lo sợ rằng trong cuộc vật lộn âm thầm mà chí tử với đám quý tộc La Mã ở Viện nguyên lão, mình có thể sẽ mất chỗ dựa. Chính bọn Augustian cũng chẳng kém phần hoảng hốt, vì bất cứ sáng nào cũng có thể mang đến cho chúng sự diệt vong. Tigellinus nghĩ đến việc triệu một số quân đoàn từ Tiểu Á sang. Vatinius, kẻ bị tát vào mặt cũng còn cười, nay mất cả vẻ khôi hài; Vitelius thì mất cả khẩu vị.
Những kẻ khác lại đang bàn mưu tính kế với nhau để tránh tai vạ, vì không còn là bí mật gì nữa rằng nếu có một cuộc bùng nổ cuốn phăng Caesar đi, thì không một Augustian nào thoát nổi, có lẽ trừ Petronius. Người ta quy cho ảnh hưởng của họ mọi cơn điên loạn của Nero, và quy cho lời xúi giục của họ mọi tội ác hắn gây ra. Lòng căm ghét dành cho họ gần như còn vượt quá lòng căm ghét dành cho Nero. Vì thế, một số kẻ bắt đầu tìm cách gột mình khỏi trách nhiệm về vụ đốt thành. Nhưng muốn tự giải thoát, họ cũng phải giải trừ mối nghi ngờ đối với Caesar, nếu không chẳng ai tin rằng họ không phải là kẻ đã gây nên tai họa ấy. Tigellinus bàn việc này với Domitius Afer, thậm chí cả với Seneca, dẫu y căm ghét ông. Poppaea, hiểu rằng sự sụp đổ của Nero cũng sẽ là bản án của chính mình, đi hỏi ý những kẻ tâm phúc và cả các tư tế Hebrew, vì từ nhiều năm nay người ta vẫn thừa nhận rằng nàng giữ đức tin của Jehovah. Nero thì tìm lấy phương sách riêng, những phương sách thường đáng sợ mà còn thường ngu xuẩn hơn, lúc rơi vào kinh hoàng, lúc lại ngây ngất như trẻ con, nhưng trên hết là hắn than vãn.
Có lần, một cuộc bàn bạc dài dòng mà vô ích đã diễn ra trong ngôi nhà của Tiberius, tòa nhà còn sống sót sau trận hỏa hoạn. Petronius cho rằng nên mặc mặc mọi rối ren, lên đường sang Hy Lạp, rồi từ đó tới Ai Cập và Tiểu Á. Chuyến đi đã được định từ lâu; cớ gì còn trì hoãn, khi ở La Mã chỉ còn buồn thảm và hiểm nguy?
Caesar hồ hởi tán thành lời khuyên ấy; nhưng Seneca, sau một hồi suy nghĩ, nói:
“Đi thì dễ, nhưng trở về sẽ khó hơn nhiều.”
“Nhân Heracles!” Petronius đáp, “ta có thể trở về dẫn đầu các quân đoàn Á châu.”
“Ta sẽ làm thế!” Nero kêu lên.
Nhưng Tigellinus phản đối. Chính y không nghĩ ra được gì cả, và nếu ý kiến của arbiter chợt nảy ra trong đầu y thì không chừng y đã quả quyết đó là phương cứu nguy duy nhất; nhưng với y, vấn đề là không thể để Petronius một lần nữa lại là kẻ duy nhất có thể cứu tất cả mọi người trong lúc nguy nan.
“Xin nghe thần, thần thánh của thần,” y nói, “lời khuyên ấy sẽ đưa tới diệt vong! Trước khi người tới Ostia, nội chiến sẽ bùng nổ; ai biết được có khi một kẻ sống sót nào đó trong hàng hậu duệ bàng hệ của thần Augustus lại tự xưng Caesar, và rồi chúng ta sẽ làm gì nếu các quân đoàn theo phe hắn?”
“Ta sẽ liệu,” Nero đáp, “để không còn hậu duệ nào của Augustus nữa. Giờ cũng chẳng còn bao nhiêu; vậy trừ khử họ là việc dễ.”
“Có thể làm thế, nhưng có phải chỉ có họ thôi đâu? Mới hôm qua, người của thần còn nghe giữa đám đông rằng một người như Thrasea mới đáng làm Caesar.”
Nero cắn môi. Một lúc sau hắn ngước mắt lên và nói: “Tham lam và vô ơn. Chúng đã có đủ ngũ cốc, lại có cả than để nướng bánh; chúng còn muốn gì nữa?”
“Báo thù!” Tigellinus đáp.
Im lặng bao trùm. Bỗng Caesar đứng bật dậy, duỗi tay ra và bắt đầu ngâm nga:
“Những trái tim kêu đòi báo thù, mà báo thù thì cần một vật tế.” Rồi quên bẵng mọi sự, hắn nói, mặt rạng rỡ: “Đưa bảng viết và bút nhọn cho ta chép câu này. Lucan cũng chẳng bao giờ làm nổi một câu như thế. Các ngươi có để ý không, ta nghĩ ra nó chỉ trong nháy mắt!”
“Ôi, vô song!” nhiều tiếng đồng thanh kêu lên. Nero chép câu ấy xuống rồi nói:
“Phải, báo thù cần một vật tế.” Rồi hắn liếc nhìn quanh những kẻ có mặt. “Nhưng nếu ta tung tin rằng Vatinius đã ra lệnh đốt thành, rồi nộp hắn cho cơn giận của dân chúng thì sao?”
“Ôi thần thánh! Thần là ai kia chứ?” Vatinius kêu lên.
“Đúng! Cần một kẻ quan trọng hơn ngươi. Có phải Vitelius không?”
Vitelius tái mặt, nhưng vẫn phá lên cười.
“Đống mỡ của thần,” hắn đáp, “biết đâu lại làm ngọn lửa bốc lên lần nữa.”
Nhưng Nero đang nghĩ đến chuyện khác; trong lòng hắn, hắn đi tìm một vật tế có thể thật sự làm nguôi cơn giận của dân chúng, và hắn đã tìm thấy.
“Tigellinus,” hắn nói sau một lúc, “chính ngươi đã đốt La Mã!” Một cơn rùng mình chạy qua những người có mặt. Họ hiểu rằng lần này Caesar không còn nói đùa nữa, và một khoảnh khắc đầy thai nghén biến cố đã đến.
Mặt Tigellinus nhăn rúm lại, như mõm một con chó sắp cắn.
“Thần đã đốt La Mã theo lệnh của người!” y nói.
Và hai kẻ nhìn chằm chằm vào nhau như một cặp quỷ dữ. Sự im lặng tiếp đó sâu đến nỗi người ta nghe cả tiếng ruồi vo ve khi chúng bay qua atrium.
“Tigellinus,” Nero nói, “ngươi có yêu ta không?”
“Chúa thượng biết mà.”
“Hãy hiến mình vì ta.”
“Ôi Caesar thần thánh,” Tigellinus đáp, “sao người lại trao ra chén ngọt mà thần không được phép nâng lên môi? Dân chúng đang lầm bầm và nổi dậy; người còn muốn cả bọn pretorian cũng nổi dậy nữa sao?”
Một nỗi kinh hoàng đè nặng lên tim những kẻ hiện diện. Tigellinus là pháp quan chỉ huy đội pretorian, và lời y mang nghĩa trực tiếp của một sự đe dọa. Chính Nero cũng hiểu điều ấy, mặt hắn bỗng tái nhợt.
Đúng lúc ấy Epaphroditus, người nô lệ được giải phóng của Caesar, bước vào, báo rằng nữ Augusta thần thánh muốn gặp Tigellinus, vì trong khu phòng của nàng có những người mà vị prefect cần phải nghe.
Tigellinus cúi mình trước Caesar rồi đi ra, mặt bình thản và khinh miệt. Khi người ta muốn đánh y, y đã nhe răng; y đã cho họ hiểu y là ai, và vì biết tính hèn nhát của Nero, y tin chắc rằng kẻ cai trị thế giới ấy sẽ không bao giờ dám giơ tay chống lại mình.
Nero ngồi lặng trong chốc lát; rồi thấy mọi người chờ một lời nào đó ở mình, hắn nói:
“Ta đã nuôi một con rắn trong ngực.”
Petronius nhún vai, như muốn bảo rằng bứt đầu một con rắn như thế đâu có khó.
“Ngươi nói gì? Nói đi, cho ta lời khuyên!” Nero kêu lên, để ý thấy cử động ấy. “Ta chỉ tin mỗi ngươi thôi, vì ngươi có đầu óc hơn tất cả bọn họ, và ngươi yêu ta.”
Petronius đã có sẵn trên môi câu này: “Hãy cho thần làm prefect đội pretorian, thần sẽ nộp Tigellinus cho dân chúng và dẹp yên thành phố chỉ trong một ngày.” Nhưng sự lười biếng bẩm sinh của ông lại thắng. Làm prefect nghĩa là phải vác trên vai con người của Caesar cùng với hàng nghìn công việc công. Mà vì sao ông phải gánh lấy nhọc nhằn ấy? Há chẳng tốt hơn sao nếu được đọc thơ trong thư viện huy hoàng của mình, ngắm những chiếc bình và pho tượng, hay ôm vào ngực thân thể thần tiên của Eunice, luồn những ngón tay qua mái tóc vàng của nàng và cúi môi xuống đôi môi san hô? Vì thế ông nói:
“Thần khuyên nên đi Achaea.”
“A!” Nero đáp, “ta chờ ở ngươi nhiều hơn thế. Viện nguyên lão ghét ta. Nếu ta ra đi, ai dám bảo đảm rằng nó sẽ không làm loạn rồi tôn ai khác làm Caesar? Dân chúng tới nay vẫn trung thành với ta, nhưng lúc này chúng sẽ theo Viện nguyên lão. Nhân Hades! giá như cái Viện nguyên lão ấy và cái đám dân ấy chỉ có một cái đầu!...”
“Xin cho thần được thưa, ôi thần thánh, rằng nếu người muốn cứu La Mã, thì cũng cần cứu lấy dẫu chỉ vài người La Mã,” Petronius mỉm cười nhận xét.
“Ta cần gì La Mã với người La Mã?” Nero than phiền. “Ở Achaea người ta sẽ vâng lời ta. Chỉ ở đây phản nghịch mới vây quanh ta. Tất cả đều bỏ ta, và các ngươi cũng đang sửa soạn phản ta. Ta biết, ta biết. Các ngươi thậm chí không tưởng nổi hậu thế sẽ nói gì về các ngươi nếu các ngươi bỏ rơi một nghệ sĩ như ta.”
Đến đây bỗng hắn gõ vào trán mình và kêu lên:
“Phải! Giữa bao nỗi lo này, đến ta cũng quên mất ta là ai.”
Rồi hắn quay sang Petronius, mặt sáng rỡ.
“Petronius,” hắn nói, “dân chúng lẩm bẩm; nhưng nếu ta cầm đàn lute ra Campus Martius, nếu ta hát cho chúng nghe khúc ca mà ta đã hát giữa trận hỏa hoạn, ngươi có nghĩ rằng ta sẽ làm chúng cảm động như Orpheus từng làm cảm động thú hoang không?”
Tullius Senecio, kẻ đang sốt ruột muốn trở về với đám nữ nô lệ vừa được đưa từ Antium tới, và đã sốt ruột từ lâu, bèn đáp:
“Không còn nghi ngờ gì nữa, ôi Caesar, nếu họ cho người bắt đầu.”
“Ta hãy sang Hellas thôi!” Nero chán chường kêu lên.
Nhưng đúng lúc ấy Poppaea xuất hiện, và cùng với nàng là Tigellinus. Mắt những người có mặt vô thức đổ dồn về phía y, vì chưa từng có một người khải hoàn nào bước lên đồi Capitol với niềm kiêu hãnh như y lúc này khi đứng trước mặt Caesar. Y bắt đầu nói chậm rãi và nhấn từng tiếng, bằng một giọng như có vết cắn của sắt thép:
“Hãy nghe đây. Ôi Caesar, vì thần có thể nói: thần đã tìm ra! Dân chúng muốn báo thù, chúng không muốn một vật tế, mà muốn hàng trăm, hàng nghìn. Chúa thượng có nghe nói Christos là ai không, người đã bị Pontius Pilate đóng đinh ấy? Và chúa thượng có biết các Kitô hữu là ai không? Thần đã chẳng kể cho chúa thượng nghe về những tội ác và nghi lễ ghê tởm của họ, về những lời tiên báo của họ rằng lửa sẽ mang ngày tận thế đến sao? Dân chúng căm ghét và ngờ vực họ. Chưa từng ai thấy họ trong một ngôi đền nào, vì họ coi các thần của chúng ta là tà linh; họ cũng không có mặt ở trường đua, vì họ khinh bỉ những cuộc đua ngựa. Chưa bao giờ bàn tay một người Kitô hữu tôn vinh người bằng tiếng vỗ tay. Chưa bao giờ một kẻ trong bọn họ nhận người là thần. Họ là kẻ thù của loài người, của thành phố, và của chính người. Dân chúng đang lầm bầm chống lại người; nhưng người đã không hề ra lệnh cho thần đốt La Mã, và thần cũng không đốt nó. Dân chúng muốn báo thù; cứ cho chúng báo thù. Dân chúng muốn máu và trò diễn; cứ cho chúng máu và trò diễn. Dân chúng nghi người; hãy khiến nỗi nghi ngờ ấy quay sang một hướng khác.”
Thoạt tiên, Nero lắng nghe với vẻ kinh ngạc; nhưng khi Tigellinus nói tiếp, gương mặt diễn viên của hắn đổi khác, lần lượt hiện lên những nét giận dữ, đau buồn, cảm thông, phẫn nộ. Bỗng nhiên hắn đứng bật dậy, giũ phăng toga để mặc nó rơi xuống dưới chân, đoạn giơ cả hai tay lên và đứng lặng một lúc. Cuối cùng hắn cất tiếng, bằng giọng của một kép bi kịch:
“Ôi Zeus, Apollo, Hera, Athene, Persephone, cùng tất cả chư vị bất tử! Sao các ngài đã không đến cứu giúp chúng ta? Thành phố bất hạnh này đã làm gì những kẻ tàn ác kia mà chúng đốt phá nó dã man đến thế?”
“Chúng là kẻ thù của loài người và của cả ngài,” Poppaea nói.
“Hãy thi hành công lý!” những kẻ khác kêu lên. “Trừng phạt bọn phóng hỏa! Chính các thần linh cũng đòi báo oán!”
Nero ngồi xuống, gục đầu lên ngực, rồi lại im lặng lần thứ hai, như thể bị choáng váng trước sự độc ác mà hắn vừa nghe kể. Nhưng một lúc sau hắn vung hai tay lên và nói:
“Hình phạt nào, cực hình nào mới xứng với một tội ác như thế? Nhưng các thần sẽ soi trí cho ta, và được các quyền lực nơi Tartarus trợ giúp, ta sẽ ban cho dân nghèo của ta một cảnh tượng khiến họ còn nhớ đến ta với lòng biết ơn qua bao thế kỷ.”
Một đám mây sa sầm chợt phủ lên trán Petronius. Ông nghĩ tới mối hiểm họa đang treo trên đầu Lygia và Vinicius, người ông yêu quý, và trên đầu tất cả những con người có tôn giáo mà ông bác bỏ nhưng sự vô tội của họ thì ông tin chắc. Ông cũng nghĩ rằng một trong những cuộc cuồng hoan đẫm máu kia sắp bắt đầu, thứ mà đôi mắt của ông, đôi mắt của một con người duy mỹ, không sao chịu nổi. Nhưng trên hết ông nghĩ: “Ta phải cứu Vinicius, kẻ sẽ hóa điên nếu thiếu nữ ấy chết mất”; và ý nghĩ ấy lấn át mọi điều khác, bởi Petronius hiểu quá rõ rằng ông sắp bước vào một cuộc chơi nguy hiểm hơn bất cứ cuộc nào trong đời mình. Tuy vậy, ông bắt đầu lên tiếng một cách thản nhiên và bông lơn, như thói quen mỗi khi phê phán hoặc giễu cợt những kế hoạch của Caesar và đám Augustiani không đủ tính thẩm mỹ:
“Các ngài đã tìm ra vật tế thần! Điều ấy đúng. Các ngài có thể tống họ vào đấu trường, hoặc mặc cho họ những ‘áo chẽn đau đớn’. Điều ấy cũng đúng. Nhưng hãy nghe tôi! Các ngài có quyền hành, có đội cấm vệ, có sức mạnh; vậy thì ít nhất hãy thành thực với nhau khi không có ai nghe thấy! Hãy lừa dân chúng, nhưng đừng lừa dối lẫn nhau. Hãy giao các Kitô hữu cho đám đông, hãy kết án họ vào bất cứ cực hình nào các ngài muốn; nhưng hãy đủ can đảm để tự nhủ rằng không phải họ đã đốt thành Rome. Phì! Các ngài gọi tôi là ‘arbiter elegantiarum’; vậy tôi xin tuyên bố với các ngài rằng tôi không chịu nổi những trò hài kịch tồi tệ! Phì! Toàn bộ chuyện này khiến tôi nhớ đến những sân khấu xập xệ gần Porta Asinaria, nơi bọn đào kép đóng vai thần thánh và vua chúa để mua vui cho lũ dân ngoại ô, rồi khi màn diễn chấm dứt thì dùng rượu chua nuốt hành tây, hoặc lĩnh dùi cui vào người! Hãy là thần thánh và vua chúa cho ra thần thánh và vua chúa thật sự; vì tôi nói rằng các ngài có thể cho phép mình ở vào địa vị ấy! Còn ngài, ôi Caesar, ngài đã đe chúng ta bằng phán quyết của các thời đại mai sau; nhưng xin hãy nghĩ rằng chính các thời đại ấy cũng sẽ phán xét ngài. Nhân danh Clio thần thánh! Nero, người trị vì thế giới, Nero, một vị thần, đã đốt thành Rome, bởi hắn quyền năng dưới đất cũng như Zeus trên đỉnh Olympus, Nero thi sĩ yêu thơ đến mức hiến tế cả quê hương mình cho thi ca! Từ buổi khai thiên lập địa chưa từng có ai làm như thế, chưa từng có ai dám làm như thế. Tôi van ngài nhân danh các Libethrides đội hai vòng hoa, xin đừng từ bỏ vinh quang ấy, vì những khúc ca về ngài sẽ vang vọng đến tận cùng các thời đại! Priam sẽ là gì so với ngài; Agamemnon là gì; Achilles là gì; ngay cả các thần linh thì là gì? Chúng ta không cần nói rằng việc thiêu rụi Rome là tốt đẹp, nhưng nó vĩ đại và phi thường. Hơn nữa, tôi còn nói với ngài rằng dân chúng sẽ không hề giơ tay chống lại ngài! Không phải thế đâu. Hãy can đảm lên; hãy giữ mình khỏi những hành vi không xứng với ngài, vì chỉ có điều này mới đe dọa ngài thôi: rằng các thời đại mai sau có thể nói, ‘Nero đã đốt thành Rome; nhưng vì là một Caesar nhút nhát và một thi sĩ nhút nhát, hắn đã chối bỏ hành vi vĩ đại ấy vì sợ hãi, và trút tội lên đầu những người vô tội!’”
Những lời của vị arbiter gây nơi Nero ấn tượng sâu đậm như thường lệ; nhưng Petronius không hề tự dối mình về điều này, rằng những gì ông vừa nói là một phương kế liều lĩnh, may ra có thể cứu được các Kitô hữu, nhưng còn dễ đưa chính ông đến chỗ diệt vong hơn nữa. Tuy vậy ông đã chẳng do dự, vì cùng một lúc đó là chuyện của Vinicius, người ông yêu quý, và của chính sự may rủi vốn là thứ tiêu khiển của ông. “Xúc xắc đã ném rồi,” ông tự nhủ, “và rồi ta sẽ thấy ở con khỉ kia nỗi sợ cho mạng sống của nó nặng hơn tình yêu vinh quang đến mức nào.”
Và trong thâm tâm, ông không hề nghi ngờ rằng nỗi sợ sẽ lấn át.
Trong khi đó, sau lời ông, im lặng đổ xuống. Poppaea cùng tất cả những kẻ có mặt đều nhìn vào mắt Nero như nhìn một cầu vồng. Hắn bắt đầu nhếch môi, kéo chúng lên tận lỗ mũi, theo thói quen của hắn mỗi khi không biết phải làm gì; cuối cùng, sự ghê tởm và bối rối hiện rõ trên nét mặt hắn.
“Thưa ngài,” Tigellinus kêu lên khi nhận thấy điều ấy, “xin cho thần lui đi; bởi khi có kẻ muốn đẩy thân ngài vào chỗ diệt vong, lại còn gọi ngài là một Caesar hèn nhát, một thi sĩ hèn nhát, một kẻ phóng hỏa và một tên hề, thì tai thần không sao chịu nổi những lời lẽ như thế!”
“Ta thua rồi,” Petronius nghĩ. Nhưng quay sang Tigellinus, ông đo hắn bằng một cái liếc mang nặng thứ khinh miệt mà một đại quý tộc tinh tế dành cho một tên du côn.
“Tigellinus,” ông nói, “chính ngươi là kẻ ta gọi là tên hề; bởi ngay lúc này ngươi đang diễn trò đó.”
“Vì ta không chịu nghe những lời sỉ nhục của ngươi ư?”
“Vì ngươi đang giả vờ yêu Caesar vô bờ bến, hỡi kẻ cách đây chưa lâu còn đe dọa người bằng đội cấm vệ, điều mà tất cả chúng ta đều hiểu, cũng như chính người hiểu vậy!”
Tigellinus, kẻ không ngờ Petronius lại đủ táo bạo để ném những quân xúc xắc như thế lên bàn, tái mét, mất hết bình tĩnh và cứng lưỡi. Tuy nhiên, đó là chiến thắng cuối cùng của vị arbiter trước địch thủ của mình, vì đúng lúc ấy Poppaea lên tiếng:
“Thưa ngài, sao có thể dung thứ cho một ý nghĩ như thế chỉ thoáng qua trong đầu bất cứ ai, lại càng không thể dung thứ cho việc có kẻ dám thốt hẳn nó ra trước mặt ngài!”
“Trừng phạt kẻ ngạo mạn ấy đi!” Vitelius thét lên.
Nero lại kéo môi lên tận lỗ mũi, rồi đưa đôi mắt đờ đẫn, cận thị như bằng kính nhìn Petronius và nói:
“Đây là cách ngươi đáp lại tình bằng hữu mà ta từng dành cho ngươi sao?”
“Nếu tôi lầm, xin ngài chỉ cho tôi chỗ lầm,” Petronius đáp; “nhưng xin ngài biết rằng tôi nói điều mà tình yêu đối với ngài mách bảo.”
“Trừng phạt kẻ ngạo mạn ấy đi!” Vitelius lặp lại.
“Trừng phạt!” nhiều tiếng khác phụ họa.
Trong atrium nổi lên tiếng xào xạc và một làn chuyển động, vì người ta bắt đầu tránh xa Petronius. Cả Tullius Senecio, bạn đồng hành thường trực của ông nơi triều đình, cũng lùi ra, cũng như chàng Nerva trẻ tuổi, người trước đó vẫn tỏ cho ông tình thân hữu lớn nhất. Một lúc sau, Petronius đứng một mình ở phía trái atrium, nụ cười vẫn trên môi; và vừa thu các nếp toga lại bằng tay, ông vừa chờ xem Caesar sẽ còn nói hay làm gì nữa.
“Các ngươi muốn ta trừng phạt ông ấy ư?” Caesar nói. “Nhưng ông ấy là bạn và là bạn đồng liêu của ta. Dù ông ấy đã làm trái tim ta bị thương, hãy để ông ấy biết rằng đối với bằng hữu, trái tim này chẳng có gì ngoài sự tha thứ.”
“Ta thua rồi, và tiêu mất rồi,” Petronius nghĩ.
Trong khi đó Caesar đứng dậy, và cuộc nghị bàn chấm dứt.