Trên sa mạc và trong rừng thẳm — Chương 1
Chương 1 / 46 · Bài review Trên sa mạc và trong rừng thẳm
“Nell này,” Stas Tarkowski nói với cô bạn nhỏ người Anh, “em có biết hôm qua cảnh sát đã đến bắt vợ của Smain, viên quản đốc, cùng ba đứa con của bà ta không — chính Fatma ấy, người đã mấy lần đến văn phòng gặp cha em và cha anh.”
Nell bé nhỏ, xinh đẹp như một bức tranh, ngước đôi mắt phớt xanh lên Stas, vừa ngạc nhiên vừa sợ hãi hỏi:
“Họ đưa bà ấy vào tù ư?”
“Không, nhưng họ sẽ không để bà ta sang Sudan; một viên chức đã đến để canh chừng, không cho bà ta bước chân nào ra khỏi Port Said.”
“Tại sao?”
Stas, mới mười bốn tuổi và rất yêu cô bạn tám tuổi, tuy vẫn coi nàng chỉ là một đứa trẻ con, ra vẻ tự phụ nói:
“Đến tuổi anh, em sẽ biết mọi chuyện xảy ra không những dọc Kênh đào từ Port Said đến Suez, mà khắp nước Ai Cập. Em đã từng nghe nói về Mahdi chưa?”
“Em nghe nói ông ta xấu xí và hư hỏng.”
Cậu bé mỉm cười thương hại.
“Anh không biết ông ta có xấu không. Người Sudan bảo ông ta đẹp trai. Nhưng gọi một kẻ đã giết biết bao người là ‘hư hỏng’ thì chỉ một bé gái tám tuổi, mặc váy — ôi — dài đến đầu gối, mới gọi thế thôi.”
“Cha em bảo thế, mà cha em biết rõ nhất.”
“Cha em nói thế vì nếu không em sẽ chẳng hiểu. Với anh, cha không nói kiểu ấy. Mahdi còn tệ hơn cả một đàn cá sấu. Em hiểu chưa? Với anh, ấy mới là cách nói đúng. ‘Hư hỏng!’ Người ta chỉ nói thế với trẻ con còn bế ngửa.”
Nhưng thấy nét mặt cô bé sa sầm, cậu im lặng, rồi sau đó nói:
“Nell, em biết là anh không muốn làm em buồn. Rồi sẽ đến lúc em mười bốn tuổi. Anh xin hứa chắc với em điều ấy.”
“A ha!” nàng đáp, vẻ lo lắng, “nhưng nhỡ trước khi đến lúc ấy Mahdi xông vào Port Said rồi ăn thịt em thì sao.”
“Mahdi không phải kẻ ăn thịt người, nên ông ta không ăn ai cả. Ông ta chỉ giết thôi. Ông ta sẽ không xông vào Port Said; mà dẫu có xông vào và muốn giết em, trước hết ông ta phải đối mặt với anh đã.”
Lời tuyên bố ấy, kèm theo cái hít mũi của Stas, chẳng báo điềm lành gì cho Mahdi, và khiến Nell yên lòng hơn nhiều về phần mình.
“Em biết,” nàng đáp, “anh sẽ không để ông ta làm hại em. Nhưng tại sao họ không cho Fatma rời Port Said?”
“Vì Fatma là chị em họ của Mahdi. Chồng bà ta, Smain, đã đề nghị với Chính phủ Ai Cập ở Cairo rằng ông ta sẽ sang Sudan, nơi Mahdi đang ở, để giành tự do cho toàn thể người châu Âu đã rơi vào tay ông ta.”
“Vậy Smain là người tốt ư?”
“Khoan đã! Cha em và cha anh, vốn biết Smain rất rõ, không tin cậy hắn và đã cảnh báo Nubar Pasha đừng tin hắn. Nhưng Chính phủ vẫn đồng ý phái Smain đi, và Smain ở với Mahdi hơn nửa năm. Tù nhân chẳng những không trở về mà từ Khartum còn có tin rằng phe Mahdi đối đãi với họ ngày một tàn bạo hơn, và Smain, sau khi nhận tiền của Chính phủ, đã thành kẻ phản bội. Hắn nhập vào quân Mahdi và được phong emir. Người ta nói rằng trong trận đánh khủng khiếp mà tướng Hicks tử trận, Smain chỉ huy pháo binh của Mahdi, và có lẽ chính hắn đã dạy quân Mahdi cách sử dụng đại bác — thứ mà trước đó họ, những người man dã, không biết dùng. Nhưng giờ Smain nóng lòng muốn đưa vợ con ra khỏi Ai Cập. Vì thế, khi Fatma, hiển nhiên đã biết trước Smain định làm gì, toan bí mật rời Port Said, Chính phủ liền bắt bà ta cùng các con.”
“Nhưng Fatma và các con bà ấy có ích gì cho Chính phủ?”
“Chính phủ sẽ nói với Mahdi: ‘Trao tù nhân cho chúng tôi, chúng tôi sẽ giao Fatma.’”
Câu chuyện tạm ngừng, vì sự chú ý của Stas bị những đàn chim bay từ phía Echtum om Farag về hồ Menzaleh thu hút. Chúng bay rất thấp; trong bầu không khí trong veo, có thể thấy rõ mấy con bồ nông gáy cong, chầm chậm vỗ đôi cánh khổng lồ. Stas tức khắc bắt chước dáng bay của chúng. Ngửa đầu, cậu chạy dọc con đê chừng hai chục bước, vung vẩy hai cánh tay dang rộng.
“Kìa!” Nell bỗng kêu lên. “Hồng hạc cũng đang bay.”
Stas lập tức đứng lại, vì quả thật phía sau đàn bồ nông, nhưng cao hơn một chút, hiện ra như treo lơ lửng giữa trời hai đóa hoa lớn màu đỏ tía.
“Hồng hạc! Hồng hạc! Trước đêm xuống chúng bay về chỗ trú trên những đảo nhỏ,” cậu bé nói. “Ôi, giá mà anh có một khẩu súng trường!”
“Anh bắn chúng làm gì?”
“Con gái chẳng hiểu những chuyện ấy. Nhưng ta đi tiếp đi; biết đâu còn trông thấy nhiều hơn.”
Nói đoạn, cậu nắm tay cô bé, và cả hai cùng thong thả đi về phía cầu tàu đầu tiên bên ngoài Port Said. Dinah, một người đàn bà da đen từng làm vú nuôi của Nell, bám sát theo sau. Họ đi trên con đắp ngăn nước hồ Menzaleh với Kênh đào; lúc ấy một chiếc tàu hơi nước lớn của Anh, do một hoa tiêu điều khiển, đang trôi qua kênh. Đêm đang đến gần. Mặt trời còn khá cao, nhưng đã lăn dần về phía hồ. Nước mặn của hồ bắt đầu lấp lánh ánh vàng và rung động những sắc phản chiếu như lông đuôi công. Trên bờ Ả Rập, sa mạc cát vàng sẫm trải dài đến tận cùng tầm mắt — buồn tẻ, ghê gớm, không một dấu hiệu sự sống. Giữa bầu trời trong như thủy tinh, tưởng chừng nửa chết, và biển cát mênh mông nhăn nheo, chẳng thấy bóng một sinh vật nào. Trong khi trên Kênh đào sự sống cuồn cuộn, thuyền bè tấp nập, còi tàu hơi nước vang lên, và trên Menzaleh từng đàn mòng biển cùng vịt trời lấp lánh dưới nắng, thì bên kia, trên bờ Ả Rập, dường như là cõi chết. Chỉ khi mặt trời hạ dần, đỏ hơn mãi, cát mới bắt đầu mang màu hoa huệ, như màu thạch nam trong rừng Ba Lan vào mùa thu.
Trên đường tới cầu tàu, bọn trẻ còn thấy vài con hồng hạc nữa, đẹp mắt vô cùng. Sau đó Dinah bảo Nell phải về nhà. Ở Ai Cập, sau những ngày mà ngay cả mùa đông cũng thường nóng như thiêu, là những đêm rất lạnh; sức khỏe của Nell cần được gìn giữ cẩn thận, nên cha nàng, ông Rawlinson, không cho nàng ở gần nước sau khi mặt trời lặn. Thế là họ quay về thành phố, nơi biệt thự của ông Rawlinson đứng ở rìa đô thị, gần Kênh đào; và khi mặt trời vừa chìm xuống biển, họ đã về đến nhà. Chẳng bao lâu, kỹ sư Tarkowski, cha Stas, người được mời dùng bữa tối, đến nơi; cả nhà cùng cô giáo người Pháp của Nell, bà Olivier, ngồi vào bàn.
Ông Rawlinson, một trong các giám đốc Công ty Kênh đào Suez, và Ladislaus Tarkowski, kỹ sư trưởng của cùng công ty ấy, đã nhiều năm gắn bó thân thiết. Cả hai đều góa vợ; nhưng bà Tarkowski, người Pháp theo gốc gác, mất đúng vào lúc Stas chào đời, còn mẹ Nell chết vì bệnh lao ở Helwan khi cô bé lên ba. Hai người góa vợ sống trong hai ngôi nhà kề nhau tại Port Said, và vì công việc, ngày nào cũng gặp mặt. Nỗi bất hạnh chung kéo họ lại gần nhau hơn và thắt chặt tình bạn đã sẵn có. Ông Rawlinson yêu Stas như con ruột, còn ông Tarkowski sẵn sàng nhảy vào lửa vào nước vì Nell bé nhỏ. Sau khi xong công việc mỗi ngày, thú tiêu khiển dễ chịu nhất của họ là chuyện trò về bọn trẻ, việc học hành và tương lai của chúng. Trong những cuộc trò chuyện ấy, thường khi ông Rawlinson ca ngợi tài năng, nghị lực và lòng dũng cảm của Stas, còn ông Tarkowski lại say sưa nói về vẻ dịu dàng cùng gương mặt thiên thần của Nell. Cả hai đều nói thật. Stas hơi tự phụ và hơi khoác lác, nhưng chăm học; các thầy giáo ở trường Anh tại Port Said, nơi cậu theo học, đều công nhận cậu có năng khiếu khác thường. Còn về lòng can đảm và sự tháo vát, cậu thừa hưởng từ cha, bởi ông Tarkowski có những phẩm chất ấy ở mức xuất chúng, và phần lớn nhờ chúng mà ông đạt được địa vị hiện thời.
Năm 1863, ông chiến đấu không ngừng suốt mười một tháng. Sau đó, bị thương, bị bắt và bị kết án đày đi Siberia, ông trốn thoát từ nội địa nước Nga, tìm đường ra xứ người. Trước khi tham gia cuộc khởi nghĩa, ông đã là một kỹ sư có bằng cấp; vậy mà ông vẫn dành thêm một năm để học thủy lực học. Về sau ông tìm được một chân trong Công ty Kênh đào, và chỉ trong ít năm, khi kiến thức chuyên môn, nghị lực và sự siêng năng của ông được biết đến, ông đảm nhận chức vụ quan trọng là kỹ sư trưởng.
Stas sinh ra, lớn lên và tròn mười bốn tuổi ở Port Said bên Kênh đào; bởi thế các kỹ sư gọi cậu là đứa con của sa mạc. Về sau, khi đi học, vào những kỳ nghỉ và ngày lễ, cậu đôi khi theo cha hoặc ông Rawlinson trong các chuyến đi mà công việc bắt buộc họ phải thực hiện từ Port Said đến Suez, để kiểm tra công trình trên đê hoặc việc nạo vét lòng Kênh đào. Cậu biết tất cả mọi người — từ kỹ sư, viên chức hải quan đến công nhân, người Ả Rập và người da đen. Cậu lăng xăng khắp nơi, luồn lách vào mọi chỗ, xuất hiện đúng ở nơi ít ai ngờ nhất; cậu đi xa trên đê, chèo thuyền khắp hồ Menzaleh, đôi khi mạo hiểm đi rất xa. Cậu sang bờ Ả Rập, cưỡi con ngựa đầu tiên gặp được; không có ngựa thì cưỡi lạc đà, hoặc cả lừa nữa, rồi bắt chước Farys* [* Farys, người anh hùng trong bài thơ phương Đông cùng tên của Adam Mickiewicz. — _Chú thích của người dịch_.] giữa sa mạc; tóm lại, như lời ông Tarkowski, “nó cứ hiện ra ở đâu đó luôn,” và từng phút rảnh ngoài giờ học cậu đều ở trên mặt nước.
Cha cậu không ngăn cản, vì biết chèo thuyền, cưỡi ngựa và sống liên tục ngoài không khí trong lành sẽ làm sức khỏe cậu thêm vững, đồng thời rèn luyện sự tháo vát. Quả vậy, Stas cao lớn và khỏe mạnh hơn phần đông con trai cùng tuổi. Chỉ cần nhìn vào mắt cậu là đủ đoán rằng nếu gặp phiêu lưu, cậu dễ phạm sai lầm vì quá bạo dạn hơn là vì nhút nhát. Năm mười bốn tuổi, cậu đã là một trong những tay bơi giỏi nhất Port Said — điều ấy chẳng hề nhỏ, vì người Ả Rập và người da đen bơi như cá. Bắn súng carbine cỡ nòng nhỏ, chỉ dùng đạn thường, để săn vịt trời và ngỗng Ai Cập, cậu luyện được con mắt chính xác cùng bàn tay vững vàng. Ước mơ của cậu là một ngày nào đó săn thú lớn ở Trung Phi. Vì thế cậu hăm hở nghe những câu chuyện của người Sudan làm việc trên Kênh đào, những người từng gặp ở quê hương mình các loài thú lớn, da dày và hung dữ.
Điều ấy cũng có ích, bởi đồng thời cậu học được ngôn ngữ của họ. Đào xong Kênh đào Suez vẫn chưa đủ; còn phải duy tu nó, bằng không cát từ những sa mạc nằm hai bên bờ sẽ lấp đầy kênh chỉ trong một năm. Công trình vĩ đại của De Lesseps đòi hỏi lao động và canh chừng không ngừng. Ngày nay cũng vậy, những cỗ máy mạnh mẽ dưới sự giám sát của các kỹ sư lành nghề, cùng hàng nghìn công nhân, vẫn đang làm việc để nạo vét lòng kênh. Khi đào Kênh đào, hai mươi lăm nghìn người đã lao động. Ngày nay, do công việc đã hoàn thành và máy móc mới được cải tiến, số người cần đến ít hơn đáng kể. Tuy nhiên, con số ấy vẫn rất lớn. Trong số họ, dân bản địa chiếm phần đông. Nhưng cũng không thiếu người Nubia, người Sudan, người Somali và nhiều người da đen khác từ sông Nile Trắng, sông Nile Xanh — tức từ miền mà trước cuộc khởi nghĩa Mahdi, Chính phủ Ai Cập còn chiếm giữ. Stas sống thân tình với tất cả, và nhờ năng khiếu học ngôn ngữ khác thường vốn thường thấy ở người Ba Lan, chính cậu cũng không biết từ bao giờ, đã làm quen với nhiều phương ngữ của họ. Sinh ở Ai Cập, cậu nói tiếng Ả Rập như người Ả Rập. Từ người Zanzibar, nhiều người trong số đó làm thợ đốt lò trên các tàu nạo vét chạy hơi nước, cậu học tiếng Kiswahili, một ngôn ngữ phổ biến khắp Trung Phi. Cậu thậm chí còn có thể trò chuyện với người da đen thuộc các bộ tộc Dinka và Shilluk, sống bên sông Nile phía dưới Fashoda. Ngoài ra, cậu nói trôi chảy tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Ba Lan; bởi cha cậu, một người yêu nước nồng nhiệt, hết sức mong con trai mình biết ngôn ngữ tổ tiên. Stas thực lòng coi đó là ngôn ngữ đẹp nhất thế giới và, không phải không thành công, dạy nó cho Nell bé nhỏ. Chỉ có một điều cậu không làm được: khiến nàng phát âm tên cậu là Stas chứ không phải “Stes”. Đôi khi vì chuyện ấy mà hai đứa hiểu lầm nhau, mãi đến khi nước mắt lấp lánh trong mắt cô bé. Bấy giờ “Stes” sẽ xin nàng tha thứ và tức giận với chính mình.
Tuy nhiên, cậu có thói quen khó chịu là hay xem nhẹ tuổi lên tám của nàng và đem tuổi tác cùng kinh nghiệm đáng trọng của mình ra đối chiếu. Cậu cho rằng một cậu con trai sắp hết tuổi mười bốn, nếu chưa hoàn toàn trưởng thành, thì ít nhất cũng không còn là trẻ con, trái lại, đủ sức làm mọi việc anh hùng — nhất là khi trong người mang dòng máu Ba Lan và Pháp. Cậu hết lòng mong mỏi một ngày kia có dịp làm những việc ấy, đặc biệt là để bảo vệ Nell. Cả hai bày ra đủ thứ hiểm nguy, và Stas buộc phải trả lời những câu hỏi của nàng rằng cậu sẽ làm gì nếu, chẳng hạn, một con cá sấu dài mười yard, hay một con bọ cạp lớn bằng con chó, bò qua cửa sổ nhà nàng. Chẳng phút nào cả hai nghĩ rằng thực tại sắp ập đến sẽ vượt xa mọi giả định hoang đường của chúng.