Chuyện rừng xanh — Chương 7: Chú hải cẩu trắng
Chương 7 / 14 · Bài review Chuyện rừng xanh
À ơi! Im nhé, con thơ, đêm đã lùi sau chúng ta, Và đen thẳm làn nước từng lấp lánh xanh ngời. Trăng vượt đầu sóng bạc, cúi nhìn tìm mẹ con ta Đang yên nằm trong hõm nước rì rào đôi bên. Nơi lớp sóng gặp lớp sóng, gối con êm dịu nhé, Ôi chú bé chân chèo mỏi mệt, cứ cuộn mình thảnh thơi! Bão giông chẳng đánh thức con, cá mập không đuổi kịp con, Khi con ngủ trong vòng tay biển cả đong đưa khoan thai!
Khúc ru hải cẩu
Mọi chuyện này xảy ra cách đây nhiều năm tại một nơi gọi là Novastoshnah, hay Mũi Đông Bắc, trên đảo St. Paul, tít ngoài biển Bering xa xôi. Limmershin, chú hồng tước mùa đông, đã kể tôi nghe câu chuyện khi bị gió cuốn lên giàn dây của một chiếc tàu hơi nước đang đi Nhật Bản. Tôi đem chú xuống khoang, sưởi ấm và cho ăn trong hai ngày, đến khi chú đủ sức bay về St. Paul. Limmershin là một chú chim bé nhỏ rất cổ quái, nhưng chú biết cách nói thật.
Không ai đến Novastoshnah nếu không có công chuyện, và những kẻ duy nhất thường xuyên có công chuyện ở đó là hải cẩu. Vào những tháng hè, chúng từ biển xám lạnh kéo về từng trăm nghìn, trăm nghìn con một. Bởi bãi Novastoshnah là nơi có chỗ ăn ở tốt nhất cho hải cẩu trên toàn thế giới.
Sea Catch biết rõ điều ấy, nên mỗi độ xuân về, dù đang ở bất cứ nơi đâu, nó cũng bơi thẳng tới Novastoshnah như một chiếc tàu phóng lôi, rồi bỏ ra một tháng đánh nhau với đồng loại để giành một chỗ tốt trên đá, càng gần biển càng hay. Sea Catch đã mười lăm tuổi, là một con hải cẩu lông xám khổng lồ, trên vai gần như có cả một bờm lông, với những chiếc răng nanh dài và dữ tợn. Khi chống hai chân chèo trước nâng mình lên, nó cao khỏi mặt đất hơn bốn bộ; và nếu có ai đủ gan đem cân, hẳn nó phải nặng gần bảy trăm pao. Khắp mình nó chằng chịt sẹo tích từ những trận ác chiến, nhưng lúc nào nó cũng sẵn sàng đánh thêm đúng một trận nữa. Nó thường nghiêng đầu sang một bên như thể không dám nhìn thẳng mặt kẻ địch; rồi bất thần phóng đầu ra nhanh như chớp, và một khi những chiếc răng lớn đã ngoạm chắc vào cổ đối thủ, con kia cứ việc thoát thân nếu có thể, chứ Sea Catch sẽ chẳng giúp gì đâu.
Tuy vậy, Sea Catch không bao giờ đuổi theo một con hải cẩu đã thua, vì làm thế trái với Luật Bãi. Nó chỉ muốn có một khoảnh đất bên biển để làm nơi nuôi con. Nhưng vì mỗi mùa xuân có tới bốn, năm vạn con hải cẩu khác cũng tìm kiếm đúng thứ ấy, nên tiếng huýt, tiếng rống, tiếng gầm và tiếng phì phò trên bãi thật kinh hồn.
Từ một ngọn đồi nhỏ gọi là đồi Hutchinson, người ta có thể nhìn bao quát ba dặm rưỡi mặt đất phủ kín những con hải cẩu đang đánh nhau; ngoài sóng, đâu đâu cũng lốm đốm những cái đầu hải cẩu vội vã vào bờ để góp phần mình vào cuộc chiến. Chúng đánh nhau giữa sóng vỡ, đánh nhau trên cát, đánh nhau trên những phiến đá bazan nhẵn lì của khu nuôi con, bởi chúng cũng ngu ngốc và chẳng biết nhường nhịn hệt như loài người. Vợ chúng mãi đến cuối tháng Năm hoặc đầu tháng Sáu mới lên đảo, vì các bà chẳng muốn bị xé tan xác; còn những con hải cẩu non hai, ba và bốn tuổi chưa lập gia đình thì xuyên qua hàng ngũ đám đang giao chiến, đi sâu vào đất liền chừng nửa dặm, kéo nhau từng đoàn từng đạo chơi đùa trên các đụn cát, chà trụi mọi mầm xanh mọc ở đó. Chúng được gọi là holluschickie—những chàng độc thân—và riêng tại Novastoshnah có lẽ đã có tới hai, ba trăm nghìn con.
Một mùa xuân nọ, Sea Catch vừa đánh xong trận thứ bốn mươi lăm thì Matkah, cô vợ mềm mại, óng mượt và có đôi mắt hiền của nó, từ biển đi lên. Nó ngoạm lấy gáy nàng, quẳng nàng xuống phần đất đã chiếm rồi cộc cằn nói: “Lại trễ như mọi khi. Nàng đã đi đâu vậy?”
Trong bốn tháng ở trên bãi, Sea Catch có lệ không ăn bất cứ thứ gì, vì thế tính khí nó thường rất khó chịu. Matkah thừa khôn ngoan để không cãi lại. Nàng nhìn quanh rồi thủ thỉ: “Chàng chu đáo quá. Chàng lại giành được chỗ cũ rồi.”
“Tất nhiên là ta giành được,” Sea Catch nói. “Nhìn ta đây!”
Mình nó bị cào xước, chảy máu ở hai mươi chỗ; một mắt gần như lòi ra, hai bên sườn bị xé tơi tả.
“Ôi, đàn ông các chàng, đàn ông các chàng!” Matkah nói, lấy chân chèo sau quạt cho mình. “Sao các chàng không biết điều một chút, cứ yên ổn mà chia chỗ? Trông chàng cứ như vừa đánh nhau với Cá Voi Sát Thủ vậy.”
“Từ giữa tháng Năm đến giờ ta chẳng làm gì ngoài đánh nhau. Mùa này bãi đông đến nhục nhã. Ta đã gặp ít nhất một trăm con hải cẩu từ bãi Lukannon sang tìm nhà. Sao người ta không chịu ở yên nơi mình thuộc về?”
“Thiếp vẫn thường nghĩ chúng ta sẽ sung sướng hơn nhiều nếu lên bờ ở đảo Otter thay vì chốn chen chúc này,” Matkah nói.
“Xì! Chỉ bọn holluschickie mới đến đảo Otter. Nếu chúng ta sang đó, chúng sẽ bảo ta sợ. Ta phải giữ thể diện chứ, nàng ạ.”
Sea Catch kiêu hãnh rụt đầu xuống giữa đôi vai béo núc rồi giả vờ ngủ trong vài phút, nhưng suốt lúc ấy nó vẫn ráo riết rình xem có trận đánh nào không. Giờ đây, khi tất cả hải cẩu cùng các bà vợ đã lên bờ, tiếng huyên náo của chúng át cả những trận cuồng phong dữ dội nhất, vọng xa hàng dặm ngoài biển vẫn nghe thấy. Tính dè sẻn nhất, trên bãi cũng có hơn một triệu con hải cẩu—hải cẩu già, hải cẩu mẹ, những con non bé xíu và đám holluschickie—đánh nhau, xô xát, kêu be be, bò trườn và chơi đùa lẫn lộn; từng tốp, từng trung đoàn xuống biển rồi lại từ biển đi lên; nằm kín từng tấc đất cho đến tận chân trời; và từng lữ đoàn đụng độ lẻ tẻ trong sương mù. Novastoshnah gần như lúc nào cũng phủ sương, trừ đôi khi mặt trời ló ra, khiến mọi vật trong chốc lát óng ánh sắc xà cừ và cầu vồng.
Kotick, con của Matkah, chào đời giữa cảnh hỗn độn ấy. Cậu hầu như chỉ toàn đầu với vai, đôi mắt xanh nhạt long lanh nước, như hải cẩu sơ sinh nào cũng vậy; nhưng bộ lông cậu có điều gì đó khiến mẹ phải ngắm thật kỹ.
“Sea Catch,” cuối cùng nàng nói, “con chúng ta rồi sẽ trắng đấy!”
“Vỏ sò rỗng với rong biển khô!” Sea Catch khịt mũi. “Trên đời chưa từng có thứ gọi là hải cẩu trắng.”
“Thiếp biết làm sao được,” Matkah nói; “nhưng bây giờ sẽ có.” Rồi nàng khe khẽ hát khúc hát dỗ dành mà mọi hải cẩu mẹ đều hát cho con mình:
Chưa tròn sáu tuần, con chớ đi bơi, Kẻo gót chân chổng ngược, đầu chìm xuống sâu; Gió hè giông tố, Cá Voi Sát Thủ Đều hại hải cẩu bé thơ.
Đều hại hải cẩu bé thơ, chuột con yêu dấu, Tai hại chẳng gì hơn; Nhưng cứ vùng vẫy, lớn cho khỏe mạnh, Thì con chẳng thể lầm đường. Hỡi con của Biển Khơi!
Dĩ nhiên lúc đầu cậu bé chẳng hiểu lời ca. Cậu khua chân chèo, lồm cồm bò bên cạnh mẹ, và học cách lách khỏi đường mỗi khi cha đánh nhau với một con hải cẩu khác, cả hai lăn lên lăn xuống trên đá trơn, gầm rống om sòm. Matkah thường ra biển kiếm thức ăn, và hai ngày hải cẩu con mới được bú một lần; nhưng mỗi lần như thế, cậu ăn cho đến hết sức mình rồi cứ thế lớn phổng lên.
Việc đầu tiên cậu làm là bò sâu vào đất liền. Ở đó, cậu gặp hàng vạn hải cẩu con cùng tuổi, và chúng chơi với nhau như lũ chó con, ngủ trên cát sạch rồi lại dậy chơi. Những con lớn tuổi trong khu nuôi con chẳng để ý đến chúng, đám holluschickie cũng chỉ quanh quẩn trên đất riêng, nên lũ nhỏ có một quãng vui chơi tuyệt diệu.
Mỗi lần đi đánh cá ngoài biển sâu trở về, Matkah lại đến thẳng sân chơi, cất tiếng gọi như cừu mẹ gọi cừu con, rồi chờ nghe Kotick kêu be be đáp lại. Sau đó nàng lao theo một đường thẳng không thể thẳng hơn về phía cậu, quạt mạnh hai chân chèo trước, hất đám hải cẩu non hai bên lăn quay đi hết. Lúc nào cũng có vài trăm bà mẹ lùng tìm con khắp các sân chơi, nên lũ nhỏ chẳng phút nào được yên. Nhưng như Matkah đã bảo Kotick: “Chỉ cần con không nằm trong nước bùn mà mắc ghẻ, không để cát cứng chà vào vết đứt hay vết xước, và tuyệt đối không xuống bơi khi biển động mạnh, thì ở đây chẳng thứ gì làm hại được con.”
Hải cẩu con cũng chẳng biết bơi hơn gì trẻ nhỏ, nhưng chừng nào chưa học được, chúng còn khổ sở không yên. Lần đầu Kotick xuống biển, một con sóng cuốn cậu ra chỗ quá sâu; cái đầu lớn chìm nghỉm còn đôi chân chèo sau bé xíu chổng lên, đúng như lời mẹ đã hát. Nếu con sóng kế tiếp không ném cậu trở lại bờ, cậu hẳn đã chết đuối.
Sau đó, cậu học cách nằm trong một vũng nước trên bãi, để làn sóng tràn vừa đủ phủ lên mình và nâng mình lên trong lúc cậu khua chân chèo; nhưng cậu luôn mở mắt đề phòng những con sóng lớn có thể làm đau. Cậu mất hai tuần mới học được cách sử dụng chân chèo; suốt thời gian ấy, cậu lóp ngóp ra vào mặt nước, ho sặc, khụt khịt, bò lên bãi chợp mắt trên cát rồi lại quay xuống, cho tới cuối cùng cậu nhận ra mình quả thực thuộc về nước.
Bấy giờ, bạn có thể hình dung cậu cùng các bạn vui thú đến nhường nào: lặn xuống dưới những con sóng cuộn; hoặc cưỡi trên đầu ngọn sóng bạc lao vào, đáp xuống giữa tiếng nước ào và tiếng phì phụp khi con sóng lớn cuộn tít lên tận bãi; hoặc chống mình trên đuôi mà gãi đầu như những con già; hoặc chơi trò “Ta là Vua Pháo đài” trên những phiến đá trơn phủ rong vừa nhô khỏi làn sóng. Thỉnh thoảng, cậu thấy một chiếc vây mảnh như vây cá mập lớn lững lờ sát bờ, và cậu biết đó là Cá Voi Sát Thủ, con Grampus chuyên ăn hải cẩu non mỗi khi bắt được. Kotick liền lao về phía bãi nhanh như tên bắn, còn chiếc vây chậm chạp lắc đi nơi khác, như thể nó vốn chẳng tìm kiếm gì cả.
Cuối tháng Mười, hải cẩu bắt đầu rời St. Paul ra biển sâu, từng gia đình, từng bộ tộc một. Các khu nuôi con không còn cảnh tranh giành, và đám holluschickie tha hồ chơi ở bất cứ đâu chúng thích. “Sang năm,” Matkah bảo Kotick, “con sẽ là một holluschickie; nhưng năm nay con phải học cách bắt cá.”
Hai mẹ con cùng lên đường vượt Thái Bình Dương, và Matkah dạy Kotick cách nằm ngửa mà ngủ, hai chân chèo ép xuôi bên sườn, chiếc mũi nhỏ vừa đủ nhô khỏi mặt nước. Không chiếc nôi nào êm ái bằng những con sóng dài, đong đưa của Thái Bình Dương. Khi Kotick cảm thấy khắp da mình ran lên, Matkah bảo ấy là cậu đang học “cảm nhận của nước”; cảm giác ran ran, châm chích có nghĩa thời tiết xấu sắp tới, và cậu phải bơi thật nhanh để tránh xa.
“Chẳng bao lâu nữa,” nàng nói, “con sẽ biết phải bơi đi đâu; còn bây giờ chúng ta hãy theo Sea Pig, chú Cá Heo Chuột, vì chú ấy rất khôn ngoan.” Một đàn cá heo chuột đang lặn hụp, xé nước lao đi, và Kotick bé nhỏ đuổi theo nhanh hết sức. “Làm sao chú biết phải đi đâu?” cậu vừa thở hổn hển vừa hỏi. Con đầu đàn đảo con mắt trắng rồi lặn xuống. “Đuôi ta ran lên, nhóc ạ,” nó nói. “Nghĩa là có một trận gió lớn phía sau ta. Theo mau! Khi ngươi ở phía nam Vùng Nước Dính [ý nó là Xích đạo] mà đuôi ran lên, nghĩa là phía trước có gió lớn và ngươi phải quay đầu về bắc. Theo mau! Nước ở đây có điềm xấu.”
Đó chỉ là một trong vô vàn điều Kotick học được, và lúc nào cậu cũng học hỏi. Matkah dạy cậu bám theo cá tuyết và cá bơn dọc những bãi ngầm dưới biển, lôi cá rockling ra khỏi hang giữa đám rong; dạy cậu lượn men quanh những xác tàu đắm nằm sâu một trăm sải dưới nước, lao vun vút như viên đạn súng trường vào một ô cửa tàu rồi xuyên ra ô khác khi đàn cá tháo chạy; dạy cậu nhảy múa trên đầu sóng lúc chớp rạch khắp trời, lịch sự vẫy chân chèo chào Hải Âu Đuôi Cộc và Chim Ưng Chiến Hạm khi chúng xuôi theo gió; dạy cậu nhảy vọt khỏi mặt nước ba, bốn bộ như cá heo, chân chèo ép sát mình và đuôi uốn cong; mặc kệ cá chuồn vì chúng toàn xương; đang hết tốc lực ở độ sâu mười sải vẫn ngoạm được miếng thịt vai của một con cá tuyết; và không bao giờ dừng lại nhìn thuyền hay tàu, nhất là thuyền có mái chèo. Sau sáu tháng, điều gì Kotick chưa biết về nghề đánh cá biển sâu thì cũng chẳng đáng để biết. Và trong suốt thời gian ấy, cậu chưa hề đặt chân chèo lên đất khô.
Tuy nhiên, một ngày nọ, khi đang lim dim nằm trong làn nước ấm đâu đó ngoài khơi đảo Juan Fernandez, cậu bỗng thấy toàn thân bải hoải, lười nhác, hệt như con người khi hơi xuân rạo rực trong chân. Cậu nhớ những bãi đất chắc chắn, dễ chịu của Novastoshnah cách đó bảy nghìn dặm, nhớ những trò chơi của bạn bè, mùi rong biển, tiếng hải cẩu gầm và những trận đánh nhau. Ngay phút ấy, cậu quay đầu về bắc, bơi đều đặn; dọc đường cậu gặp hàng chục bạn đồng niên cũng đang hướng về cùng một nơi. Chúng nói: “Chào Kotick! Năm nay tất cả chúng ta đều là holluschickie rồi, chúng ta có thể múa Vũ điệu Lửa giữa sóng vỡ ngoài khơi Lukannon và chơi trên cỏ non. Nhưng cậu kiếm đâu ra bộ lông ấy vậy?”
Bộ lông Kotick giờ đã gần như trắng tuyền. Tuy rất tự hào về nó, cậu chỉ nói: “Bơi nhanh lên! Xương cốt tôi đang nhức nhối vì thèm đất liền.” Thế là tất cả cùng trở về những bãi biển nơi mình chào đời, và nghe tiếng các hải cẩu già—cha chúng—đánh nhau trong màn sương cuộn.
Đêm ấy, Kotick múa Vũ điệu Lửa cùng những con hải cẩu một tuổi. Vào những đêm hè, biển đầy lửa suốt từ Novastoshnah xuống Lukannon; mỗi con hải cẩu để lại sau mình một vệt sáng như dầu cháy, tung lên một ánh lửa lóe mỗi khi nhảy khỏi nước, còn sóng vỡ thành những dải và xoáy lân quang khổng lồ. Sau đó, chúng vào sâu trong đất liền tới bãi của đám holluschickie, lăn lên lăn xuống giữa những đám lúa mì dại mới mọc, kể cho nhau nghe những chuyện mình đã làm ngoài biển. Chúng nói về Thái Bình Dương như đám con trai kể về khu rừng nơi chúng từng đi nhặt hạt; và nếu có ai hiểu được lời chúng, người ấy có thể ra về rồi vẽ nên một tấm hải đồ chưa từng có của đại dương ấy. Đám holluschickie ba và bốn tuổi nô đùa lao từ đồi Hutchinson xuống, miệng la: “Tránh đường, lũ nhóc! Biển sâu lắm, các ngươi còn chưa biết hết những gì trong đó đâu. Đợi đến khi các ngươi vòng qua Mũi Sừng đã. Này, thằng một tuổi kia, ngươi kiếm đâu ra bộ lông trắng ấy vậy?”
“Tôi chẳng kiếm ở đâu cả,” Kotick nói. “Nó tự mọc.” Và đúng lúc cậu định lăn kẻ vừa hỏi ngã lộn nhào, hai người đàn ông tóc đen, mặt đỏ và bẹt từ sau một đụn cát bước ra. Kotick chưa từng thấy người bao giờ, liền ho khục rồi cúi đầu xuống. Đám holluschickie chỉ cuống cuồng chạy xa vài thước rồi ngồi đó ngây ngốc nhìn chằm chằm. Hai người kia chính là Kerick Booterin, trưởng toán thợ săn hải cẩu trên đảo, và Patalamon, con trai lão. Họ từ ngôi làng nhỏ cách các khu nuôi con bên biển chưa đầy nửa dặm tới, và đang chọn xem sẽ lùa những con hải cẩu nào vào bãi giết—bởi hải cẩu bị lùa đi chẳng khác gì cừu—để sau này biến thành những chiếc áo da hải cẩu.
“Ồ!” Patalamon nói. “Nhìn kìa! Có một con hải cẩu trắng!”
Kerick Booterin tái gần như trắng bệch dưới lớp dầu mỡ và muội khói, bởi lão là người Aleut, mà người Aleut thì chẳng sạch sẽ gì. Rồi lão bắt đầu lẩm nhẩm cầu nguyện. “Đừng chạm vào nó, Patalamon. Chưa từng có một con hải cẩu trắng nào kể từ—kể từ khi ta chào đời. Có lẽ đó là hồn ma lão Zaharrof. Lão mất tích trong trận cuồng phong lớn năm ngoái.”
“Con chẳng lại gần nó đâu,” Patalamon nói. “Nó mang điềm gở. Cha thật sự nghĩ đó là lão Zaharrof trở về sao? Con còn nợ lão mấy quả trứng mòng biển.”
“Đừng nhìn nó,” Kerick nói. “Chặn đàn hải cẩu bốn tuổi kia lại. Hôm nay đám thợ phải lột được hai trăm bộ da, nhưng mới đầu mùa nên họ còn chưa quen việc. Một trăm con cũng được. Nhanh lên!”
Patalamon lắc lách cách một đôi xương vai hải cẩu trước mặt một đàn holluschickie, khiến chúng đứng khựng lại, phì phò thở. Rồi hắn bước đến gần, đám hải cẩu bắt đầu chuyển động, và Kerick lùa chúng vào sâu trong đảo; chúng không hề tìm cách quay lại với đồng bạn. Hàng trăm, hàng trăm nghìn con hải cẩu nhìn chúng bị lùa đi, nhưng vẫn tiếp tục nô đùa như thường. Chỉ có Kotick thắc mắc, mà chẳng bạn nào của nó biết gì để trả lời, ngoài việc năm nào con người cũng lùa hải cẩu như thế suốt sáu tuần hoặc hai tháng.
“Ta sẽ đi theo,” nó nói, rồi lạch bạch nối gót cả đàn, mắt gần như lồi hẳn ra ngoài.
“Con hải cẩu trắng đang theo sau chúng ta,” Patalamon kêu lên. “Chưa từng có con hải cẩu nào một mình đến bãi giết cả.”
“Suỵt! Đừng ngoái lại,” Kerick nói. “Đó là hồn ma Zaharrof! Ta phải thưa chuyện này với cha xứ mới được.”
Bãi giết chỉ cách đó nửa dặm, nhưng họ phải mất một giờ mới tới nơi, bởi Kerick biết rằng nếu đám hải cẩu đi quá nhanh, người chúng sẽ nóng lên, đến lúc lột da thì lông sẽ tróc từng mảng. Bởi vậy, chúng đi rất chậm, qua Mũi Sư Tử Biển, qua Nhà Webster, cho tới Nhà Muối, nằm vừa khuất tầm mắt đám hải cẩu ngoài bãi. Kotick theo sau, vừa thở hổn hển vừa kinh ngạc. Nó ngỡ mình đã tới tận cùng thế giới, nhưng tiếng gầm của những bãi hải cẩu sinh nở phía sau vẫn vang dội như tiếng tàu hỏa rền trong đường hầm. Bấy giờ Kerick ngồi xuống đám rêu, lấy ra một chiếc đồng hồ thiếc nặng trịch và để cả đàn nguội người trong ba mươi phút; Kotick nghe rõ từng giọt sương mù nhỏ xuống từ vành mũ hắn. Sau đó, mười hay mười hai người đàn ông đi tới, mỗi người cầm một cây gậy bịt sắt dài ba đến bốn bộ. Kerick chỉ ra một hai con trong đàn đã bị đồng bạn cắn hoặc còn quá nóng; đám thợ dùng những đôi ủng nặng làm bằng da họng hải mã đá chúng sang một bên. Rồi Kerick hô: “Ra tay!” và những người kia vung gậy nện vào đầu đám hải cẩu nhanh hết sức mình.
Mười phút sau, Kotick bé nhỏ không còn nhận ra bạn bè nữa, bởi da chúng đã bị rạch từ mũi đến tận hai chân chèo sau, giật phăng khỏi mình rồi quẳng thành một đống dưới đất. Với Kotick, thế là quá đủ. Nó quay đầu phi nước đại—hải cẩu có thể phi rất nhanh trong một quãng ngắn—trở về biển, bộ ria non mới nhú dựng đứng vì kinh hãi. Tới Mũi Sư Tử Biển, nơi những con sư tử biển khổng lồ ngồi bên mép sóng, nó lao nhào đầu qua chân chèo xuống làn nước mát rồi nằm tròng trành ở đó, thở hổn hển khốn khổ. “Chuyện gì đây?” một con sư tử biển cộc cằn hỏi, bởi thông thường sư tử biển chỉ giao du với đồng loại.
“Scoochnie! Ochen scoochnie!” (“Tôi cô độc, cô độc lắm!”) Kotick nói. “Họ đang giết tất cả holluschickie trên khắp các bãi!”
Sư Tử Biển ngoảnh đầu nhìn vào bờ. “Vớ vẩn!” nó nói. “Bạn bè ngươi vẫn làm ầm ĩ như mọi khi đấy thôi. Chắc ngươi vừa thấy lão Kerick thanh toán một đàn. Hắn làm thế ba mươi năm nay rồi.”
“Thật khủng khiếp,” Kotick nói, quạt nước lùi lại khi một con sóng trùm qua mình, rồi giữ thăng bằng bằng một cú xoáy chân chèo, khiến nó dựng thẳng người cách mép đá lởm chởm chỉ ba tấc.
“Khá lắm đối với một đứa mới một tuổi!” Sư Tử Biển nói; nó biết thưởng thức tài bơi lội. “Ta cho rằng, theo cách nhìn của ngươi, chuyện ấy quả có phần ghê rợn. Nhưng nếu giống hải cẩu các ngươi năm nào cũng kéo đến đây, tất nhiên con người sẽ biết; và trừ phi tìm được một hòn đảo nơi con người không bao giờ đặt chân tới, các ngươi sẽ mãi bị lùa đi.”
“Không có hòn đảo nào như thế sao?” Kotick hỏi.
“Ta đã đuổi theo poltoos—cá bơn—suốt hai mươi năm mà chưa thể nói là đã tìm thấy nơi nào như vậy. Nhưng nghe đây—xem chừng ngươi rất thích chuyện trò với những bậc trên mình—hay là đến Đảo Nhỏ Hải Mã mà hỏi Sea Vitch. Có thể lão biết chút gì. Đừng vùng vằng bỏ đi như thế. Phải bơi sáu dặm đấy; nếu là ngươi, ta sẽ lên bờ đánh một giấc trước đã, nhóc con.”
Kotick thấy đó là lời khuyên hay, nên nó bơi vòng về bãi của mình, lên bờ và ngủ nửa giờ, toàn thân co giật như hải cẩu vẫn thường thế. Sau đó nó hướng thẳng tới Đảo Nhỏ Hải Mã, một dải đảo đá thấp bé nằm gần như chính đông bắc Novastoshnah, toàn những gờ đá, mỏm đá và tổ mòng biển, nơi bầy hải mã sống riêng với nhau.
Nó lên bờ ngay cạnh lão Sea Vitch—con hải mã Bắc Thái Bình Dương to lớn, xấu xí, phì nộn, đầy mụn, cổ béo, nanh dài, chẳng bao giờ biết lễ độ trừ lúc đang ngủ—mà khi ấy lão quả đang ngủ, hai chân chèo sau nửa ngâm trong sóng, nửa để trên bờ.
“Dậy đi!” Kotick sủa, bởi lũ mòng biển đang làm huyên náo khủng khiếp.
“Hả! Hô! Hừm! Cái gì thế?” Sea Vitch nói, rồi lấy nanh thúc con hải mã bên cạnh một cú làm nó tỉnh giấc; con ấy lại thúc con kế tiếp, cứ thế cho đến khi tất cả đều thức dậy, trừng mắt nhìn khắp mọi hướng, trừ đúng hướng cần nhìn.
“Này! Tôi đây,” Kotick nói, nhấp nhô trong sóng, trông như một con sên trắng bé xíu.
“Chà! Ta thật đáng bị—lột da!” Sea Vitch nói, và cả bọn nhìn Kotick như bạn có thể hình dung một câu lạc bộ toàn những ông già ngái ngủ nhìn một cậu bé con. Khi ấy Kotick chẳng muốn nghe thêm gì về chuyện lột da; nó đã thấy quá đủ rồi. Vì vậy, nó gọi lớn: “Có nơi nào hải cẩu có thể đến sống mà con người không bao giờ đặt chân tới không?”
“Tự đi mà tìm,” Sea Vitch nói, nhắm mắt lại. “Biến đi. Bọn ta đang bận.”
Kotick bật mình khỏi mặt nước như cá heo rồi hét lớn hết sức: “Đồ ăn nghêu! Đồ ăn nghêu!” Nó biết cả đời Sea Vitch chưa từng bắt được một con cá, mà chỉ chuyên ủi tìm nghêu và rong biển, dù lão vẫn làm bộ mình là một nhân vật vô cùng đáng sợ. Tất nhiên, đám Chickie, Gooverooskie và Epatka—tức lũ mòng biển Burgomaster, mòng biển Kittiwake và chim hải âu cổ rụt, những kẻ lúc nào cũng rình cơ hội hỗn láo—lập tức hùa theo. Và như Limmershin kể với tôi, trong gần năm phút, dù có nổ súng trên Đảo Nhỏ Hải Mã, bạn cũng chẳng thể nghe thấy. Toàn thể cư dân đều gào réo: “Đồ ăn nghêu! Stareek—lão già!” trong khi Sea Vitch lăn qua lăn lại, vừa càu nhàu vừa ho sặc sụa.
“Bây giờ ông chịu nói chưa?” Kotick hỏi, thở không ra hơi.
“Đi mà hỏi Bò Biển,” Sea Vitch nói. “Nếu nó còn sống, nó sẽ chỉ cho ngươi.”
“Gặp Bò Biển thì làm sao tôi nhận ra được?” Kotick hỏi, vừa lượn ra xa.
“Đó là thứ duy nhất dưới biển xấu hơn Sea Vitch,” một con mòng biển Burgomaster rít lên, lượn vòng ngay dưới mũi Sea Vitch. “Xấu hơn, lại còn vô lễ hơn! Stareek!”
Kotick bơi về Novastoshnah, bỏ mặc lũ mòng biển gào thét phía sau. Tại đó, nó nhận ra chẳng ai thông cảm với nỗ lực nhỏ nhoi của nó nhằm tìm một nơi yên ổn cho loài hải cẩu. Họ bảo con người xưa nay vẫn lùa holluschickie—đó chỉ là một phần công việc thường ngày—và nếu không thích nhìn những chuyện xấu xa, nó đã chẳng nên đến bãi giết. Nhưng không con hải cẩu nào khác từng chứng kiến cảnh giết chóc, và chính điều ấy khiến Kotick khác với bạn bè. Hơn nữa, Kotick là một con hải cẩu trắng.
“Điều con phải làm,” Sea Catch già nói sau khi nghe hết những cuộc phiêu lưu của con trai, “là lớn lên thành một con hải cẩu to khỏe như cha, chiếm một bãi sinh nở trên bờ, rồi họ sẽ để con yên. Năm năm nữa, con phải đủ sức tự chiến đấu rồi.” Ngay cả Matkah hiền dịu, mẹ nó, cũng nói: “Con không bao giờ ngăn được việc giết chóc đâu. Ra biển chơi đi, Kotick.” Và Kotick bỏ đi múa Vũ điệu Lửa với một trái tim bé nhỏ nặng trĩu.
Mùa thu năm ấy, nó rời bãi sớm hết mức có thể và lên đường một mình, bởi trong cái đầu tròn như viên đạn của nó đã nảy ra một ý định. Nó sẽ tìm Bò Biển, nếu dưới biển quả có một nhân vật như thế, và sẽ tìm một hòn đảo yên tĩnh, có những bãi biển tốt và chắc để hải cẩu sinh sống, nơi con người không thể đụng tới chúng. Thế là nó một mình tìm kiếm hết nơi này đến nơi khác, từ Bắc Thái Bình Dương xuống Nam Thái Bình Dương, có ngày đêm bơi tới ba trăm dặm. Nó gặp nhiều cuộc phiêu lưu hơn mức có thể kể hết, suýt bị Cá Mập Phơi Nắng, Cá Mập Đốm và Cá Mập Đầu Búa bắt được; nó gặp đủ mọi tên hung đồ bất lương lang thang xuôi ngược ngoài biển, những con cá nặng nề lịch thiệp, và những con sò điệp đốm đỏ neo mình một chỗ suốt hàng trăm năm rồi lấy đó làm kiêu hãnh. Nhưng nó không bao giờ gặp Bò Biển, cũng chẳng tìm thấy hòn đảo nào vừa ý.
Nếu bãi biển tốt và rắn chắc, phía sau lại có triền dốc cho hải cẩu nô đùa, thì ngoài chân trời bao giờ cũng hiện lên khói của một tàu săn cá voi đang nấu mỡ, và Kotick hiểu điều ấy có nghĩa gì. Hoặc nó sẽ nhận ra hải cẩu từng đến đảo rồi bị giết sạch; và Kotick biết nơi nào con người đã tới một lần, họ sẽ còn quay lại.
Nó kết bạn với một con hải âu già đuôi cụt, kẻ bảo rằng đảo Kerguelen chính là nơi tuyệt hảo để sống thanh bình, yên tĩnh. Nhưng khi Kotick xuống tới đó, nó suýt bị đập tan xác vào những vách đá đen hiểm độc giữa một trận mưa tuyết dữ dội, sấm chớp đùng đùng. Vậy mà khi gắng sức lên bờ ngược chiều gió bão, nó vẫn nhận ra ngay cả nơi ấy cũng từng có một bãi hải cẩu sinh nở. Và mọi hòn đảo khác nó ghé thăm đều như thế.
Limmershin kể ra một danh sách dài những nơi ấy, bởi cậu ta nói Kotick đã bỏ ra năm mùa để tìm kiếm, mỗi năm chỉ nghỉ bốn tháng ở Novastoshnah, nơi đám holluschickie thường chế giễu nó cùng những hòn đảo tưởng tượng của nó. Nó đến Gallapagos, một nơi khô cằn khủng khiếp trên đường Xích đạo, nơi nó suýt bị nướng chín; nó đến quần đảo Georgia, Orkney, đảo Emerald, đảo Little Nightingale, đảo Gough, đảo Bouvet, quần đảo Crosset, và thậm chí tới một chấm đảo bé xíu ở phía nam Mũi Hảo Vọng. Nhưng ở đâu Dân Biển cũng kể với nó cùng một chuyện. Ngày xưa hải cẩu từng đến những hòn đảo ấy, nhưng con người đã giết sạch chúng. Ngay cả khi bơi hàng nghìn dặm ra khỏi Thái Bình Dương và tới một nơi gọi là Mũi Corrientes—lúc ấy nó đang trở về từ đảo Gough—nó cũng chỉ thấy vài trăm con hải cẩu ghẻ lở sống trên một mỏm đá, và chúng bảo con người cũng tới đó.
Điều ấy gần như làm nó tan nát cõi lòng. Nó vòng qua Mũi Horn trở về những bãi biển quê nhà; trên đường đi lên phía bắc, nó lên bờ tại một hòn đảo đầy cây xanh, nơi nó gặp một con hải cẩu già, già lắm, đang hấp hối. Kotick bắt cá cho ông ăn và kể hết mọi nỗi buồn của mình. “Giờ đây,” Kotick nói, “tôi sẽ trở lại Novastoshnah; nếu có bị lùa vào trại giết cùng đám holluschickie, tôi cũng chẳng còn thiết gì nữa.”
Con hải cẩu già nói: “Hãy thử thêm một lần nữa. Ta là kẻ cuối cùng của Bãi Hải Cẩu Thất Lạc ở Masafuera. Vào thời con người giết chúng ta từng trăm nghìn con một, trên các bãi biển có lưu truyền câu chuyện rằng một ngày kia, một con hải cẩu trắng sẽ từ phương Bắc tới và dẫn dân hải cẩu đến một nơi thanh bình. Ta đã già và sẽ chẳng sống được đến ngày ấy, nhưng những kẻ khác sẽ thấy. Hãy thử thêm một lần nữa.”
Kotick bèn cuộn bộ ria của mình—một bộ ria tuyệt đẹp—rồi nói: “Tôi là con hải cẩu trắng duy nhất từng chào đời trên các bãi biển, và cũng là con hải cẩu duy nhất, dù đen hay trắng, từng nghĩ đến việc tìm những hòn đảo mới.”
Ý nghĩ ấy khiến nó phấn chấn vô cùng. Mùa hè năm đó, khi nó trở về Novastoshnah, Matkah, mẹ nó, khẩn khoản giục nó lấy vợ và an cư, bởi nó không còn là một holluschick nữa mà đã thành một sea-catch trưởng thành, với bờm trắng quăn trên vai, nặng nề, to lớn và dữ dội chẳng kém gì cha. “Cho con thêm một mùa nữa,” nó nói. “Mẹ hãy nhớ, bao giờ cũng là con sóng thứ bảy tràn xa nhất lên bãi.”
Lạ thay, cũng có một nàng hải cẩu khác muốn hoãn chuyện kết đôi đến năm sau; và đêm trước khi lên đường trong chuyến tìm kiếm cuối cùng, Kotick đã cùng nàng múa Vũ điệu Lửa dọc suốt bãi Lukannon. Lần này nó đi về phía tây, bởi đã lần theo dấu một đàn cá bơn khổng lồ, mà để giữ mình sung sức, mỗi ngày nó cần ít nhất một trăm cân cá. Nó đuổi theo đàn cá đến khi mệt lử, rồi cuộn mình ngủ trên những hõm sóng ngầm cuồn cuộn đổ về đảo Copper. Nó thuộc bờ biển ấy như lòng bàn tay, nên khoảng nửa đêm, khi cảm thấy mình khẽ va vào một thảm rong, nó nói: “Hừm, đêm nay thủy triều chảy mạnh thật,” rồi lật mình dưới nước, chậm rãi mở mắt và duỗi người. Bỗng nó giật nảy lên như mèo, bởi nó nhìn thấy những vật khổng lồ đang chúi mõm bơi trong vùng nước cạn, gặm những dải rong rậm rạp.
“Nhân danh những Ngọn Sóng Bạc Đầu Vĩ Đại của Magellan!” nó lẩm bẩm dưới bộ ria. “Những vị này là ai dưới chốn Biển Sâu vậy?”
Chúng chẳng giống bất kỳ con hải mã, sư tử biển, hải cẩu, gấu, cá voi, cá mập, cá, mực hay sò điệp nào Kotick từng thấy. Chúng dài từ hai mươi đến ba mươi bộ, không có chân chèo sau mà mang một chiếc đuôi hình xẻng, trông như được gọt từ một miếng da ướt. Đầu chúng có vẻ ngớ ngẩn nhất trần đời; khi không gặm cỏ, chúng chống thăng bằng trên chóp đuôi giữa vùng nước sâu, trịnh trọng cúi chào nhau và vẫy hai chân chèo trước như một người béo vung cánh tay.
“E hèm!” Kotick nói. “Cuộc vui thú vị chứ, thưa các vị?” Những sinh vật khổng lồ đáp lại bằng cách cúi chào và vẫy chân chèo như Gã Hầu Ếch. Khi chúng ăn trở lại, Kotick thấy môi trên của chúng chẻ làm đôi; hai nửa môi có thể kéo cách nhau chừng một bộ, rồi khép lại với cả một giạ rong biển kẹp ở giữa. Chúng nhét mớ ấy vào miệng và nghiêm trang nhai tóp tép.
“Cách ăn uống bừa bộn thật,” Kotick nói. Chúng lại cúi chào, và Kotick bắt đầu mất kiên nhẫn. “Tốt lắm,” nó nói. “Nếu chân chèo trước của các vị tình cờ có thêm một khớp, cũng không cần khoe khoang đến thế. Tôi thấy các vị cúi chào rất duyên dáng, nhưng tôi muốn biết tên các vị.” Những cặp môi chẻ đôi động đậy, co giật; những đôi mắt xanh màu thủy tinh trân trân nhìn nó, nhưng chúng không nói.
“Chà!” Kotick nói. “Các vị là những kẻ duy nhất tôi từng gặp còn xấu hơn Sea Vitch—mà cung cách cũng tệ hơn.”
Bấy giờ, trong một thoáng chớp sáng, nó nhớ lại lời con mòng biển Burgomaster đã hét với mình khi nó còn là đứa hải cẩu một tuổi bé bỏng trên Đảo Nhỏ Hải Mã. Nó lộn ngược ra sau trong nước, bởi nó biết cuối cùng mình đã tìm thấy Bò Biển.
Lũ bò biển vẫn cứ sục sạo, gặm cỏ và nhồm nhoàm nhai rong, còn Kotick hỏi chúng bằng mọi thứ tiếng cậu đã học lỏm được trong những chuyến đi; mà Dân Biển nói gần nhiều thứ tiếng bằng loài người. Nhưng lũ bò biển không đáp, bởi Bò Biển không biết nói. Ở cổ nó chỉ có sáu đốt xương, trong khi lẽ ra phải có bảy, và dưới biển người ta bảo chính điều đó khiến nó không thể trò chuyện ngay cả với đồng loại. Nhưng, như bạn đã biết, chân chèo trước của nó lại có thêm một khớp, và bằng cách vẫy lên, vẫy xuống, vẫy qua vẫy lại, nó tạo ra một thứ gần giống hệ thống điện báo vụng về.
Đến sáng, bờm Kotick dựng đứng cả lên, còn tính nhẫn nại của cậu đã trôi đến nơi những con cua chết vẫn trôi về. Bấy giờ Bò Biển bắt đầu đi về phía bắc, chậm rì rì, thỉnh thoảng lại dừng để mở những cuộc hội nghị cúi đầu nom thật lố bịch; Kotick theo sau, bụng bảo dạ: “Những kẻ ngốc đến thế này hẳn đã bị giết sạch từ lâu, nếu chưa tìm ra được một hòn đảo an toàn nào đó. Mà nơi nào đủ tốt cho Bò Biển thì cũng đủ tốt cho Hải Cẩu. Dẫu vậy, ta vẫn mong chúng đi nhanh lên một chút.”
Đó là một hành trình mệt nhoài đối với Kotick. Cả đàn mỗi ngày chẳng đi quá bốn mươi hay năm mươi dặm, đêm đến lại dừng kiếm ăn, và suốt dọc đường cứ bám sát bờ; trong khi Kotick bơi vòng quanh, bơi bên trên rồi lặn xuống bên dưới chúng, nhưng không tài nào thúc chúng nhanh thêm nổi nửa dặm. Càng đi xa về phía bắc, cứ vài giờ chúng lại mở một cuộc hội nghị cúi đầu; Kotick sốt ruột đến mức suýt cắn đứt ria mình, cho tới khi nhận ra chúng đang lần theo một dòng nước ấm. Từ đó cậu nể chúng hơn.
Một đêm nọ, chúng chìm xuyên qua làn nước óng ánh—chìm như đá—và lần đầu tiên kể từ khi Kotick biết chúng, chúng bắt đầu bơi thật nhanh. Kotick theo sát, kinh ngạc trước tốc độ ấy, bởi cậu chưa từng mơ Bò Biển lại có chút tài bơi lội nào. Chúng hướng về một vách đá ven bờ—vách đá cắm thẳng xuống vùng nước sâu—rồi lao vào một lỗ tối dưới chân vách, sâu hai mươi sải dưới mặt biển. Đó là một quãng bơi dài, rất dài, và Kotick thèm không khí trong lành đến khốn khổ trước khi thoát khỏi đường hầm tối om mà chúng dẫn cậu đi xuyên qua.
“Ôi trời đất ơi!” cậu nói khi trồi lên vùng nước thoáng ở đầu bên kia, vừa hổn hển vừa phì phò. “Cú lặn dài thật, nhưng hoàn toàn xứng đáng.”
Lũ bò biển đã tản ra, lững thững gặm cỏ dọc rìa những bãi biển đẹp nhất Kotick từng thấy. Những dải đá nhẵn lì trải dài hàng dặm, vừa khít để làm nơi nuôi hải cẩu con; phía sau là những sân chơi bằng cát cứng thoai thoải dốc vào đất liền; lại có những con sóng cuộn cho hải cẩu nhảy múa, những bãi cỏ dài để lăn mình, những đụn cát để trèo lên tuột xuống; và tuyệt nhất, qua cảm giác của làn nước—thứ không bao giờ đánh lừa một Hải Cẩu chân chính—Kotick biết chưa từng có con người nào đặt chân tới đây.
Việc đầu tiên cậu làm là kiểm tra cho chắc nơi đây có nhiều cá; sau đó cậu bơi dọc các bãi biển, đếm những hòn đảo cát thấp tuyệt đẹp, nửa ẩn nửa hiện trong làn sương cuộn mềm mại. Xa về phía bắc, ngoài khơi, là một dải bãi ngầm, doi cát và đá kéo dài, không bao giờ để một con tàu tiến vào cách bờ chưa đầy sáu dặm; còn giữa các đảo và đất liền là một vùng nước sâu chạy sát tới những vách đá dựng đứng, và đâu đó bên dưới các vách đá ấy là cửa đường hầm.
“Lại một Novastoshnah nữa, nhưng tốt gấp mười lần,” Kotick nói. “Bò Biển hẳn khôn ngoan hơn ta tưởng. Con người không thể trèo xuống các vách đá, cho dù quanh đây có người; còn những bãi ngầm phía biển sẽ đập tàu vỡ thành từng mảnh. Nếu trên biển có nơi nào an toàn, thì chính là nơi này.”
Cậu bắt đầu nghĩ đến nàng hải cẩu mình đã bỏ lại, nhưng dù nóng lòng trở về Novastoshnah, cậu vẫn thăm dò kỹ lưỡng vùng đất mới để có thể trả lời mọi câu hỏi.
Sau đó cậu lặn xuống, xác định chắc chắn cửa đường hầm, rồi lao vút qua đó về phía nam. Ngoài bò biển hoặc hải cẩu, chẳng ai có thể ngờ một nơi như thế tồn tại; và khi ngoái nhìn lại những vách đá, đến Kotick cũng khó lòng tin nổi mình vừa đi xuyên bên dưới chúng.
Cậu mất sáu ngày mới về tới nhà, dù chẳng hề bơi chậm; và khi bò lên bờ ngay phía trên Cổ Sư Tử Biển, kẻ đầu tiên cậu gặp chính là nàng hải cẩu vẫn chờ đợi mình. Vừa nhìn vào mắt cậu, nàng đã biết cuối cùng cậu cũng tìm thấy hòn đảo ấy.
Nhưng đám holluschickie, Hải Cẩu Đực—cha cậu—và tất cả hải cẩu khác đều cười nhạo khi nghe cậu kể về phát hiện của mình. Một hải cẩu trẻ trạc tuổi cậu nói: “Nghe thì hay lắm, Kotick, nhưng anh không thể từ một nơi chẳng ai biết là đâu mò về rồi ra lệnh cho chúng tôi bỏ đi như thế. Hãy nhớ rằng chúng tôi đã chiến đấu để giành nơi nuôi con, còn anh thì chưa bao giờ làm việc ấy. Anh thích lang thang ngoài biển hơn.”
Những con hải cẩu khác bật cười, còn gã hải cẩu trẻ bắt đầu nghênh đầu lắc qua lắc lại. Gã vừa lấy vợ năm ấy và làm ầm ĩ hết sức về chuyện đó.
“Tôi không có nơi nuôi con nào để tranh giành,” Kotick nói. “Tôi chỉ muốn chỉ cho tất cả các anh một nơi các anh sẽ được an toàn. Đánh nhau thì có ích gì?”
“Ồ, nếu anh định thoái lui thì dĩ nhiên tôi chẳng còn gì để nói,” gã hải cẩu trẻ đáp, cười khẩy đầy ác ý.
“Nếu tôi thắng, anh có đi cùng tôi không?” Kotick hỏi. Một ánh xanh lóe lên trong mắt cậu, bởi việc phải đánh nhau đã khiến cậu vô cùng tức giận.
“Được thôi,” gã hải cẩu trẻ hờ hững đáp. “Nếu anh thắng, tôi sẽ đi.”
Gã không kịp đổi ý, bởi đầu Kotick đã phóng tới và răng cậu cắm ngập vào lớp mỡ ở cổ gã. Rồi cậu ghì mình trên hai chân chèo sau, kéo kẻ địch lê dọc bãi biển, lắc gã, quật gã ngã nhào. Sau đó Kotick gầm lên với bầy hải cẩu: “Suốt năm mùa vừa qua, ta đã làm hết sức vì các ngươi. Ta đã tìm được hòn đảo nơi các ngươi sẽ an toàn, vậy mà trừ phi đầu các ngươi bị giật khỏi những cái cổ ngu ngốc kia, các ngươi vẫn không chịu tin. Bây giờ ta sẽ dạy cho các ngươi một bài học. Liệu mà giữ thân!”
Limmershin kể với tôi rằng suốt đời nó—mà mỗi năm Limmershin chứng kiến mười nghìn con hải cẩu lớn đánh nhau—suốt cả cuộc đời bé nhỏ của nó, chưa bao giờ nó thấy cảnh tượng nào giống như lúc Kotick xông vào các bãi nuôi con. Cậu lao thẳng vào con Hải Cẩu Đực lớn nhất mình tìm thấy, ngoạm cổ, siết nghẹt, thúc rồi nện nó cho tới khi nó rên lên xin tha, sau đó quẳng nó sang một bên và tấn công con kế tiếp. Bạn thấy đấy, Kotick chưa từng nhịn ăn bốn tháng như những con hải cẩu lớn vẫn làm mỗi năm; những chuyến bơi ngoài biển sâu lại giữ cho cậu một thể lực hoàn hảo; và hay hơn hết, trước đó cậu chưa bao giờ đánh nhau. Chiếc bờm trắng xoăn dựng lên vì thịnh nộ, đôi mắt cậu rực lửa, những chiếc răng nanh lớn óng ánh, và trông cậu thật lẫm liệt. Hải Cẩu Đực già, cha cậu, thấy cậu ào qua, lôi những con hải cẩu già lông hoa râm đi như thể chúng chỉ là cá bơn, hất đám trai trẻ độc thân ngã lăn tứ phía; ông liền gầm vang: “Nó có thể là một thằng ngốc, nhưng nó là tay đánh cừ nhất trên các bãi biển! Đừng xông vào cha nhé, con trai! Cha đứng về phía con!”
Kotick gầm lên đáp lại, và Hải Cẩu Đực già lạch bạch xông vào, ria dựng ngược, thở phì phò như đầu máy xe lửa; trong khi Matkah và nàng hải cẩu sắp lấy Kotick nép mình xuống, say mê ngắm những đấng mày râu của họ. Đó là một trận đánh huy hoàng, bởi hai cha con đánh chừng nào còn có một con hải cẩu dám ngẩng đầu; và khi không còn con nào nữa, họ hiên ngang đi đi lại lại dọc bãi biển, vai kề vai, cùng rống vang.
Đêm xuống, đúng lúc Bắc Cực quang nhấp nháy và lóe sáng xuyên qua màn sương, Kotick trèo lên một tảng đá trơ trụi, nhìn xuống những bãi nuôi con tan tác cùng những con hải cẩu rách da, đổ máu. “Giờ thì,” cậu nói, “ta đã dạy cho các ngươi một bài học.”
“Ôi trời đất ơi!” Hải Cẩu Đực già nói, nhọc nhằn chống mình đứng lên, bởi ông đã bị đánh tơi tả. “Chính Cá Voi Sát Thủ cũng không thể làm chúng tan nát hơn thế. Con trai, cha tự hào về con; hơn nữa, cha sẽ đi cùng con tới hòn đảo ấy—nếu quả thật có một nơi như vậy.”
“Nghe đây, lũ lợn biển béo ú. Kẻ nào sẽ theo ta tới đường hầm của Bò Biển? Trả lời đi, nếu không ta sẽ dạy các ngươi thêm một lần nữa,” Kotick gầm vang.
Dọc khắp các bãi biển dấy lên tiếng rì rầm như thủy triều gợn sóng. “Chúng tôi sẽ đi,” hàng nghìn giọng mệt mỏi cất lên. “Chúng tôi sẽ theo Kotick, Hải Cẩu Trắng.”
Bấy giờ Kotick rụt đầu giữa hai vai và kiêu hãnh nhắm mắt lại. Cậu không còn là một con hải cẩu trắng nữa, mà đỏ lòm từ đầu đến đuôi. Dẫu vậy, cậu hẳn sẽ khinh không thèm nhìn hay chạm vào bất kỳ vết thương nào của mình.
Một tuần sau, cậu cùng đạo quân của mình—gần mười nghìn holluschickie và hải cẩu già—lên đường đi về phía bắc tới đường hầm của Bò Biển, Kotick dẫn đầu; còn những con ở lại Novastoshnah gọi họ là lũ ngốc. Nhưng mùa xuân năm sau, khi tất cả gặp nhau ngoài các bãi cá Thái Bình Dương, bầy hải cẩu của Kotick kể những câu chuyện kỳ diệu đến thế về các bãi biển mới bên kia đường hầm của Bò Biển, khiến ngày càng nhiều hải cẩu rời Novastoshnah. Dĩ nhiên mọi chuyện không diễn ra ngay một lúc, bởi hải cẩu không được thông minh cho lắm và cần rất nhiều thời gian để suy đi tính lại; nhưng năm này qua năm khác, ngày càng nhiều hải cẩu rời Novastoshnah, Lukannon và những bãi nuôi con khác, tới các bãi biển yên tĩnh, kín gió, nơi Kotick ngồi suốt mùa hè, mỗi năm một lớn hơn, béo hơn và khỏe hơn, trong khi đám holluschickie nô đùa quanh cậu, giữa vùng biển không một bóng người.