Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils — Chương 12: Con bướm lớn
Chương 12 / 43 · Bài review Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils
_Thứ Tư, ngày sáu tháng Tư_.
Đàn ngỗng bay dọc bờ hòn đảo dài, hiện rõ mồn một bên dưới. Suốt chuyến đi, cậu bé thấy vui vẻ, lòng nhẹ nhõm. Cậu hài lòng, mãn nguyện bao nhiêu thì hôm trước, khi lang thang dưới đảo tìm ngỗng đực, cậu lại ủ ê và suy sụp bấy nhiêu.
Giờ cậu thấy phần trong đảo là một cao nguyên cằn cỗi, chung quanh bờ có một vành đất màu mỡ; và cậu bắt đầu hiểu ý nghĩa của một câu chuyện mình đã nghe tối hôm nọ.
Khi ấy, cậu vừa ngồi xuống nghỉ chốc lát cạnh một trong vô số cối xay gió trên vùng đất cao thì hai người chăn cừu đi tới, bên cạnh có đàn chó, phía sau là một đàn cừu lớn. Cậu bé không sợ vì được che kín dưới cầu thang cối xay. Nhưng hóa ra hai người chăn cừu lại tới ngồi trên chính cầu thang ấy, khiến cậu chẳng còn cách nào khác ngoài việc giữ im lặng tuyệt đối.
Một người chăn cừu còn trẻ và nom cũng giống phần đông mọi người; người kia là một ông già kỳ quặc. Thân ông to lớn, gân guốc, nhưng đầu lại nhỏ, gương mặt có những đường nét tinh tế, nhạy cảm. Dường như thân thể và cái đầu hoàn toàn không muốn ăn khớp với nhau.
Có lúc ông ngồi im lặng nhìn vào sương mù với vẻ mệt mỏi không sao tả xiết. Rồi ông bắt đầu nói với người bạn đồng hành. Người kia lấy ít bánh mì và phô mai từ túi ra ăn bữa tối. Anh hầu như không đáp lời, nhưng nghe hết sức kiên nhẫn, như thể đang nghĩ: “Đằng nào cũng nên để ông được vui mà huyên thuyên một lát.”
“Giờ tôi sẽ kể anh nghe một chuyện, Eric,” người chăn cừu già nói. “Tôi đã suy ra rằng thuở trước, khi cả con người lẫn loài vật đều lớn hơn bây giờ rất nhiều, bướm hẳn cũng phải lớn khác thường. Từng có một con bướm dài nhiều dặm, đôi cánh rộng như biển. Cánh nó màu xanh lam, sáng như bạc và lộng lẫy đến mức mỗi khi bướm bay, mọi loài vật khác đều đứng im nhìn ngắm. Tuy nhiên, nó có một bất lợi: nó quá lớn. Đôi cánh phải nhọc nhằn lắm mới mang nổi thân mình. Nhưng có lẽ mọi việc vẫn sẽ tốt đẹp nếu bướm đủ khôn ngoan để ở lại bên sườn đồi. Nó lại không làm thế mà liều lĩnh bay ra biển Baltic. Chưa đi được bao xa, bão đã kéo tới, bắt đầu giằng xé đôi cánh. Eric ạ, dễ hiểu thôi, mọi chuyện sẽ ra sao khi bão biển Baltic vật lộn với cánh bướm mong manh. Chẳng bao lâu, đôi cánh bị xé rời và tản mát; rồi dĩ nhiên con bướm tội nghiệp rơi xuống biển. Ban đầu nó bị sóng quăng qua quật lại, sau đó mắc cạn trên vài nền đá ngoài khơi Småland. Và nó nằm đó — khổng lồ và dài rộng như vốn thế.”
“Eric này, tôi nghĩ nếu con bướm rơi trên đất liền, chẳng bao lâu nó sẽ thối rữa và tan rã. Nhưng vì rơi xuống biển, toàn thân nó ngấm đầy vôi và cứng lại như đá. Hẳn anh biết chúng ta từng tìm thấy trên bờ những hòn đá chẳng qua là sâu hóa thạch. Tôi tin thân con bướm lớn cũng gặp chuyện tương tự. Tôi tin ngay tại nơi nó nằm, thân nó biến thành một ngọn núi dài, hẹp giữa biển Baltic. Anh có nghĩ vậy không?”
Ông dừng lại chờ câu trả lời, và người kia gật đầu với ông. “Cứ nói tiếp đi, để tôi nghe xem ông muốn dẫn tới đâu,” anh nói.
“Eric, anh hãy nhớ cho rằng chính Öland này, nơi anh và tôi đang sống, chẳng phải gì khác ngoài thân con bướm xưa. Chỉ cần nghĩ kỹ, người ta có thể nhận ra hòn đảo là một con bướm. Về phía bắc, có thể thấy phần thân trước mảnh mai và cái đầu tròn; còn về phía nam là phần thân sau — lúc đầu nở rộng rồi thu dần thành một mũi nhọn.”
Tới đây, ông lại dừng và nhìn người bạn đồng hành với vẻ khá lo lắng, chờ xem anh sẽ đón nhận lời khẳng định ấy ra sao. Nhưng chàng trai vẫn hết sức điềm nhiên ăn tiếp và gật đầu ra hiệu cho ông nói nữa.
“Ngay khi con bướm biến thành đá vôi, hạt của nhiều loài cỏ cây theo gió bay tới, muốn bén rễ trên mình nó. Phải rất lâu mới có thứ khác ngoài cỏ lác mọc được ở đó. Rồi chút chít cừu, hoa hồng đá và bụi gai xuất hiện. Nhưng cho đến ngày nay, cây cỏ trên Alvaret vẫn không mọc nhiều đến mức che kín ngọn núi; đá còn lộ ra nơi này nơi kia. Và chẳng ai có thể nghĩ tới chuyện cày cấy, gieo hạt trên này, nơi lớp đất quá mỏng. Nhưng nếu anh thừa nhận Alvaret cùng những dải thành đá chung quanh được tạo nên từ thân bướm, anh hoàn toàn có quyền hỏi vùng đất nằm bên dưới các dải thành ấy từ đâu mà có.”
“Phải, đúng là chuyện ấy,” người đang ăn nói. “Tôi thật sự muốn biết.”
“Anh phải nhớ Öland đã nằm giữa biển suốt rất nhiều năm; theo thời gian, mọi thứ bị sóng cuốn đi cuốn lại — rong biển, cát và nghêu sò — đều tụ lại quanh nó và nằm lại đó. Rồi đá cùng sỏi từ cả dải thành phía đông lẫn phía tây đổ xuống. Bằng cách ấy, hòn đảo có được những dải bờ rộng, nơi lúa, hoa và cây cối có thể sinh trưởng.”
“Trên này, trên tấm lưng bướm cứng rắn, chỉ có cừu, bò và những chú ngựa nhỏ đi lại. Chỉ te te cùng choi choi sống ở đây; ngoài cối xay gió và vài túp lều đá nơi những người chăn cừu chúng tôi chui vào, chẳng có công trình nào khác. Nhưng dưới bờ biển là những ngôi làng lớn, nhà thờ, giáo xứ, làng chài và cả một thành phố.”
Ông nhìn người kia như dò hỏi. Anh đã ăn xong và đang buộc túi thức ăn lại. “Tôi tự hỏi cuối cùng ông định đưa câu chuyện này tới đâu,” anh nói.
“Tôi chỉ muốn biết một điều này,” người chăn cừu nói, hạ giọng gần như thành tiếng thì thầm, đôi mắt nhỏ nhìn vào sương mù, nom như đã mòn mỏi vì dõi tìm mọi thứ không hề tồn tại. “Tôi chỉ muốn biết liệu những nông dân sống trong các trang trại san sát bên dưới dải thành đá, hay ngư dân bắt cá trích nhỏ ngoài biển, hay thương nhân ở Borgholm, hay khách tắm biển tới đây mỗi mùa hè, hay du khách dạo quanh phế tích lâu đài cổ Borgholm, hay thợ săn đến đây vào mùa thu săn gà gô, hay họa sĩ ngồi trên Alvaret vẽ cừu và cối xay gió — tôi muốn biết liệu có ai trong số họ hiểu rằng hòn đảo này từng là một con bướm bay lượn với đôi cánh lớn lấp lánh hay không.”
“À!” người chăn cừu trẻ đột nhiên nói. “Hẳn phải có người nghĩ tới điều ấy khi ngồi bên rìa dải thành đá vào buổi tối, nghe họa mi cất tiếng líu lo trong những khu rừng nhỏ bên dưới và nhìn qua eo biển Kalmar, rằng hòn đảo này không thể ra đời theo cùng một cách như những hòn đảo khác.”
“Tôi muốn hỏi,” ông già nói, “liệu có ai từng mong gắn cánh cho những cối xay gió — những đôi cánh lớn đến tận trời, lớn đến mức có thể nâng cả hòn đảo khỏi biển và cho nó bay như một con bướm giữa muôn vàn bướm khác.”
“Có lẽ lời ông nói cũng có phần đúng,” chàng trai nói; “bởi vào những đêm hè, khi bầu trời mở rộng trên đảo, đôi lúc tôi thấy như thể hòn đảo muốn nâng mình khỏi biển và bay đi.”
Nhưng khi cuối cùng đã khiến chàng trai chịu nói, ông già lại chẳng mấy lắng nghe. “Tôi muốn biết,” ông khẽ nói, “liệu có ai giải thích được vì sao người ta cảm thấy một niềm khao khát đến thế trên Alvaret. Tôi cảm thấy nó mỗi ngày trong đời; và tôi nghĩ nó gặm nhấm từng người buộc phải đi lại nơi đây. Tôi muốn biết liệu có ai khác hiểu rằng toàn bộ nỗi hoài vọng này bắt nguồn từ việc cả hòn đảo là một con bướm đang mong nhớ đôi cánh của mình hay không.”