Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils — Chương 16: Bầy quạ
Chương 16 / 43 · Bài review Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils
CHIẾC VẠI ĐẤT NUNG
Ở góc tây nam Småland có một tổng tên là Sonnerbo. Đây là một miền đất khá bằng phẳng, đều đặn. Ai nhìn thấy nó vào mùa đông, khi tuyết phủ kín, ắt không thể hình dung dưới lớp tuyết có gì khác ngoài những mảnh vườn, ruộng lúa mạch đen và đồng cỏ ba lá như thường thấy ở các vùng đồng bằng. Nhưng vào đầu tháng Tư, khi tuyết ở Sonnerbo cuối cùng cũng tan, người ta mới nhận ra thứ ẩn dưới đó chỉ là những bãi hoang khô cằn, đầy cát, những doi đá trơ trụi và các đầm lầy rộng lớn. Quả thật đây đó cũng có ruộng, nhưng chúng nhỏ đến mức hầu như chẳng đáng nhắc tới; người ta còn bắt gặp vài nông trại nhỏ màu đỏ hoặc xám nép trong một lùm dẻ gai—gần như thể chúng sợ phải lộ mình.
Nơi tổng Sonnerbo tiếp giáp địa giới Halland có một bãi hoang cát mênh mông đến mức người đứng ở mép bên này không thể nhìn sang mép bên kia. Ngoài thạch nam ra, không cây gì mọc trên bãi hoang ấy, mà muốn dụ loài cây khác bén rễ ở đó cũng chẳng dễ dàng. Trước hết phải nhổ sạch thạch nam; bởi loài cây này là thế: tuy chỉ có một bộ rễ nhỏ quắt queo, những cành con quắt queo và lá khô quắt queo, nó vẫn tưởng mình là cây đại thụ. Vì vậy, nó hành xử chẳng khác gì cây rừng thực thụ—lan rộng thành rừng trên những vùng đất bao la, bền bỉ kết thành một khối và khiến mọi giống cây lạ muốn chen vào lãnh địa của nó đều phải chết.
Nơi duy nhất trên bãi hoang mà thạch nam không nắm trọn quyền lực là một dải gò thấp lổn nhổn đá chạy ngang qua đó. Trên gò mọc những bụi bách xù, cây thanh lương trà và vài cây sồi lớn đẹp đẽ. Vào thời Nils Holgersson chu du cùng đàn ngỗng trời, ở đó có một túp nhà nhỏ với khoảnh đất khai quang bao quanh. Nhưng vì lý do nào đó, những người từng sống tại đây đã dọn đi. Túp nhà bỏ không, còn đất đai nằm hoang hóa.
Khi rời túp nhà, những người thuê đã đóng cửa chắn khói, cài móc cửa sổ và khóa cửa ra vào. Nhưng chẳng ai nghĩ tới ô kính vỡ chỉ được nhét kín bằng một mảnh giẻ. Sau những trận mưa rào của hai mùa hè, mảnh giẻ mốc đi và co lại; cuối cùng, một con quạ đã mổ bật được nó ra.
Dải gò trên bãi thạch nam thật ra không hoang vắng như người ta có thể tưởng, bởi nơi ấy là chỗ cư ngụ của một đại tộc quạ. Dĩ nhiên, đàn quạ không sống ở đó quanh năm. Mùa đông chúng dời tới xứ khác; mùa thu chúng bay từ cánh đồng ngũ cốc này sang cánh đồng ngũ cốc khác khắp Götaland để nhặt hạt; mùa hè chúng tản ra các nông trại trong tổng Sonnerbo, sống bằng trứng, quả mọng và chim non; nhưng mỗi độ xuân về, khi tới mùa làm tổ, chúng lại trở về bãi thạch nam.
Kẻ mổ mảnh giẻ khỏi cửa sổ là một con quạ trống tên Garm Whitefeather; nhưng chẳng ai gọi nó bằng tên nào khác ngoài Fumle, Drumle, hay gọi thẳng là Fumle-Drumle, vì nó lúc nào cũng vụng về, ngớ ngẩn và chẳng được tích sự gì ngoài làm trò cười cho thiên hạ. Fumle-Drumle to khỏe hơn bất kỳ con quạ nào khác, song điều đó chẳng giúp gì cho nó; nó đã là—và vẫn mãi là—một kẻ bị chế giễu. Xuất thân cao quý cũng chẳng đem lại lợi ích gì. Nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ, nó đáng lẽ phải làm thủ lĩnh của cả đàn, bởi từ thuở xa xưa, vinh dự ấy luôn thuộc về con quạ Whitefeather lớn tuổi nhất. Nhưng từ lâu trước khi Fumle-Drumle ra đời, quyền lực đã rời khỏi dòng họ nó và nay nằm trong tay một con quạ hoang tàn ác tên Wind-Rush.
Sự chuyển giao quyền lực này xảy ra vì đàn quạ trên Gò Quạ muốn thay đổi cách sinh sống. Có lẽ nhiều người nghĩ mọi giống quạ đều sống như nhau, nhưng không phải vậy. Có những đại tộc quạ sống rất lương thiện—nghĩa là chúng chỉ ăn hạt, giun, sâu bướm và xác động vật; lại có những đại tộc sống đúng kiểu phường cướp bóc, lao vào thỏ non và chim nhỏ, vét sạch mọi tổ chim lọt vào mắt chúng.
Dòng họ Whitefeather xưa vốn nghiêm khắc và tiết chế; chừng nào họ còn dẫn dắt đàn, lũ quạ buộc phải cư xử sao cho các loài chim khác không thể nói xấu mình. Nhưng quạ thì đông, mà cảnh thiếu thốn giữa chúng lại trầm trọng. Chúng không muốn sống một cuộc đời đạo hạnh nghiêm cẩn đến cùng, nên đã nổi dậy chống dòng họ Whitefeather và trao quyền cho Wind-Rush, kẻ cướp tổ và trộm cắp tồi tệ nhất có thể tưởng tượng—nếu vợ hắn, Wind-Air, không còn tệ hơn. Dưới quyền cai trị của đôi ấy, đàn quạ bắt đầu sống một cuộc đời khiến giờ đây chúng còn đáng sợ hơn cả diều hâu và cú rít.
Dĩ nhiên, Fumle-Drumle chẳng có tiếng nói gì trong đàn. Tất cả lũ quạ đều cho rằng nó không giống tổ tiên chút nào và chẳng hợp làm thủ lĩnh. Sẽ không ai nhắc tới nó nếu nó không liên tục phạm thêm những sai lầm mới. Đôi khi, một vài con khá biết điều bảo có lẽ Fumle-Drumle nên lấy làm may vì nó là một tên ngốc vụng về đến thế; bằng không, Wind-Rush và Wind-Air khó lòng để cho kẻ thuộc dòng dõi thủ lĩnh cũ như nó được ở lại trong đàn.
Trái lại, giờ đây chúng đối xử với nó khá thân thiện và sẵn lòng đưa nó theo trong những chuyến săn. Ở đó, cả bọn đều có thể chứng kiến mình khéo léo và gan dạ hơn nó biết bao.
Không con quạ nào biết chính Fumle-Drumle đã mổ mảnh giẻ khỏi cửa sổ; nếu biết, chúng hẳn sẽ vô cùng kinh ngạc. Chúng chưa bao giờ tin nó dám bén mảng tới chỗ ở của con người. Nó giấu kín chuyện ấy, và có lý do chính đáng để làm vậy. Ban ngày, khi những con khác có mặt, Wind-Rush luôn đối xử tử tế với nó; nhưng trong một đêm tối đen, lúc các bạn quạ đậu trên cành ngủ, một đôi quạ đã tấn công và suýt giết chết nó. Từ đó, đêm nào trời vừa tối, nó cũng rời chỗ ngủ thường lệ để vào túp nhà bỏ hoang.
Một buổi chiều, khi đàn quạ đã sửa sang tổ trên Gò Quạ đâu vào đấy, chúng tình cờ tìm được một vật lạ thường. Wind-Rush, Fumle-Drumle và vài con khác bay xuống một chỗ trũng lớn ở góc bãi hoang. Chỗ trũng ấy chẳng qua là một hố sỏi, nhưng lũ quạ không thể bằng lòng với lời giải thích giản đơn như vậy; chúng cứ bay xuống, bới tung từng hạt cát để tìm hiểu vì sao con người đã đào nó. Trong lúc lũ quạ loay hoay dưới đó, một mảng sỏi từ vách hố sụp xuống. Chúng vội nhào tới và may mắn tìm thấy giữa đám đá cùng rễ cỏ đổ xuống—một chiếc vại đất nung lớn, được khóa bằng một chiếc then gỗ! Dĩ nhiên chúng muốn biết bên trong có gì, nên vừa thử mổ thủng vại vừa tìm cách bẩy then lên, nhưng đều không thành công.
Chúng đứng đó, hoàn toàn bất lực, ngắm nghía chiếc vại thì nghe có kẻ lên tiếng: “Ta xuống giúp các ngươi nhé, lũ quạ?” Chúng vội ngước lên. Trên miệng hố, một con cáo đang ngồi chớp mắt nhìn xuống. Đó là một trong những con cáo đẹp nhất chúng từng thấy—cả về màu lông lẫn vóc dáng. Khuyết điểm duy nhất của nó là đã mất một tai.
“Nếu ngài muốn giúp chúng tôi,” Wind-Rush nói, “chúng tôi sẽ không từ chối.” Cùng lúc đó, nó và những con khác đều bay lên khỏi hố. Con cáo liền nhảy xuống chỗ chúng vừa đứng, lấy răng cắn vại và giằng chiếc then—nhưng nó cũng không mở được.
“Ngài có đoán ra bên trong là gì không?” Wind-Rush hỏi. Con cáo lăn chiếc vại qua lại và chăm chú lắng nghe. “Hẳn là những đồng tiền bạc,” nó đáp.
Điều này vượt quá mọi mong đợi của đàn quạ. “Ngài nghĩ đó có thể là bạc thật sao?” chúng hỏi, đôi mắt gần như lồi khỏi đầu vì thèm khát; bởi nghe có vẻ lạ lùng đến đâu đi nữa, trên đời này không gì được quạ yêu thích bằng những đồng tiền bạc.
“Nghe tiếng nó lách cách này!” con cáo nói và lại lăn chiếc vại một vòng. “Có điều ta không hiểu chúng ta phải làm thế nào mới lấy được số bạc.” “Hẳn là không thể rồi,” đàn quạ nói. Con cáo đứng dụi đầu vào chân trái, trầm ngâm suy tính. Có lẽ giờ đây, nhờ lũ quạ giúp sức, nó sẽ khuất phục được tên tiểu yêu vẫn luôn thoát khỏi tay mình. “Ồ! Ta biết một kẻ có thể mở chiếc vại cho các ngươi,” con cáo nói. “Vậy hãy nói đi! Nói cho chúng tôi biết đi!” đàn quạ kêu lên; chúng kích động đến mức rơi lộn nhào xuống hố. “Ta sẽ nói, nếu trước hết các ngươi hứa chấp nhận điều kiện của ta,” nó đáp.
Bấy giờ con cáo kể cho đàn quạ nghe về Tí Hon và bảo rằng nếu chúng có thể đưa cậu tới bãi hoang, cậu sẽ mở chiếc vại cho chúng. Nhưng để trả công cho lời chỉ dẫn ấy, nó đòi chúng phải giao Tí Hon cho mình ngay sau khi cậu lấy được số tiền bạc ra. Đàn quạ chẳng có lý do gì để tha cho Tí Hon nên lập tức chấp thuận giao kèo. Đồng ý thì dễ, nhưng tìm ra Tí Hon và đàn ngỗng trời đang dừng chân ở đâu lại khó hơn.
Đích thân Wind-Rush dẫn theo năm mươi con quạ bay đi và nói nó sẽ sớm trở về. Nhưng hết ngày này sang ngày khác trôi qua, đàn quạ trên Gò Quạ vẫn chẳng thấy bóng dáng nó đâu.
BỊ QUẠ BẮT CÓC
Thứ Tư, ngày mười ba tháng Tư.
Đàn ngỗng trời thức dậy từ rạng đông để có thời gian kiếm chút thức ăn trước khi lên đường tới Östergötland. Hòn đảo trong Goose-fiord, nơi chúng ngủ qua đêm, vừa nhỏ vừa cằn cỗi, nhưng dưới vùng nước bao quanh đảo mọc đầy những loài cây chúng có thể ăn thỏa thích. Tuy nhiên, tình cảnh của cậu bé lại tệ hơn. Cậu không sao tìm được thứ gì ăn nổi.
Đang đứng đó vừa đói vừa ngái ngủ, nhìn quanh tứ phía, cậu chợt trông thấy một đôi sóc nô đùa trên mũi đất phủ cây, ngay đối diện đảo đá. Cậu tự hỏi liệu lũ sóc còn sót chút thức ăn dự trữ mùa đông nào không, rồi nhờ ngỗng đực trắng chở mình qua mũi đất để xin chúng vài hạt phỉ.
Ngỗng trắng lập tức cõng cậu bơi qua eo nước; nhưng chẳng may, đôi sóc đang mải mê đuổi nhau từ cây này sang cây khác đến mức không buồn nghe cậu nói. Chúng chạy sâu hơn vào lùm cây. Cậu vội đuổi theo và chẳng mấy chốc đã khuất khỏi tầm mắt ngỗng đực—chú vẫn ở lại chờ bên bờ.
Cậu bé lội bước giữa những thân phong quỳ trắng cao tới tận cằm thì cảm thấy có kẻ túm mình từ phía sau và cố nhấc bổng lên. Quay lại, cậu thấy một con quạ đã ngoạm lấy cổ áo mình. Cậu cố vùng thoát, nhưng trước khi làm được, một con quạ khác đã chạy tới, quắp lấy chiếc tất và quật cậu ngã nhào.
Nếu Nils Holgersson kêu cứu ngay, ngỗng đực trắng hẳn đã có thể cứu cậu; nhưng có lẽ cậu nghĩ mình đủ sức tự chống lại hai con quạ mà không cần ai giúp. Cậu đạp chân, vung tay đánh, song lũ quạ không chịu buông và chẳng mấy chốc đã cùng cậu bay lên không. Tệ hơn nữa, chúng bay ẩu đến mức đầu cậu va phải một cành cây. Cậu bị giáng một cú nặng vào đầu, mắt tối sầm rồi bất tỉnh.
Khi mở mắt lần nữa, cậu thấy mình đang ở tít trên cao. Cậu chậm chạp tỉnh trí; thoạt tiên, cậu không biết mình ở đâu hay đang nhìn thấy gì. Nhìn xuống dưới, cậu thấy trải ra bên dưới một tấm thảm len khổng lồ, dệt bằng những mảng xanh lục, đỏ cùng các hoa văn lớn không đều. Tấm thảm rất dày và đẹp, nhưng cậu lấy làm tiếc vì nó bị dùng tệ quá. Nó thật sự đã rách bươm; những vết toạc dài chạy ngang dọc, có chỗ cả mảng lớn bị xé mất. Lạ lùng nhất là tấm thảm dường như được trải trên một sàn gương, bởi dưới những lỗ thủng và vết rách, mặt kính sáng loáng lấp lánh.
Điều tiếp theo cậu bé nhận thấy là mặt trời đang mở dần trên vòm trời. Ngay tức khắc, mặt kính dưới các lỗ thủng và vết rách của tấm thảm bắt đầu lung linh sắc đỏ và vàng. Quang cảnh thật lộng lẫy, và cậu bé mê mẩn trước sự hòa phối màu sắc tuyệt đẹp, dù không hiểu chính xác mình đang nhìn thấy gì. Nhưng lúc này đàn quạ hạ thấp xuống, và cậu lập tức nhận ra tấm thảm lớn bên dưới chính là mặt đất, khoác trên mình những cây lá kim xanh lục, nâu sẫm cùng những cây lá rộng trụi cành; còn các lỗ thủng và vết rách là những vịnh hẹp và hồ nhỏ sáng loáng.
Cậu nhớ lần đầu bay lên không trung, cậu đã nghĩ mặt đất Skåne trông như một mảnh vải kẻ ô. Nhưng vùng đất giống tấm thảm rách này có thể là nơi nào?
Cậu bắt đầu tự hỏi hàng loạt câu hỏi. Tại sao cậu không ngồi trên lưng ngỗng đực? Tại sao một đàn quạ đông nghịt lại bay quanh mình? Và tại sao cậu bị chúng kéo giật, va đập hết bên này sang bên kia đến mức sắp rã cả người?
Rồi đột nhiên, cậu hiểu ra tất cả. Cậu đã bị một đôi quạ bắt cóc. Ngỗng đực trắng vẫn đang chờ bên bờ, còn hôm nay đàn ngỗng trời sẽ bay tới Östergötland. Cậu đang bị mang về hướng tây nam; cậu biết điều đó vì đĩa mặt trời ở phía sau lưng. Tấm thảm rừng rộng lớn trải bên dưới hẳn là Småland.
“Ngỗng đực sẽ ra sao khi mình không thể trông nom cậu ấy?” cậu bé nghĩ, rồi bắt đầu hét gọi lũ quạ, bảo chúng lập tức đưa mình trở lại với đàn ngỗng trời. Cậu không hề lo lắng cho bản thân. Cậu tin chúng bắt mình đi chỉ vì muốn nghịch ác.
Đàn quạ chẳng mảy may để ý tới những lời thúc giục của cậu mà cứ bay nhanh hết sức. Một lát sau, một con trong bọn vỗ cánh theo cách mang ý nghĩa: “Coi chừng! Nguy hiểm!” Ngay sau đó, chúng đáp xuống một rừng vân sam, len lỏi qua các cành gai nhọn tới mặt đất rồi đặt cậu bé dưới một cây vân sam rậm rạp, nơi cậu được che kín đến mức ngay cả chim ưng cũng không thể phát hiện.
Năm mươi con quạ vây quanh cậu, chĩa mỏ về phía cậu để canh giữ. “Giờ có lẽ ta được nghe các ngươi nói xem bắt ta đi để làm gì rồi chứ, lũ quạ?” cậu hỏi. Nhưng cậu chưa kịp nói hết câu, một con quạ lớn đã rít lên: “Im đi! Không thì ta mổ thủng mắt ngươi.”
Rõ ràng con quạ nói thật; cậu bé chẳng còn cách nào khác ngoài nghe lời. Vì thế cậu ngồi đó nhìn chằm chằm đàn quạ, còn đàn quạ cũng nhìn chằm chằm cậu.
Càng nhìn lâu, cậu càng không ưa chúng. Bộ lông của chúng bám bụi, xơ xác đến phát khiếp—như thể chúng không hề biết tắm rửa hay chải dầu là gì. Các ngón chân và móng vuốt cáu bẩn vì bùn khô, khóe mỏ dính đầy vụn thức ăn. Cậu nhận thấy chúng khác xa đàn ngỗng trời. Chúng có vẻ tàn ác, xảo trá, cảnh giác và hung hăng, chẳng khác nào phường giết người cướp của và lũ lang thang vô lại.
“Đúng là mình đã rơi vào tay một băng cướp thật sự,” cậu nghĩ.
Ngay lúc ấy, cậu nghe tiếng gọi của đàn ngỗng trời trên đầu: “Bạn ở đâu? Tôi ở đây. Bạn ở đâu? Tôi ở đây.”
Cậu hiểu Akka và những con khác đã đi tìm mình; nhưng trước khi cậu kịp đáp, con quạ lớn có vẻ là thủ lĩnh cả bọn rít vào tai cậu: “Hãy nhớ tới đôi mắt của ngươi!” Và cậu chẳng còn cách nào khác ngoài im lặng.
Có lẽ đàn ngỗng trời không biết cậu ở gần đến vậy mà chỉ tình cờ bay qua khu rừng này. Cậu còn nghe tiếng gọi của chúng thêm vài lần, rồi tiếng ấy xa dần và tắt hẳn. “Thôi được, giờ mày phải tự xoay xở rồi, Nils Holgersson,” cậu tự nhủ. “Giờ mày phải chứng tỏ xem trong những tuần sống giữa thiên nhiên vừa qua, mày đã học được điều gì.”
Một lát sau, đàn quạ ra hiệu lên đường; và vì dường như chúng vẫn định mang cậu đi theo cách một con ngoạm cổ áo, con kia quắp chiếc tất, cậu bé nói: “Trong các ngươi không có ai đủ khỏe để cõng ta trên lưng sao? Các ngươi đã mang ta đi tệ đến mức người ta tưởng như vỡ ra từng mảnh rồi. Cứ để ta cưỡi đi! Ta hứa sẽ không nhảy khỏi lưng quạ.”
“Ồ! Ngươi đừng tưởng bọn ta quan tâm ngươi dễ chịu hay khổ sở,” tên thủ lĩnh nói. Nhưng lúc này, con lớn nhất trong đàn—một kẻ xù xì, thô kệch, trên cánh có chiếc lông trắng—tiến lên và nói: “Wind-Rush, nếu Tí Hon tới nơi nguyên vẹn thay vì chỉ còn một nửa thì hẳn sẽ tốt hơn cho tất cả chúng ta; vì vậy, tôi sẽ cõng nó trên lưng.” “Nếu ngươi làm nổi thì ta không phản đối, Fumle-Drumle,” Wind-Rush nói. “Nhưng đừng để mất nó!”
Chỉ vậy thôi, tình hình đã khá lên nhiều, và cậu bé thật sự lại thấy phấn chấn. “Chẳng được ích gì nếu mình mất hết can đảm chỉ vì bị quạ bắt cóc,” cậu nghĩ. “Mình nhất định sẽ đối phó được với lũ sinh vật nhỏ bé đáng thương ấy.”
Đàn quạ tiếp tục bay về phía tây nam, ngang qua Småland. Đó là một buổi sáng huy hoàng—trời nắng và lặng gió; dưới mặt đất, chim chóc đang cất lên những khúc tình ca hay nhất. Trong một khu rừng cao rậm tối, một chú chim hoét đậu với đôi cánh rủ xuống, cổ họng căng phồng, cất hết điệu này sang điệu khác. “Nàng đẹp làm sao! Nàng đẹp làm sao! Nàng đẹp làm sao!” chú hót. “Không ai đẹp bằng nàng. Không ai đẹp bằng nàng. Không ai đẹp bằng nàng.” Vừa hát xong khúc ấy, chú lại bắt đầu từ đầu.
Nhưng đúng lúc ấy, cậu bé cưỡi quạ bay qua khu rừng; sau khi nghe khúc hát đôi lần và nhận ra chim hoét chẳng biết bài nào khác, cậu khum hai tay trước miệng làm loa rồi gọi xuống: “Chúng tôi nghe cả rồi. Chúng tôi nghe cả rồi.” “Ai đó? Ai đó? Ai đó? Kẻ nào chế giễu ta?” chim hoét hỏi và cố nhìn xem ai vừa gọi. “Kẻ-Bị-Quạ-Bắt-Cóc đang chế giễu bài hát của anh,” cậu bé đáp. Nghe vậy, thủ lĩnh quạ quay đầu nói: “Hãy coi chừng đôi mắt của ngươi, Tí Hon!” Nhưng cậu bé nghĩ: “Ồ! Mình chẳng bận tâm. Mình muốn cho chúng biết mình không sợ!”
Chúng bay càng lúc càng sâu vào đất liền; nơi đâu cũng có rừng và hồ. Trong một lùm bạch dương, chú bồ câu rừng đậu trên cành trụi lá, trước mặt là nàng bồ câu. Chú xù lông, nghẹo đầu, nâng lên hạ xuống thân mình cho tới khi lông ngực cọ vào cành kêu xào xạc. Suốt lúc ấy, chú gù: “Nàng, nàng, nàng là người đáng yêu nhất cả khu rừng. Trong rừng không ai đáng yêu bằng nàng, nàng, nàng!”
Nhưng trên không, cậu bé cưỡi quạ bay qua, và vừa nghe chàng Bồ Câu, cậu đã không thể im lặng. “Đừng tin anh ta! Đừng tin anh ta!” cậu hét lên.
“Kẻ nào, kẻ nào, kẻ nào nói dối về ta?” chàng Bồ Câu gù lên và cố nhìn cho ra kẻ vừa gào với mình. “Kẻ-Bị-Quạ-Tóm nói dối về anh đấy,” cậu bé đáp. Wind-Rush lại quay đầu về phía cậu, ra lệnh im miệng, nhưng Fumle-Drumle đang cõng cậu nói: “Cứ để nó huyên thuyên; như vậy tất cả chim nhỏ sẽ tưởng loài quạ chúng ta đã trở thành những con chim nhanh trí, vui tính.” “Ồ! Chúng cũng đâu có ngốc đến thế,” Wind-Rush nói, nhưng nó vẫn thích ý tưởng ấy, bởi từ đó về sau nó để mặc cậu bé tha hồ gọi xuống.
Chúng chủ yếu bay qua rừng rậm và những miền cây cối, nhưng ở bìa rừng cũng có nhà thờ, làng xóm cùng những túp nhà nhỏ. Tại một nơi, chúng trông thấy một trang viên cổ xinh đẹp. Trang viên nằm với rừng ở phía sau, biển ở phía trước; tường sơn đỏ, mái có tháp nhỏ; quanh khuôn viên là những cây phong lớn, còn trong vườn mọc đầy những bụi lý gai to rậm. Trên đỉnh chong chóng chỉ gió, chú sáo đá đậu hót vang đến mức từng nốt đều vọng tới tai con mái đang ấp trứng giữa một cây lê. “Chúng ta có bốn quả trứng bé xinh,” chú sáo hót. “Chúng ta có bốn quả trứng bé xinh tròn trĩnh. Cả tổ chúng ta đầy những quả trứng thật đẹp.”
Khi chú sáo hát bài ấy đến lần thứ một nghìn, cậu bé cưỡi quạ bay qua. Cậu khum hai tay trước miệng làm loa rồi gọi: “Chim ác là sẽ lấy chúng. Chim ác là sẽ lấy chúng.”
“Kẻ nào muốn dọa ta?” chú sáo hỏi, đôi cánh bất an vỗ lên. “Kẻ-Bị-Quạ-Bắt đang dọa anh đấy,” cậu bé nói. Lần này thủ lĩnh quạ không tìm cách bắt cậu im lặng. Trái lại, cả nó lẫn đàn quạ đều khoái chí đến mức cất tiếng quạ quạ đầy thỏa mãn.
Càng vào sâu trong đất liền, những hồ nước càng rộng, đảo và mũi đất càng nhiều. Trên bờ một hồ nọ, chàng vịt trống đứng khom mình bái lạy nàng vịt mái. “Anh sẽ chung thủy với em suốt đời. Anh sẽ chung thủy với em suốt đời,” vịt trống nói. “Chuyện ấy chẳng kéo dài nổi tới cuối hè đâu,” cậu bé hét. “Ngươi là ai?” vịt trống gọi. “Tên ta là Kẻ-Bị-Quạ-Cướp,” cậu bé hét đáp.
Đến giờ ăn trưa, đàn quạ đáp xuống một lùm cây kiếm ăn. Chúng đi quanh tìm thức ăn cho mình, nhưng không con nào nghĩ tới chuyện cho cậu bé chút gì. Bấy giờ Fumle-Drumle ngậm một cành tầm xuân còn vài nụ khô bay tới chỗ thủ lĩnh. “Có thứ này dành cho ông, Wind-Rush,” nó nói. “Món ăn đẹp đẽ này rất hợp với ông.” Wind-Rush khịt mũi khinh miệt. “Ngươi nghĩ ta muốn ăn mấy nụ khô quắt cũ rích sao?” nó hỏi. “Thế mà tôi cứ tưởng ông sẽ thích chúng!” Fumle-Drumle nói rồi quẳng cành tầm xuân đi như thể tuyệt vọng. Nhưng cành cây rơi ngay trước mặt cậu bé, và cậu chẳng chậm trễ, chộp lấy nó ăn cho tới khi no bụng.
Khi ăn xong, đàn quạ bắt đầu chuyện trò. “Ông đang nghĩ gì vậy, Wind-Rush? Hôm nay ông im lặng quá,” một con hỏi thủ lĩnh. “Ta đang nghĩ rằng thuở xưa, tại vùng này có một con gà mái rất yêu quý bà chủ; để làm bà thật vui lòng, nó đi đẻ đầy một ổ trứng rồi giấu dưới sàn kho. Dĩ nhiên bà chủ nhà tự hỏi con gà ở đâu mà đi lâu thế. Bà tìm nhưng không thấy nó. Longbill, ngươi có đoán được ai đã tìm ra nó cùng ổ trứng không?”
“Tôi nghĩ mình đoán được, Wind-Rush; nhưng sau khi ông kể xong chuyện này, tôi sẽ kể một chuyện tương tự. Ông còn nhớ con mèo đen to lớn ở nhà xứ Hinneryd chứ? Nó bất mãn vì người ta luôn bắt lũ mèo con mới đẻ của nó đem dìm nước. Chỉ đúng một lần nó giấu được con, ấy là khi đẻ chúng trong một đống cỏ khô ngoài trời. Nó khá hài lòng với lũ mèo con ấy, nhưng tôi tin mình còn vui thích với chúng hơn cả nó.”
Bấy giờ cả bọn kích động đến mức tranh nhau nói cùng một lúc. “Trộm lũ mèo con thì tài cán gì?” một con nói. “Có lần ta đuổi theo một con thỏ non gần trưởng thành. Phải bám theo nó từ bụi rậm này sang bụi rậm khác đấy.” Nó chưa nói hết thì một con khác đã cướp lời. “Chọc phá gà và mèo có lẽ cũng vui, nhưng ta thấy việc một con quạ có thể quấy nhiễu con người còn đáng kể hơn. Có lần ta đã trộm một chiếc thìa bạc—”
Nhưng lúc này cậu bé thấy mình chẳng việc gì phải ngồi nghe những lời ba hoa ấy. “Này, nghe ta nói đây, lũ quạ!” cậu lên tiếng. “Ta nghĩ các ngươi phải biết xấu hổ khi kể về mọi việc độc ác mình đã làm. Ta sống giữa đàn ngỗng trời ba tuần, và chưa từng nghe hay thấy ở họ bất kỳ điều gì ngoài chuyện tốt lành. Hẳn các ngươi có một thủ lĩnh xấu xa nên hắn mới cho phép các ngươi cướp bóc, giết chóc như vậy. Các ngươi nên bắt đầu sống cuộc đời mới; bởi ta có thể nói cho các ngươi biết rằng con người đã chán ngán thói độc ác của các ngươi đến mức họ đang dốc toàn lực diệt trừ các ngươi. Rồi chẳng bao lâu nữa, giống quạ các ngươi sẽ tận số.”
Khi Wind-Rush và đàn quạ nghe vậy, chúng giận dữ đến mức định xông vào xé cậu thành từng mảnh. Nhưng Fumle-Drumle cười, kêu quạ quạ rồi đứng chắn trước mặt cậu. “Ồ, không, không!” nó nói, nom hoảng sợ tột độ. “Các người nghĩ Wind-Air sẽ nói gì nếu xé Tí Hon thành từng mảnh trước khi nó lấy số tiền bạc ra cho chúng ta?” “Đúng là chỉ có ngươi, Fumle-Drumle, mới sợ giống cái,” Wind-Rush nói. Nhưng dù sao đi nữa, cả nó lẫn những con khác đều để Tí Hon được yên.
Chẳng bao lâu sau, đàn quạ lại lên đường. Cho tới lúc ấy, cậu bé vẫn nghĩ Småland không phải một miền nghèo khó như mình từng nghe. Quả thật nơi đây nhiều rừng và đầy những dải núi, nhưng bên các đảo và hồ vẫn có đất canh tác, còn cảnh hoang vu thật sự thì cậu chưa gặp. Song càng vào sâu trong đất liền, làng mạc và nhà cửa càng thưa thớt. Cuối cùng, cậu tưởng mình đang bay qua một vùng hoang dã thực thụ, nơi chẳng có gì ngoài đầm lầy, bãi hoang và những ngọn đồi phủ bách xù.
Mặt trời đã lặn, nhưng trời vẫn còn sáng rõ khi đàn quạ tới bãi thạch nam rộng lớn. Wind-Rush phái một con bay lên trước báo rằng nó đã thành công; và khi tin ấy truyền đến, Wind-Air cùng vài trăm con quạ từ Gò Quạ bay ra đón đoàn trở về. Giữa tiếng quạ kêu inh tai nhức óc, Fumle-Drumle nói với cậu bé: “Dọc đường ngươi vui tính, hoạt bát đến mức ta thật sự mến ngươi. Vì vậy, ta muốn cho ngươi một lời khuyên hữu ích. Ngay khi chúng ta đáp xuống, ngươi sẽ bị yêu cầu làm một việc có vẻ rất dễ; nhưng hãy coi chừng, đừng làm việc ấy!”
Ngay sau đó, Fumle-Drumle đặt Nils Holgersson xuống đáy một hố cát. Cậu bé gieo mình xuống, lăn qua một vòng rồi nằm im như thể hoàn toàn kiệt sức. Quạ bay rợp quanh cậu nhiều đến mức không khí rì rào như trong một trận cuồng phong, nhưng cậu chẳng ngẩng lên.
“Tí Hon,” Wind-Rush nói, “đứng lên! Ngươi phải giúp bọn ta một việc rất dễ đối với ngươi.”
Cậu bé không nhúc nhích mà giả vờ ngủ. Wind-Rush bèn túm cánh tay cậu, kéo lê qua cát tới một chiếc vại đất nung kiểu cổ đang đặt trong hố. “Đứng lên, Tí Hon,” nó nói, “và mở chiếc vại này!” “Sao các ngươi không để ta ngủ?” cậu bé hỏi. “Ta mệt quá, tối nay chẳng làm nổi việc gì. Hãy đợi tới mai!”
“Mở vại ra!” Wind-Rush vừa nói vừa lay cậu. “Một đứa trẻ nhỏ bé đáng thương thì làm sao mở nổi chiếc vại như thế? Nó lớn bằng cả người ta còn gì.” “Mở ra!” Wind-Rush lại ra lệnh, “nếu không ngươi sẽ phải khốn khổ.” Cậu bé đứng dậy, lảo đảo bước tới chiếc vại, loay hoay với chiếc then rồi buông thõng hai tay. “Thường ngày ta không yếu đến thế,” cậu nói. “Chỉ cần các ngươi cho ta ngủ tới sáng, ta nghĩ mình sẽ mở được chiếc then ấy.”
Nhưng Wind-Rush mất kiên nhẫn, nó xông tới mổ véo vào chân cậu bé. Cậu bé không đời nào chịu để một con quạ đối xử với mình như thế. Cậu giật mạnh thoát ra, lùi lại vài bước, rút dao khỏi vỏ rồi giơ thẳng ra trước mặt. “Ngươi nên cẩn thận thì hơn!” cậu hét với Wind-Rush.
Wind-Rush cũng giận dữ đến mức không thèm tránh mối nguy. Nó lao vào cậu bé như thể đã mù, đâm thẳng vào lưỡi dao đến nỗi mũi dao xuyên qua mắt vào tận đầu. Cậu bé vội rút dao lại, nhưng Wind-Rush chỉ giãy mạnh đôi cánh rồi ngã xuống—chết.
“Wind-Rush chết rồi! Kẻ lạ mặt đã giết thủ lĩnh Wind-Rush của chúng ta!” những con quạ gần nhất kêu lên, và một cảnh hỗn loạn khủng khiếp bùng nổ. Vài con than khóc, những con khác gào đòi báo thù. Cả bọn chạy hoặc chấp chới lao tới chỗ cậu bé, Fumle-Drumle dẫn đầu. Nhưng như thường lệ, nó hành động thật vụng về. Nó chỉ chấp chới, dang cánh che kín cậu bé, ngăn những con khác tiến tới lấy mỏ đâm cậu.
Cậu bé thấy tình thế của mình lúc này thật nguy ngập. Cậu không thể chạy thoát khỏi đàn quạ, mà cũng chẳng có nơi ẩn náu. Chợt cậu nghĩ tới chiếc vại đất nung. Cậu nắm chắc chiếc then và giật nó ra, rồi nhảy vào vại để trốn. Nhưng chiếc vại là một chỗ ẩn nấp tồi tệ, bởi bên trong gần như đầy tới miệng những đồng bạc nhỏ, mỏng. Cậu bé không thể chui xuống đủ sâu, nên cúi người bắt đầu ném tiền ra ngoài.
Cho tới lúc ấy, đàn quạ vẫn vỗ cánh vây kín và mổ cậu; nhưng vừa thấy cậu ném những đồng bạc ra, chúng lập tức quên sạch cơn khát báo thù, vội vàng lao đi nhặt tiền. Cậu bé ném ra từng nắm, còn tất cả lũ quạ—phải, ngay cả chính Wind-Air—đều nhặt lấy. Con nào kiếm được một đồng liền chạy thật nhanh về tổ để giấu đi.
Khi cậu bé đã ném hết những đồng xu bạc khỏi vại, cậu ngước nhìn lên. Trong hố cát chỉ còn lại đúng một con quạ. Đó là Fumle-Drumle, con quạ có chiếc lông trắng trên cánh, kẻ đã cõng Tí Hon. “Ngươi đã giúp ta một việc lớn lao hơn ngươi hiểu,” con quạ nói—bằng một giọng và ngữ điệu hoàn toàn khác hẳn từ trước tới giờ—“và ta muốn cứu mạng ngươi. Hãy ngồi lên lưng ta, ta sẽ đưa ngươi tới một chỗ ẩn náu an toàn qua đêm nay. Ngày mai, ta sẽ thu xếp để ngươi trở về với đàn ngỗng trời.”
TÚP NHÀ
Thứ Năm, ngày mười bốn tháng Tư.
Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, cậu bé thấy mình đang nằm trên một chiếc giường. Nhìn thấy bốn bức tường vây quanh và mái nhà trên đầu, cậu ngỡ mình đã về nhà. “Không biết bao giờ mẹ mới mang cà phê tới,” cậu lẩm bẩm khi vẫn còn nửa tỉnh nửa mê. Rồi cậu nhớ ra mình đang ở trong túp nhà bỏ hoang trên Gò Quạ, và đêm trước Fumle-Drumle có chiếc lông trắng đã cõng cậu tới đây.
Toàn thân cậu bé đau nhức sau hành trình ngày hôm trước, và cậu thấy thật dễ chịu khi được nằm yên chờ Fumle-Drumle, kẻ đã hứa sẽ tới đón mình.
Những tấm rèm vải bông kẻ ô buông trước giường, cậu vén chúng sang bên để nhìn ra trong túp nhà. Cậu lập tức nhận ra mình chưa từng thấy căn nhà nào giống nơi này. Tường nhà chỉ gồm vài hàng thân gỗ, rồi ngay phía trên đã là mái nhà. Bên trong không có trần nên cậu có thể nhìn thẳng lên tận đòn nóc. Túp nhà nhỏ đến mức dường như nó được dựng cho một kẻ như cậu hơn là cho người thường. Thế nhưng lò sưởi và ống khói lại lớn đến nỗi cậu nghĩ mình chưa từng thấy cái nào lớn hơn. Cửa ra vào nằm trên bức tường đầu hồi cạnh lò sưởi và hẹp đến mức giống một cửa ngách hơn là cửa chính. Ở bức tường đầu hồi bên kia, cậu thấy một khung cửa sổ thấp, rộng với nhiều ô kính. Trong nhà hầu như không có đồ đạc nào có thể di chuyển. Chiếc ghế dài dọc một bên tường và chiếc bàn dưới cửa sổ đều được gắn cố định—cả chiếc giường lớn nơi cậu nằm cùng chiếc tủ nhiều màu cũng vậy.
Cậu bé không khỏi tự hỏi túp nhà thuộc về ai và vì sao nó bị bỏ hoang. Quả thật mọi thứ trông như thể những người từng sống ở đây vẫn mong ngày trở lại. Bình cà phê và nồi nấu cháo còn đặt trên bếp, trong lò sưởi vẫn có ít củi; chiếc cào lò và xẻng đưa bánh vào lò dựng trong một góc; guồng quay sợi được đặt cao trên ghế dài; trên kệ phía trên cửa sổ có xơ gai và sợi lanh, vài con sợi, một cây nến cùng một bó diêm.
Phải, nơi đây chắc chắn trông như thể những người từng sống trong nhà vẫn định quay lại. Trên giường còn nguyên chăn nệm; trên tường vẫn treo những dải vải dài, vẽ ba kỵ sĩ tên Kasper, Melchior và Baltasar. Những con ngựa và kỵ sĩ ấy được họa đi họa lại nhiều lần. Họ cưỡi ngựa vòng quanh cả túp nhà và còn tiếp tục cuộc hành trình lên tận những thanh xà.
Nhưng trên mái, cậu bé nhìn thấy một thứ khiến mình tỉnh hẳn trong nháy mắt. Đó là đôi bánh tròn lớn treo trên một cây xiên. Chúng trông cũ kỹ, mốc meo, nhưng dù sao vẫn là bánh mì. Cậu dùng chiếc cào lò gõ vào, và một mảnh bánh rơi xuống sàn. Cậu ăn rồi nhét đầy bánh vào túi. Dù thế nào đi nữa, bánh mì quả thật ngon đến khó tin.
Cậu lại nhìn quanh túp nhà, cố tìm xem còn thứ gì hữu ích có thể mang theo. “Đằng nào cũng chẳng ai cần tới chúng, mình cứ lấy những gì cần dùng,” cậu nghĩ. Nhưng phần lớn đồ vật đều quá to và nặng. Có lẽ những thứ duy nhất cậu mang nổi chỉ là vài que diêm.
Cậu trèo lên bàn, đu theo những tấm rèm để lên bậu cửa sổ. Trong lúc cậu đứng đó nhét diêm vào túi, con quạ có chiếc lông trắng bay qua cửa sổ vào nhà. “Chà, cuối cùng ta cũng tới,” Fumle-Drumle nói khi đậu xuống bàn. “Ta không thể tới sớm hơn vì đại tộc quạ chúng ta vừa bầu một thủ lĩnh mới thay Wind-Rush.” “Các vị đã chọn ai?” cậu bé hỏi. “Chà, chúng ta chọn một kẻ sẽ không dung thứ cướp bóc và bất công. Chúng ta đã bầu Garm Whitefeather, kẻ mới đây còn bị gọi là Fumle-Drumle,” nó đáp, vươn thẳng người cho tới khi nom thật sự oai vệ như bậc quân vương. “Đó là một lựa chọn tốt,” cậu bé nói và chúc mừng nó. “Ngươi nên chúc ta may mắn,” Garm nói; rồi nó kể cho cậu nghe mọi chuyện chúng đã trải qua với Wind-Rush và Wind-Air.
Trong lúc nghe kể, cậu bé chợt nghe một giọng bên ngoài cửa sổ mà cậu thấy quen thuộc. “Nó ở đây chứ?” con cáo hỏi. “Phải, nó đang trốn trong đó,” một giọng quạ đáp. “Cẩn thận, Tí Hon!” Garm kêu lên. “Wind-Air đang đứng ngoài kia với con cáo muốn ăn thịt ngươi.” Nó không kịp nói thêm, bởi Smirre đã lao sầm vào cửa sổ. Khung cửa cũ mục bật tung, và chỉ một giây sau Smirre đã đứng trên chiếc bàn dưới cửa sổ. Garm Whitefeather không kịp bay đi, bị nó giết chết tức khắc. Sau đó, nó nhảy xuống sàn và nhìn quanh tìm cậu bé. Cậu cố trốn sau một cuộn xơ gai lớn, nhưng Smirre đã trông thấy và đang thu mình chuẩn bị cho cú vồ cuối cùng. Túp nhà nhỏ và thấp đến mức cậu bé hiểu con cáo có thể chạm tới mình chẳng chút khó khăn. Nhưng đúng lúc ấy, cậu không phải không có vũ khí tự vệ. Cậu nhanh tay quẹt một que diêm, châm vào rèm cửa, rồi khi rèm bốc cháy, cậu ném chúng xuống người Cáo Smirre. Khi lửa bao lấy mình, con cáo kinh hoàng đến phát cuồng. Nó không còn nghĩ tới cậu bé mà cuống cuồng lao khỏi túp nhà.
Nhưng dường như cậu bé vừa thoát một mối nguy đã tự đẩy mình vào một mối nguy lớn hơn. Từ búi xơ gai cậu ném vào Smirre, lửa bén sang màn giường. Cậu nhảy xuống, cố dập tắt, nhưng lúc này ngọn lửa lan quá nhanh. Túp nhà chẳng mấy chốc đầy khói; Cáo Smirre vẫn nấn ná ngay ngoài cửa sổ bắt đầu hiểu rõ tình thế bên trong. “Chà, Tí Hon,” nó gọi vào, “giờ ngươi chọn cách nào: bị nướng sống trong đó hay ra đây với ta? Dĩ nhiên, ta thích được hưởng thú vui ăn thịt ngươi hơn; nhưng dù cái chết đến với ngươi theo cách nào, ta cũng vui lòng.”
Cậu bé không thể không cho rằng con cáo nói đúng, vì lửa đang lan rất nhanh. Cả chiếc giường giờ đã bốc cháy, khói cuộn lên từ sàn nhà; dọc những dải vải vẽ trên tường, lửa bò từ kỵ sĩ này sang kỵ sĩ khác. Cậu bé nhảy lên lò sưởi và cố mở cửa lò thì nghe một chiếc chìa khóa chậm rãi xoay trong ổ khóa. Hẳn có người đang tới. Trong cơn nguy cấp tột cùng ấy, cậu không hề sợ hãi mà chỉ thấy mừng. Cậu đã ra đến ngưỡng cửa khi cánh cửa mở ra. Cậu nhìn thấy hai đứa trẻ đối diện mình; nhưng không kịp xem chúng phản ứng ra sao khi thấy túp nhà bốc cháy, cậu lao vụt qua chúng ra ngoài trời.
Cậu không dám chạy xa. Dĩ nhiên cậu biết Cáo Smirre đang rình mình và hiểu rằng phải ở gần hai đứa trẻ. Cậu quay lại xem chúng là hạng người nào, nhưng mới nhìn chưa đầy một giây đã chạy tới kêu lên: “Ôi, xin chào Osa, cô bé chăn ngỗng! Ôi, xin chào Mats bé nhỏ!”
Bởi khi nhìn thấy hai đứa trẻ ấy, cậu bé hoàn toàn quên mất mình đang ở đâu. Đàn quạ, túp nhà cháy và những con vật biết nói đều biến khỏi trí nhớ. Cậu đang đi trên cánh đồng gốc rạ ở Tây Vemminghög, chăn một đàn ngỗng; bên cạnh cậu ngoài đồng là chính hai đứa trẻ Småland ấy cùng đàn ngỗng của chúng. Vừa trông thấy hai chị em, cậu liền chạy lên bờ tường đá và gọi lớn: “Ôi, xin chào Osa, cô bé chăn ngỗng! Ôi, xin chào Mats bé nhỏ!”
Nhưng khi hai đứa trẻ thấy một sinh vật bé tí như thế dang tay chạy tới, chúng túm lấy nhau, lùi lại vài bước và trông khiếp đảm đến chết lặng.
Nhận thấy nỗi kinh hoàng của chúng, cậu bé bừng tỉnh và nhớ ra mình là ai. Bấy giờ, cậu cảm thấy không gì có thể tồi tệ hơn việc hai đứa trẻ này nhìn thấy mình đã bị phù phép ra sao. Nỗi hổ thẹn và đau buồn vì không còn là con người lấn át cậu. Cậu quay mình bỏ chạy, chẳng biết đi đâu.
Nhưng một cuộc hội ngộ vui mừng đang chờ cậu bé khi cậu chạy xuống bãi hoang. Ở đó, giữa thạch nam, cậu thoáng thấy một vật màu trắng; và ngỗng đực trắng đang tiến về phía cậu, Dunfin đi cùng. Khi thấy cậu bé chạy nhanh đến thế, ngỗng trắng tưởng những ác quỷ khủng khiếp đang đuổi theo cậu. Chú vội hất cậu lên lưng rồi cõng cậu bay đi.