Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils — Chương 3: Cuộc hành trình kỳ diệu của Nils
Chương 3 / 43 · Bài review Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils
Ở NÔNG TRẠI
_Thứ Năm, ngày hai mươi bốn tháng Ba_.
Đúng vào thời gian ấy, tại Skåne xảy ra một chuyện khiến người ta bàn tán rất nhiều, thậm chí còn được đăng lên báo; nhưng không ít người cho đó chỉ là chuyện bịa, bởi họ không sao giải thích nổi.
Chuyện đại khái thế này: Một cô sóc bị bắt trong bụi cây phỉ mọc bên bờ hồ Vomb và được mang về một nông trại gần đó. Mọi người trong trại — từ già đến trẻ — đều thích thú trước sinh vật xinh xắn có chiếc đuôi rậm, đôi mắt thông minh, tò mò và những bàn chân nhỏ nhắn gọn ghẽ. Họ định suốt mùa hè sẽ tiêu khiển bằng cách ngắm những động tác nhanh nhẹn của nó, cách nó khéo léo bóc vỏ hạt và những trò đùa ngộ nghĩnh. Họ lập tức sửa sang một chiếc lồng sóc cũ, bên trong có ngôi nhà nhỏ màu xanh và một bánh xe hình trụ bằng dây thép. Ngôi nhà nhỏ có cả cửa ra vào lẫn cửa sổ sẽ là phòng ăn và phòng ngủ của cô sóc. Vì thế, họ đặt vào đó một ổ lá, một bát sữa và vài hạt dẻ. Còn chiếc bánh xe hình trụ sẽ là nơi vui chơi để nó chạy, trèo và quay vòng.
Mọi người tin rằng mình đã thu xếp cho cô sóc một chỗ ở rất tiện nghi, nên vô cùng ngạc nhiên khi nó chẳng có vẻ gì mãn nguyện; trái lại, nó cứ buồn bã, ủ rũ ngồi trong một góc phòng. Thỉnh thoảng nó lại bật ra một tiếng kêu lanh lảnh, đau đớn. Nó không hề đụng tới thức ăn, cũng chẳng quay bánh xe lấy một lần. “Có lẽ vì nó đang sợ,” những người trong trại nói. “Ngày mai, khi đã quen chỗ hơn, nó sẽ ăn và chơi thôi.”
Trong lúc ấy, những người phụ nữ ở nông trại đang sửa soạn một bữa tiệc; và đúng ngày cô sóc bị bắt, họ bận rộn làm một mẻ bánh thật công phu. Có việc gì đó không được suôn sẻ: hoặc bột không chịu nở, hoặc họ đã chậm tay, nên phải làm việc mãi tới khuya.
Dĩ nhiên, trong bếp vô cùng náo nhiệt và tất bật, có lẽ chẳng ai dành thời gian nghĩ đến cô sóc hay tự hỏi nó ra sao. Nhưng trong nhà có một bà lão đã quá tuổi để góp tay làm bánh; chính bà cũng hiểu điều ấy, song vẫn chẳng vui gì khi bị gạt ra ngoài cuộc. Bà hơi buồn lòng; vì thế bà không đi ngủ mà ngồi bên cửa sổ phòng khách nhìn ra ngoài.
Vì trời nóng, họ mở cửa bếp; một luồng sáng trong trẻo từ đó rọi ra sân, chiếu rõ đến mức bà lão nhìn thấy từng vết nứt, từng lỗ hổng trên lớp vữa của bức tường đối diện. Bà cũng thấy chiếc lồng sóc treo ngay nơi ánh sáng rơi xuống rõ nhất. Bà để ý thấy suốt đêm cô sóc cứ chạy từ phòng mình sang bánh xe, rồi từ bánh xe trở lại phòng, không ngừng lấy một giây. Bà nghĩ con vật hẳn đang bồn chồn một cách lạ lùng; nhưng dĩ nhiên, bà cho rằng ánh sáng quá mạnh đã khiến nó không ngủ được.
Giữa chuồng bò và chuồng ngựa có một cánh cổng xe ngựa rộng rãi, đẹp đẽ; nơi ấy cũng nằm trong quầng sáng. Khi đêm dần trôi, bà lão trông thấy một sinh vật nhỏ xíu, không lớn hơn một gang tay, đang thận trọng lẻn qua cổng. Cậu mặc quần da và đi guốc gỗ như bất kỳ người lao động nào. Bà lão nhận ra ngay đó là thần lùn và không hề sợ hãi. Bà vẫn nghe nói thần lùn sống đâu đó quanh nông trại, dù trước đây chưa từng nhìn thấy; mà thần lùn xuất hiện ở đâu thì dĩ nhiên sẽ mang may mắn đến đó.
Vừa bước vào khoảng sân lát đá, thần lùn chạy thẳng tới lồng sóc. Vì chiếc lồng treo quá cao, cậu không sao với tới, nên sang nhà kho lấy một cây sào, dựng nó tựa vào lồng rồi đu mình lên — hệt như thủy thủ trèo dây. Tới được chiếc lồng, cậu lay cửa ngôi nhà nhỏ màu xanh như muốn mở ra; nhưng bà lão không nhúc nhích, bởi bà biết lũ trẻ đã khóa cửa bằng ổ khóa vì sợ đám con trai ở các nông trại bên cạnh sẽ tìm cách lấy trộm cô sóc. Bà thấy khi cậu bé không mở được cửa, cô sóc liền bước ra bánh xe dây thép. Ở đó, hai bên trò chuyện với nhau thật lâu. Sau khi nghe hết những điều con vật bị giam cầm muốn nói, cậu bé trượt theo cây sào xuống đất rồi chạy ra ngoài qua cổng xe ngựa.
Bà lão không trông đợi sẽ còn thấy thần lùn trong đêm ấy, tuy vậy bà vẫn ngồi bên cửa sổ. Vài phút sau, cậu quay lại. Cậu vội vã đến mức bà có cảm giác hai chân cậu hầu như không chạm đất, và cậu lao thẳng tới lồng sóc. Với đôi mắt nhìn xa còn tinh tường, bà lão thấy cậu rất rõ; bà cũng thấy cậu cầm vật gì đó trong tay, nhưng không thể hình dung đó là gì. Cậu đặt vật cầm trong tay trái xuống sân, còn vật trong tay phải thì mang theo lên lồng. Cậu dùng guốc gỗ đá mạnh vào ô cửa sổ nhỏ đến vỡ kính, rồi đẩy vật đang cầm vào trong cho cô sóc. Sau đó cậu lại trượt xuống, nhặt vật đã để trên mặt đất và cũng mang nó trèo lên lồng. Ngay sau đó, cậu lại chạy đi nhanh đến mức bà lão gần như không thể dõi mắt theo.
Nhưng giờ đây chính bà lão không thể ngồi yên trong nhà thêm nữa; bà chậm rãi đi ra sân sau và đứng trong bóng tối bên chiếc máy bơm để chờ thần lùn trở lại. Còn một kẻ khác cũng đã nhìn thấy cậu và sinh tò mò: đó là con mèo nhà. Nó rón rén bò tới rồi dừng sát bức tường, chỉ cách luồng sáng hai bước chân. Cả hai đứng chờ thật lâu và kiên nhẫn trong đêm tháng Ba lạnh giá. Bà lão vừa bắt đầu nghĩ đến chuyện quay vào nhà thì nghe tiếng lách cách trên sân lát đá, và thấy thần lùn bé xíu lại chạy lon ton tới, mỗi tay mang một vật như lần trước. Những vật cậu mang theo vừa kêu chít chít vừa giãy giụa. Bấy giờ bà lão chợt hiểu ra. Bà biết thần lùn đã vội chạy xuống bụi cây phỉ, mang các con của cô sóc về để chúng khỏi chết đói, và cậu đang đưa chúng đến với mẹ.
Bà lão đứng im phăng phắc để không làm họ kinh động; thần lùn dường như cũng không nhận thấy bà. Cậu vừa định đặt một sóc con xuống đất để có thể mang con kia đu mình lên lồng thì trông thấy đôi mắt xanh của mèo nhà lóe sáng ngay bên cạnh. Cậu đứng sững, bối rối, mỗi tay ôm một sóc con.
Cậu quay lại nhìn khắp mọi hướng rồi nhận ra bà lão đang ở đó. Cậu không do dự lâu mà bước tới, vươn hai tay cao hết mức để bà đón lấy một con sóc nhỏ.
Bà lão không muốn tỏ ra mình không xứng với lòng tin ấy, nên cúi xuống nhận sóc con và đứng ôm nó trong lúc cậu bé đu mình lên lồng cùng con còn lại. Sau đó cậu quay xuống đón lại con đã giao cho bà chăm nom.
Sáng hôm sau, khi mọi người trong nông trại tụ họp ăn điểm tâm, bà lão không sao nén được, bèn kể cho họ nghe chuyện mình đã thấy đêm qua. Dĩ nhiên, tất cả đều cười bà và nói bà chỉ nằm mơ. Vào thời điểm sớm thế này trong năm thì làm gì đã có sóc con.
Nhưng bà biết chắc mình không lầm và nài họ nhìn vào lồng sóc. Họ làm theo, và trên ổ lá có bốn con sóc bé xíu, nửa trụi lông, mắt mới hé, ít nhất cũng đã được vài ngày tuổi.
Khi chính người chủ trại nhìn thấy lũ sóc con, ông nói: “Dẫu đầu đuôi chuyện này ra sao, có một điều chắc chắn: người trong nông trại chúng ta đã cư xử đến mức phải hổ thẹn trước cả loài vật lẫn con người.” Nói rồi, ông đưa sóc mẹ cùng đàn con ra khỏi lồng và đặt tất cả vào lòng bà lão. “Bà hãy mang chúng ra bụi cây phỉ,” ông nói, “và trả lại tự do cho chúng!”
Chính sự việc này đã được bàn tán xôn xao, thậm chí còn lên báo; nhưng phần đông người ta không tin vì không thể giải thích nổi một chuyện như thế đã xảy ra bằng cách nào.
VITTSKÖVLE
_Thứ Bảy, ngày hai mươi sáu tháng Ba_.
Hai ngày sau, một chuyện lạ khác lại xảy ra. Một buổi sáng, một đàn ngỗng trời bay tới và đáp xuống cánh đồng ở miền đông Skåne, cách điền trang Vittskövle không xa lắm. Trong đàn có mười ba con ngỗng trời xám như thường lệ và một con ngỗng đực trắng, trên lưng chở một cậu bé tí hon mặc quần da màu vàng, áo gi-lê xanh lá và đội mũ trùm đầu bằng len trắng.
Giờ đây chúng đã ở rất gần biển Baltic; đất trên cánh đồng nơi đàn ngỗng hạ xuống là đất cát, như thường thấy dọc bờ biển. Dường như trước kia vùng này từng có cát bay nên người ta phải tìm cách giữ lại, bởi có thể nhìn thấy những cánh rừng thông trồng rộng lớn ở nhiều hướng.
Khi đàn ngỗng trời kiếm ăn được một lúc, hai đứa trẻ đi tới, men theo rìa đồng cỏ. Con ngỗng làm nhiệm vụ canh gác lập tức vỗ cánh ầm ĩ bay lên để cả đàn biết có nguy hiểm đang đến gần. Tất cả ngỗng trời đều bay vọt lên; riêng con ngỗng trắng vẫn thản nhiên chạy lon ton dưới đất. Thấy những con khác cất cánh, nó ngẩng đầu gọi theo: “Các bạn không cần phải bay tránh họ! Chỉ là hai đứa trẻ thôi mà!”
Sinh vật bé nhỏ vừa cưỡi trên lưng ngỗng ngồi xuống một gò đất ở bìa rừng, bóc từng mảnh quả thông để lấy hạt. Hai đứa trẻ ở gần đến mức cậu không dám chạy băng qua đồng cỏ về phía con ngỗng trắng. Cậu nấp dưới một chiếc lá kế lớn đã khô, đồng thời cất tiếng báo động. Nhưng rõ ràng con ngỗng trắng đã quyết không để mình bị dọa. Nó cứ đi dưới đất, chẳng một lần ngoảnh nhìn xem hai đứa trẻ đang đi về hướng nào.
Trong lúc ấy, hai đứa trẻ rời lối đi, băng qua cánh đồng, mỗi lúc một đến gần con ngỗng đực. Đến khi nó chịu ngẩng lên thì chúng đã ở ngay sát bên. Nó sững sờ và rối trí đến mức quên cả mình có thể bay, chỉ tìm cách chạy khỏi tầm tay chúng. Nhưng hai đứa trẻ đuổi theo, dồn nó xuống một con mương rồi bắt được. Đứa lớn hơn kẹp nó dưới cánh tay và mang đi.
Thấy cảnh ấy từ dưới chiếc lá kế, cậu bé bật dậy như muốn giành con ngỗng đực khỏi tay chúng; rồi hẳn cậu nhớ ra mình nhỏ bé và bất lực đến mức nào, bởi cậu gieo mình xuống gò đất và dùng hai nắm tay đấm thình thịch xuống đất.
Con ngỗng đực gào hết sức cầu cứu: “Tí Hon, mau đến giúp tôi! Ôi, Tí Hon, mau đến giúp tôi!” Giữa lúc đau khổ, cậu bé lại bật cười. “Phải rồi! Tôi đúng là người thích hợp để giúp bất cứ ai đấy!” cậu nói.
Dù sao cậu cũng đứng lên và đi theo con ngỗng đực. “Mình không thể giúp nó,” cậu nói, “nhưng ít nhất cũng phải biết họ mang nó đi đâu.”
Hai đứa trẻ đã đi trước khá xa; nhưng cậu bé vẫn dễ dàng giữ chúng trong tầm mắt cho tới khi cả bọn đến một vùng trũng có dòng suối phun trào. Tại đây, cậu buộc phải chạy dọc bờ suối một quãng mới tìm được chỗ đủ hẹp để nhảy qua.
Khi trèo lên khỏi vùng trũng, hai đứa trẻ đã biến mất. Cậu nhìn thấy dấu chân chúng trên một lối mòn dẫn vào rừng và tiếp tục lần theo.
Chẳng bao lâu cậu tới một ngã rẽ. Hẳn hai đứa trẻ đã chia tay ở đây, bởi dấu chân đi về hai hướng. Cậu bé trông như đã mất hết hy vọng. Nhưng rồi cậu nhìn thấy một nhúm lông tơ trắng trên gò thạch nam và hiểu rằng con ngỗng đực đã thả nó bên đường để cho cậu biết mình bị mang đi theo hướng nào; thế là cậu tiếp tục tìm kiếm. Cậu theo dấu hai đứa trẻ xuyên suốt khu rừng. Cậu không nhìn thấy con ngỗng đực; nhưng ở bất cứ chỗ nào có thể khiến cậu lạc đường, lại có một nhúm lông tơ trắng nằm đó chỉ đúng lối đi.
Cậu bé kiên trì lần theo những nhúm lông tơ. Chúng dẫn cậu ra khỏi rừng, băng qua hai đồng cỏ, lên một con đường, rồi cuối cùng qua lối vào của một _đại lộ_ rộng lớn. Cuối _đại lộ_ hiện ra những đầu hồi và ngọn tháp lợp ngói đỏ, được tô điểm bằng các đường viền tươi sáng cùng những vật trang trí lấp lánh, rực rỡ. Nhận ra đó là một điền trang lớn, cậu bé nghĩ mình đã biết chuyện gì xảy đến với con ngỗng đực. “Chắc chắn hai đứa trẻ đã mang nó tới điền trang và bán ở đó. Có lẽ giờ này nó đã bị làm thịt rồi,” cậu tự nhủ. Nhưng dường như nếu chưa có bằng chứng rõ ràng thì cậu vẫn chưa chịu thôi; lấy lại can đảm, cậu chạy về phía trước. Cậu không gặp ai trên _đại lộ_ — và như thế thật may, bởi những kẻ như cậu thường sợ bị con người nhìn thấy.
Tòa dinh thự cậu tìm đến là một công trình cổ nguy nga, có bốn dãy nhà lớn bao quanh một sân trong. Ở dãy phía đông có một vòm cổng cao dẫn vào sân. Cậu bé chạy tới đây không chút do dự, nhưng vừa đến nơi thì dừng lại. Cậu không dám liều đi xa hơn, chỉ đứng yên suy nghĩ xem giờ mình nên làm gì.
Cậu đứng đó, đặt ngón tay lên mũi mà suy nghĩ, thì nghe có tiếng bước chân phía sau. Quay lại, cậu trông thấy cả một đoàn người đang tiến lên _đại lộ_. Cậu vội lẻn ra sau một thùng nước đặt gần vòm cổng và ẩn mình.
Những người vừa tới là khoảng hai mươi thanh niên của một trường cao đẳng dân gian đang đi bộ du ngoạn. Cùng đi với họ có một giảng viên. Khi đến vòm cổng, người thầy bảo họ chờ ở đó một lát trong khi ông vào hỏi xem họ có được phép tham quan lâu đài cổ Vittskövle hay không.
Những người mới đến đều nóng nực, mệt mỏi như vừa trải qua một chặng đường dài. Một người khát đến mức bước tới thùng nước, cúi xuống uống. Quanh cổ anh đeo một chiếc hộp thiếc kiểu các nhà thực vật học thường dùng. Hẳn anh thấy nó vướng víu nên ném xuống đất. Nắp hộp bật mở, để lộ vài bông hoa mùa xuân bên trong.
Chiếc hộp của nhà thực vật học rơi ngay trước mặt cậu bé; hẳn cậu nghĩ đây là cơ hội để vào lâu đài và tìm xem con ngỗng đực đã ra sao. Cậu nhanh chóng lẻn vào hộp rồi ẩn mình kỹ hết mức dưới những bông hoa hải quỳ và hoa khoản đông.
Cậu vừa kịp ẩn mình thì chàng thanh niên đã nhặt chiếc hộp lên, đeo quanh cổ và đóng sập nắp xuống.
Sau đó người thầy quay lại, nói rằng họ đã được phép vào lâu đài. Lúc đầu, ông chỉ dẫn họ tới sân trong. Ở đó, ông dừng lại và bắt đầu giảng giải về công trình cổ kính này.
Ông nhắc họ nhớ đến những con người đầu tiên từng cư trú trên vùng đất này, những người buộc phải sống trong các hang núi và hốc đất, trong hang thú dữ và giữa bụi rậm; rồi một thời gian rất dài đã trôi qua trước khi họ biết dựng lều bằng thân cây. Và sau đó, họ còn phải lao động, vật lộn biết bao lâu mới tiến từ căn nhà gỗ chỉ có một gian đến chỗ xây dựng được tòa lâu đài có cả trăm phòng như Vittskövle!
Ông nói, khoảng ba trăm năm mươi năm trước, những người giàu có và quyền thế đã xây cho mình những lâu đài như vậy. Rõ ràng Vittskövle được dựng lên vào thời chiến tranh và bọn cướp khiến Skåne trở nên bất an. Quanh lâu đài là một hào sâu đầy nước; ngày xưa có một cây cầu bắc qua hào, có thể kéo lên. Ngay cả ngày nay, bên trên vòm cổng vẫn còn một tháp canh; các hành lang tuần tra chạy dọc theo những mặt lâu đài, còn ở các góc là những ngọn tháp có tường dày một mét. Tuy vậy, lâu đài không được dựng vào thời chiến khốc liệt nhất; bởi Jens Brahe, người xây nên nó, cũng đã chú tâm biến công trình thành một vật trang trí đẹp đẽ. Nếu được nhìn thấy tòa nhà đá đồ sộ, vững chắc ở Glimminge, vốn được xây chỉ sớm hơn một thế hệ, họ sẽ dễ dàng nhận ra người kiến tạo là Jans Holgersen Ulfstand chẳng tính đến điều gì khác ngoài việc xây cho thật lớn, thật kiên cố và an toàn, không hề bận tâm làm nó đẹp đẽ hay tiện nghi. Nếu tới thăm những lâu đài như Marsvinsholm, Snogeholm và Tu viện Övid — được dựng muộn hơn chừng một trăm năm — họ sẽ thấy thời thế đã bớt hiếu chiến. Những quý ông xây các nơi ấy không trang bị công sự phòng thủ mà chỉ chăm chút tạo cho mình những dinh thự rộng lớn, lộng lẫy.
Người thầy giảng thật lâu và hết sức tỉ mỉ; cậu bé bị nhốt trong hộp đã khá mất kiên nhẫn, nhưng hẳn cậu vẫn nằm im phăng phắc, bởi chủ nhân chiếc hộp không chút nghi ngờ rằng mình đang mang cậu theo.
Cuối cùng, cả đoàn đi vào lâu đài. Nhưng nếu cậu bé hy vọng có cơ hội bò ra khỏi chiếc hộp thì cậu đã lầm; chàng học viên luôn đeo nó trên người, khiến cậu buộc phải theo anh ta qua tất cả các căn phòng. Đó là một chuyến đi lê thê. Cứ cách vài phút, người thầy lại dừng chân để giảng giải và chỉ dẫn.
Trong một căn phòng, ông tìm thấy một lò sưởi cũ và dừng lại trước đó để nói về những kiểu lò sưởi khác nhau đã được sử dụng qua các thời đại. Bếp lửa trong nhà đầu tiên chỉ là một phiến đá lớn, phẳng đặt trên sàn lều, bên trên có lỗ hổng trên mái khiến cả gió lẫn mưa đều lọt vào. Kiểu tiếp theo là một bếp đá lớn không còn lỗ hổng trên mái. Hẳn nó khiến căn lều rất ấm, nhưng cũng làm bên trong đầy bồ hóng và khói. Khi Vittskövle được xây, con người đã tiến bộ tới mức có lò sưởi hở nối với một ống khói rộng để thoát khói; tuy nhiên, nó cũng cuốn phần lớn hơi ấm lên trời.
Nếu trong đời cậu bé ấy từng cáu kỉnh và thiếu kiên nhẫn, thì ngày hôm đó cậu đã được học một bài học hay về lòng kiên nhẫn. Tính đến lúc này, hẳn cậu đã phải nằm im hoàn toàn suốt cả một giờ.
Trong căn phòng tiếp theo, người thầy dừng trước một chiếc giường kiểu cổ với màn trướng cao và rèm buông sang trọng. Ông lập tức bắt đầu nói về giường và chỗ ngủ thời xưa.
Người thầy chẳng hề vội vã; nhưng dĩ nhiên, ông đâu biết một sinh vật bé nhỏ đáng thương đang bị nhốt trong chiếc hộp của nhà thực vật học và chỉ mong ông giảng cho xong. Khi họ tới một căn phòng có tường bọc da mạ vàng, ông giảng về cách con người trang hoàng tường và trần nhà từ thuở xa xưa. Gặp một bức chân dung gia tộc cổ, ông kể cho họ nghe mọi thay đổi trong cách ăn mặc. Còn tại các phòng đại tiệc, ông mô tả những phong tục cưới hỏi và tang lễ thời trước.
Sau đó, người thầy kể đôi chút về những người đàn ông, đàn bà xuất chúng từng sống trong lâu đài: về dòng họ Brahe và Barnekow thuở trước; về Christian Barnekow, người đã trao ngựa của mình cho nhà vua để giúp ngài thoát thân; về Margareta Ascheberg, người kết hôn với Kjell Barnekow và sau khi góa chồng đã quản lý các điền trang cùng cả khu vực suốt năm mươi ba năm; về chủ ngân hàng Hageman, con trai một nông dân ở Vittskövle, người trở nên giàu có đến mức mua được toàn bộ điền trang; và về dòng họ Stjernsvärd, những người đã trao cho dân Skåne loại cày tốt hơn, giúp họ bỏ được những chiếc cày gỗ cũ kỹ ngớ ngẩn mà đến ba con bò cũng khó lòng kéo nổi. Trong suốt thời gian ấy, cậu bé vẫn nằm im. Nếu cậu từng nghịch ngợm nhốt cha hoặc mẹ sau cánh cửa hầm, thì giờ đây cậu đã hiểu cảm giác của họ; bởi phải hết giờ này sang giờ khác người thầy kia mới giảng xong.
Cuối cùng, người thầy lại bước ra sân trong. Tại đó, ông diễn giải về công cuộc lao động không mệt mỏi của loài người để tạo ra công cụ và vũ khí, quần áo, nhà cửa cùng đồ trang sức. Ông nói một lâu đài cổ như Vittskövle là cột mốc trên con đường của thời gian. Nơi đây cho thấy ba trăm năm mươi năm trước con người đã tiến xa đến đâu; và mỗi người có thể tự đánh giá kể từ thời họ, mọi sự đã tiến lên hay thụt lùi.
Nhưng cậu bé thoát được bài diễn thuyết này, bởi chàng học viên mang cậu lại khát nước và lẻn vào bếp xin một ngụm nước. Khi được mang vào bếp, cậu bé bắt đầu cựa quậy để cố nhìn quanh tìm con ngỗng đực. Trong lúc ấy, cậu vô tình ép quá mạnh vào nắp hộp khiến nó bật mở. Vì nắp những chiếc hộp của nhà thực vật học vẫn thường bật ra, chàng học viên chẳng nghĩ ngợi gì mà chỉ ấn nó xuống lại. Bấy giờ, người đầu bếp hỏi anh có nhốt một con rắn trong hộp hay không.
“Không, trong này chỉ có vài mẫu cây thôi,” chàng học viên đáp. “Chắc chắn có thứ gì đó vừa động đậy trong ấy,” người đầu bếp khăng khăng. Chàng học viên bật nắp hộp để chứng minh bà đã nhầm. “Bà tự nhìn đi — nếu...”
Nhưng anh chưa kịp nói hết, bởi cậu bé không dám ở lại trong hộp lâu hơn nữa; chỉ một cú nhảy, cậu đã đứng trên sàn rồi lao vụt ra ngoài. Mấy cô hầu gái hầu như không kịp nhìn thấy thứ gì vừa chạy qua, nhưng vẫn vội vã đuổi theo.
Người thầy vẫn đang giảng thì bị những tiếng kêu lanh lảnh cắt ngang. “Bắt lấy nó, bắt lấy nó!” những người từ nhà bếp chạy ra hét lên; tất cả các chàng trai liền đuổi theo cậu bé đang lướt đi còn nhanh hơn chuột. Họ cố chặn cậu ở cổng, nhưng tóm một sinh vật nhỏ đến thế đâu phải chuyện dễ; vì vậy, thật may mắn, cậu đã thoát ra ngoài khoảng trống.
Cậu bé không dám chạy xuống _đại lộ_ trống trải mà ngoặt sang hướng khác. Cậu lao qua khu vườn, chạy vào sân sau. Suốt lúc ấy, mọi người vừa đuổi theo vừa la hét và cười vang. Sinh vật bé nhỏ đáng thương chạy hết sức để thoát khỏi họ; nhưng xem ra họ vẫn sắp bắt kịp cậu.
Khi chạy ngang một túp nhà của người làm công, cậu nghe tiếng ngỗng kêu và trông thấy một nhúm lông tơ trắng nằm trên bậc cửa. Cuối cùng con ngỗng đực cũng ở đây! Trước đó cậu đã lần nhầm dấu. Cậu chẳng còn nghĩ đến đám hầu gái và đàn ông đang săn đuổi mình, mà trèo lên các bậc thềm rồi chạy vào gian ngoài. Cậu không thể vào sâu hơn vì cửa đã khóa. Cậu nghe tiếng con ngỗng đực kêu khóc bên trong nhưng không sao mở được cửa. Những kẻ truy đuổi mỗi lúc một đến gần, còn trong phòng, con ngỗng đực lại kêu than thảm thiết hơn. Giữa lúc nguy cấp nhất, cậu bé cuối cùng cũng lấy hết can đảm, dùng toàn lực đập cửa.
Một đứa trẻ mở cửa và cậu bé nhìn được vào phòng. Giữa sàn, một người phụ nữ đang giữ chặt con ngỗng đực để cắt lông cánh của nó. Chính các con bà đã tìm thấy nó, và bà không hề muốn làm hại. Bà định thả nó vào chung với đàn ngỗng nhà của mình, chỉ cần cắt được cánh để nó không thể bay mất. Nhưng khó có số phận nào tệ hơn giáng xuống con ngỗng đực, nên nó gào kêu thảm thiết hết sức.
Thật may là người phụ nữ chưa bắt đầu cắt sớm hơn. Khi cửa mở và cậu bé đứng trên ngưỡng, mới chỉ có hai chiếc lông ống rơi xuống dưới lưỡi kéo. Nhưng bà chưa từng nhìn thấy một sinh vật nào như cậu. Bà chỉ có thể tin đó chính là Goa-Nisse; trong cơn kinh hãi, bà đánh rơi kéo, chắp hai tay lại — và quên mất phải giữ con ngỗng đực.
Vừa cảm thấy mình được tự do, ngỗng đực liền lao về phía cửa. Nó không dành thời gian dừng lại, mà khi chạy ngang qua cậu bé, nó ngoạm lấy cổ áo cậu và mang cậu theo. Ra đến bậc thềm, nó dang cánh bay lên không trung; đồng thời khéo léo ngoặt cổ, đặt cậu bé ngồi lên tấm lưng phủ lông tơ mềm mượt.
Thế là họ bay đi — trong khi tất cả người ở Vittskövle đứng nhìn theo.
TRONG CÔNG VIÊN TU VIỆN ÖVID
Suốt ngày hôm đàn ngỗng trời đùa giỡn với cáo, cậu bé nằm ngủ trong một tổ sóc bỏ hoang. Khi tỉnh dậy vào lúc gần chiều tối, cậu cảm thấy hết sức bất an. “Chà, giờ mình sắp bị đưa về nhà rồi! Rồi mình sẽ phải trình diện trước cha mẹ trong bộ dạng này,” cậu nghĩ. Nhưng khi ngẩng lên, cậu thấy đàn ngỗng trời đang nằm tắm ở hồ Vomb — chẳng con nào nói một lời về chuyện cậu phải đi. “Chắc họ nghĩ con ngỗng trắng đã quá mệt, tối nay không thể đưa mình về nhà,” cậu bé nghĩ.
Sáng hôm sau, đàn ngỗng thức dậy từ rạng đông, rất lâu trước khi mặt trời mọc. Giờ đây cậu bé tin chắc mình sẽ phải về nhà; nhưng lạ thay, cả cậu lẫn con ngỗng đực trắng đều được phép theo đàn ngỗng trời trong chuyến bay buổi sáng. Cậu không hiểu lý do trì hoãn, nhưng tự giải thích rằng đàn ngỗng trời không muốn bắt ngỗng đực thực hiện một hành trình dài như thế trước khi cả hai đã ăn no. Dù chuyện gì xảy ra, cậu vẫn mừng vì mỗi phút trôi qua đều giúp trì hoãn lúc phải đối mặt với cha mẹ.
Đàn ngỗng trời bay qua điền trang Tu viện Övid, tọa lạc trong một công viên xinh đẹp phía đông hồ và trông hết sức uy nghi với tòa lâu đài đồ sộ; khoảng sân quy hoạch chỉnh tề, bao quanh bởi những bức tường thấp và các nhà thủy tạ; khu vườn cổ duyên dáng với những lối đi có giàn che, dòng suối và đài phun nước; những cây cổ thụ tuyệt đẹp, các bụi cây được cắt tỉa, cùng những thảm cỏ xén đều điểm các luống hoa xuân rực rỡ.
Khi đàn ngỗng trời bay trên điền trang vào sáng sớm, chung quanh không có một bóng người. Sau khi cẩn thận biết chắc điều ấy, chúng hạ thấp xuống phía chuồng chó và gọi: “Đây là túp lều nhỏ kiểu gì thế? Đây là túp lều nhỏ kiểu gì thế?”
Con chó lập tức chạy ra khỏi chuồng, giận dữ điên cuồng, ngẩng lên không trung mà sủa.
“Các ngươi gọi đây là túp lều ư, lũ lang thang kia! Không thấy đây là một lâu đài đá đồ sộ sao? Không thấy những bậc thềm đẹp đẽ, vô số bức tường xinh xắn, cửa sổ và cửa lớn nguy nga của nó sao, gâu, gâu, gâu, gâu? Không thấy đất đai chung quanh à, không thấy khu vườn, không thấy những nhà kính, không thấy tượng cẩm thạch hay sao? Các ngươi gọi đây là túp lều đấy ư? Có túp lều nào sở hữu công viên với rừng dẻ gai, bụi cây phỉ, dây leo bò dài, cây sồi và linh sam, cùng bãi săn đầy thú vật không, gâu, gâu, gâu? Các ngươi gọi đây là túp lều ư? Đã từng thấy túp lều nào có nhiều công trình phụ vây quanh đến mức nom như cả một ngôi làng chưa? Hẳn các ngươi biết nhiều túp lều có nhà thờ riêng, nhà xứ riêng, lại cai quản cả khu vực, những mái nhà nông dân, các nông trại cùng doanh trại lân cận lắm nhỉ, gâu, gâu, gâu? Các ngươi gọi đây là túp lều ư? Túp lều này sở hữu những điền sản trù phú nhất Skåne đấy, lũ ăn mày! Từ chỗ lơ lửng trên mây kia, các ngươi chẳng thể nhìn thấy một tấc đất nào không tuân lệnh túp lều này đâu, gâu, gâu, gâu!”
Con chó tuôn được tất cả những lời ấy chỉ trong một hơi; còn đàn ngỗng trời bay qua bay lại trên điền trang, lắng nghe nó cho tới khi nó hụt hơi. Bấy giờ chúng mới gọi xuống: “Sao ngươi nổi giận dữ vậy? Chúng ta đâu có hỏi về lâu đài; chỉ muốn biết cái chuồng của ngươi thôi, đồ ngốc!”
Nghe trò đùa ấy, cậu bé bật cười; rồi một ý nghĩ lẻn vào đầu khiến cậu lập tức nghiêm trang. “Thử nghĩ xem mình sẽ được nghe biết bao chuyện thú vị như thế này nếu có thể theo đàn ngỗng trời đi khắp đất nước, lên tận Lapland!” cậu tự nhủ. “Và lúc này, khi mình đang lâm vào cảnh khốn khó đến vậy, một chuyến đi như thế hẳn là ý hay nhất có thể nghĩ ra.”
Đàn ngỗng trời bay tới một cánh đồng rộng phía đông điền trang để ăn rễ cỏ, và chúng cứ thế kiếm ăn suốt nhiều giờ. Trong khi ấy, cậu bé lang thang trong công viên lớn giáp cánh đồng. Cậu tìm được một lùm dẻ gai rồi bắt đầu nhìn lên các bụi cây xem còn hạt nào từ mùa thu năm ngoái sót lại không. Nhưng trong lúc dạo bước giữa công viên, ý nghĩ về chuyến đi cứ trở lại với cậu hết lần này đến lần khác. Cậu hình dung mình sẽ vui biết bao nếu đi cùng đàn ngỗng trời. Cậu tin mình sẽ thường xuyên phải chịu rét và đói; nhưng bù lại, cậu sẽ thoát khỏi cả làm việc lẫn học hành.
Trong lúc cậu đang đi, con ngỗng thủ lĩnh già màu xám bước tới hỏi cậu có tìm được gì ăn không. Cậu đáp rằng chưa, và bà liền cố giúp. Bà cũng không tìm thấy hạt nào, nhưng phát hiện vài bông hoa khô còn bám trên một bụi gai. Cậu bé ăn chúng thật ngon lành, song lại tự hỏi mẹ sẽ nói gì nếu biết cậu sống bằng cá sống và những bông hoa cũ khô quắt qua mùa đông.
Cuối cùng, khi đàn ngỗng trời đã ăn no, chúng lại bay về phía hồ, chơi đùa ở đó cho tới gần giờ ăn trưa.
Đàn ngỗng trời thách con ngỗng đực trắng tham gia đủ mọi cuộc thi. Chúng thi bơi, thi chạy rồi thi bay với nó. Con ngỗng nhà to lớn cố hết sức giữ vững vị thế, nhưng những con ngỗng trời lanh lợi lần nào cũng thắng. Suốt lúc đó, cậu bé ngồi trên lưng ngỗng đực, cổ vũ nó và vui thích chẳng kém bất kỳ ai. Chúng cười, reo, kêu quàng quạc; thật lạ là người trong điền trang không nghe thấy.
Khi đàn ngỗng trời đã chán chơi, chúng bay ra mặt băng và nghỉ ngơi vài giờ. Buổi chiều của chúng diễn ra gần giống buổi sáng: trước tiên kiếm ăn vài giờ, sau đó tắm và chơi dưới nước gần mép băng cho tới lúc mặt trời lặn, rồi lập tức xếp thành đội hình đi ngủ.
“Đây đúng là cuộc sống hợp với mình,” cậu bé nghĩ khi rúc vào dưới cánh ngỗng đực. “Nhưng mình đoán ngày mai sẽ bị đưa về nhà.”
Trước khi ngủ thiếp đi, cậu nằm nghĩ rằng nếu được theo đàn ngỗng trời, cậu sẽ thoát khỏi mọi lời mắng mỏ vì tính lười biếng. Khi ấy, ngày nào cậu cũng có thể tha hồ rong chơi và mối lo duy nhất chỉ là kiếm được thứ gì đó để ăn. Nhưng giờ đây cậu cần rất ít thức ăn, mà hẳn lúc nào cũng có cách kiếm ra.
Thế là cậu hình dung ra toàn bộ cảnh tượng: những điều mình sẽ thấy và mọi cuộc phiêu lưu mình sẽ tham dự. Phải, cuộc sống ấy hẳn khác xa cảnh nhọc nhằn, gò bó ở nhà. “Giá mà mình có thể theo đàn ngỗng trời trong hành trình của họ, mình sẽ chẳng còn buồn vì bị biến hình nữa,” cậu bé nghĩ.
Cậu không sợ bất cứ điều gì — ngoại trừ bị đưa về nhà; nhưng ngay cả đến thứ Tư, đàn ngỗng vẫn không nói gì với cậu về chuyện ra đi. Ngày hôm ấy trôi qua giống hệt thứ Ba, còn cậu bé mỗi lúc một hài lòng hơn với cuộc sống ngoài trời. Cậu có cảm giác mình được sở hữu cả công viên Tu viện Övid xinh đẹp, rộng lớn như một khu rừng; và cậu chẳng hề nóng lòng quay lại căn nhà ngột ngạt cùng mảnh đất nhỏ bé ở quê nhà.
Hôm thứ Tư, cậu bé tin rằng đàn ngỗng trời định giữ mình ở lại; nhưng sang thứ Năm, cậu lại mất hy vọng.
Thứ Năm bắt đầu hệt như những ngày trước: đàn ngỗng kiếm ăn trên các đồng cỏ rộng, còn cậu bé tìm thức ăn trong công viên. Một lúc sau, Akka bước tới hỏi cậu đã tìm được gì ăn chưa. Cậu đáp chưa; bấy giờ bà tìm thấy một nhánh thì là Ba Tư khô vẫn còn giữ nguyên tất cả những hạt nhỏ li ti.
Khi cậu bé ăn xong, Akka nói bà thấy cậu chạy khắp công viên quá đỗi liều lĩnh. Bà hỏi cậu có biết mình nhỏ bé như thế thì phải đề phòng bao nhiêu kẻ thù không. Cậu hoàn toàn chẳng biết gì về chuyện ấy. Thế là Akka bắt đầu kể từng kẻ một cho cậu nghe.
Bà nói, mỗi khi đi trong công viên, cậu phải coi chừng cáo và chồn thông; khi tới bờ hồ, cậu phải nhớ đến rái cá; lúc ngồi trên tường đá, cậu không được quên loài chồn có thể luồn qua những lỗ nhỏ nhất; còn nếu muốn nằm ngủ trên một đống lá, trước hết cậu phải xem có rắn lục nào đang ngủ đông trong chính đống lá ấy không. Vừa bước ra đồng trống, cậu phải để mắt tới diều hâu và chim ó, đại bàng và chim cắt đang lượn trên không. Trong bụi mâm xôi, cậu có thể bị chim ưng sẻ tóm lấy; ác là và quạ có mặt khắp nơi, cậu không được quá tin tưởng chúng. Ngay khi chạng vạng, cậu phải căng tai nghe ngóng những con cú lớn, bởi chúng bay với nhịp cánh im phăng phắc đến mức có thể áp sát cậu trước khi cậu kịp biết chúng hiện diện.
Nghe nói có nhiều kẻ muốn lấy mạng mình đến thế, cậu bé nghĩ mình trốn thoát được quả là điều không thể. Cậu không đặc biệt sợ chết, nhưng chẳng thích ý nghĩ bị ăn thịt, nên hỏi Akka phải làm gì để tự bảo vệ trước những loài thú ăn thịt.
Akka lập tức đáp rằng cậu bé nên tìm cách kết thân với tất cả những con vật nhỏ trong rừng và ngoài đồng: với họ nhà sóc và gia đình thỏ rừng; với chim sẻ ức đỏ, chim bạc má, gõ kiến và sơn ca. Nếu làm bạn với chúng, chúng có thể cảnh báo cậu trước hiểm nguy, tìm nơi ẩn nấp và bảo vệ cậu.
Nhưng về sau trong ngày, khi cậu bé thử làm theo lời khuyên ấy và tìm đến sóc Sirle để xin được bảo vệ, rõ ràng chú ta chẳng hề muốn giúp. “Hẳn cậu không thể mong đợi điều gì ở tôi hay những con vật nhỏ khác!” Sirle nói. “Cậu tưởng chúng tôi không biết cậu chính là Nils, đứa trẻ chăn ngỗng đã phá tổ chim én năm ngoái, đập vỡ trứng chim sáo, ném quạ con xuống mương đất sét vôi, đặt bẫy bắt chim hoét và nhốt sóc vào lồng hay sao? Cứ tự lo liệu cho mình hết sức có thể đi; và cậu nên biết ơn vì chúng tôi không liên minh chống lại cậu rồi đuổi cậu về với đồng loại đấy!”
Vào những ngày còn là Nils, đứa trẻ chăn ngỗng, cậu sẽ không bao giờ để một câu trả lời như thế trôi qua mà không trừng phạt. Nhưng giờ đây, cậu chỉ lo đàn ngỗng trời cũng đã biết mình từng độc ác đến mức nào. Cậu sợ mình không được phép ở lại với đàn ngỗng trời đến nỗi kể từ khi gia nhập cùng họ, cậu không dám nghịch ngợm dù chỉ một chút. Quả thật, giờ đây cậu không còn sức gây ra nhiều tai hại; nhưng dù bé nhỏ, nếu muốn, cậu vẫn có thể phá biết bao tổ chim và đập vỡ biết bao quả trứng. Thế mà cậu đã cư xử rất ngoan. Cậu chưa hề nhổ một chiếc lông trên cánh ngỗng, cũng không đáp lời thô lỗ với bất kỳ ai; và mỗi sáng khi đến chào Akka, cậu luôn bỏ mũ rồi cúi mình.
Suốt ngày thứ Năm, cậu nghĩ chắc chắn vì tính xấu của mình mà đàn ngỗng trời không muốn đưa cậu cùng lên Lapland. Đến tối, khi nghe tin vợ của sóc Sirle bị bắt đi và các con nàng đang chết đói, cậu quyết tâm giúp đỡ họ. Và chúng ta đã được nghe cậu thành công mỹ mãn đến thế nào.
Khi cậu bé bước vào công viên hôm thứ Sáu, cậu nghe chim sẻ ức đỏ trên mọi bụi cây hát về chuyện vợ của Sirle bị những kẻ cướp tàn nhẫn bắt lìa khỏi đàn con, và Nils, đứa trẻ chăn ngỗng, đã liều mạng giữa loài người để đưa những sóc con tới chỗ mẹ chúng.
“Giờ đây, trong công viên Tu viện Övid, còn ai được tôn kính bằng Tí Hon?” chim sẻ ức đỏ hát. “Cậu bé từng bị tất cả khiếp sợ khi còn là Nils chăn ngỗng ấy? Sóc Sirle sẽ tặng cậu hạt dẻ; những chú thỏ nhút nhát sẽ chơi cùng cậu; các con vật nhỏ trong rừng sẽ chở cậu trên lưng và chạy vụt đi khi cáo Smirre tới gần. Chim bạc má sẽ báo cho cậu biết lúc diều hâu xuất hiện, còn chim sẻ và sơn ca sẽ hát về lòng quả cảm của cậu.”
Cậu bé hoàn toàn tin chắc cả Akka lẫn đàn ngỗng trời đều đã nghe thấy những điều ấy. Nhưng ngày thứ Sáu vẫn trôi qua mà chúng chẳng nói một lời nào về chuyện để cậu ở lại cùng.
Cho tới thứ Bảy, đàn ngỗng trời vẫn kiếm ăn trên các cánh đồng quanh Övid mà không bị cáo Smirre quấy nhiễu.
Nhưng sáng thứ Bảy, khi chúng bay ra đồng cỏ, Smirre đã nằm chờ sẵn, đuổi chúng từ cánh đồng này sang cánh đồng khác, không cho chúng yên ổn kiếm ăn. Khi hiểu rằng hắn không định để cả đàn được yên, Akka lập tức quyết định, cất cánh rồi dẫn đàn bay xa nhiều dặm, qua đồng bằng Färs và những ngọn đồi Linderödsosen. Chúng không dừng lại cho tới khi đến địa phận Vittskövle.
Nhưng tại Vittskövle, con ngỗng đực bị bắt trộm, và chuyện ấy xảy ra thế nào đã được kể lại. Nếu cậu bé không dùng hết sức mình để giúp, có lẽ chẳng ai tìm thấy nó lần nữa.
Tối thứ Bảy, khi cùng con ngỗng đực trở về hồ Vomb, cậu bé nghĩ mình đã làm được một việc tốt trong ngày; cậu suy đoán rất nhiều xem Akka và đàn ngỗng trời sẽ nói gì với mình. Đàn ngỗng không hề tiếc lời khen ngợi, nhưng chúng vẫn không nói ra điều cậu hằng mong được nghe.
Rồi Chủ nhật lại tới. Một tuần tròn đã trôi qua kể từ ngày cậu bé bị phù phép, mà cậu vẫn nhỏ bé y như cũ.
Nhưng dường như cậu chẳng quá lo lắng về chuyện ấy. Chiều Chủ nhật, cậu thu mình trong một bụi liễu lớn, rậm rạp bên hồ và thổi một cây sáo sậy. Chung quanh cậu, chim sẻ, sẻ ức đỏ và sáo đá đậu kín đến mức bụi cây khó lòng chứa thêm; chúng hát những khúc nhạc để cậu cố tập thổi theo. Nhưng cậu bé không thạo nghệ thuật này. Cậu thổi sai đến mức lông của những người thầy âm nhạc bé nhỏ dựng cả lên, chúng tuyệt vọng réo gọi và vỗ cánh loạn xạ. Cậu bé cười trước cảnh chúng kích động đến nỗi đánh rơi cây sáo.
Cậu bắt đầu thổi lại, và lần này vẫn tệ như trước. Tất cả những con chim nhỏ liền than vãn: “Hôm nay cậu thổi còn tệ hơn thường lệ, Tí Hon! Chẳng có lấy một nốt đúng! Tâm trí cậu để ở đâu thế, Tí Hon?”
“Ở nơi khác,” cậu bé đáp — và quả đúng như vậy. Cậu đang ngồi suy nghĩ xem mình sẽ được phép ở lại với đàn ngỗng trời bao lâu, hay có lẽ ngay hôm nay sẽ bị đưa về nhà.
Cuối cùng, cậu bé ném cây sáo xuống và nhảy ra khỏi bụi cây. Cậu đã nhìn thấy Akka cùng cả đàn ngỗng trời đang nối thành một hàng dài tiến về phía mình. Chúng bước chậm rãi và trang nghiêm khác thường, khiến cậu lập tức hiểu rằng giờ đây mình sắp được biết chúng định làm gì với mình.
Khi cuối cùng cả đàn dừng lại, Akka nói: “Hẳn cậu có lý do để thắc mắc về ta, Tí Hon, vì ta chưa cảm ơn cậu đã cứu ta khỏi cáo Smirre. Nhưng ta thuộc về những kẻ thích dùng hành động để cảm ơn hơn là lời nói. Ta đã nhắn tin tới thần lùn từng phù phép cậu. Ban đầu ông ấy không muốn nghe bất kỳ điều gì về chuyện chữa cho cậu; nhưng ta đã gửi hết lời nhắn này đến lời nhắn khác, kể cho ông ấy biết cậu đã cư xử tốt ra sao giữa chúng ta. Ông ấy gửi lời chào và nói rằng ngay khi cậu quay về nhà, cậu sẽ lại trở thành người.”
Nhưng thử nghĩ mà xem! Lúc đàn ngỗng trời bắt đầu cất lời, cậu bé vui sướng bao nhiêu thì khi chúng nói xong, cậu lại đau khổ bấy nhiêu. Cậu không nói một lời, chỉ quay đi rồi khóc.
“Chuyện gì thế này?” Akka hỏi. “Xem ra cậu đã mong đợi ở ta nhiều hơn điều ta vừa trao cho cậu.”
Nhưng cậu bé đang nghĩ đến những ngày vô lo cùng những câu trêu đùa; đến phiêu lưu, tự do và những chuyến đi cao tít bên trên mặt đất mà mình sẽ phải từ bỏ, nên cậu thật sự khóc òa vì đau khổ. “Cháu không muốn làm người,” cậu nói. “Cháu muốn theo mọi người lên Lapland.” “Ta nói cậu biết điều này,” Akka đáp. “Thần lùn ấy rất dễ phật ý, và ta e rằng nếu bây giờ cậu không nhận lời đề nghị của ông ấy thì lần khác sẽ khó lòng thuyết phục được ông ấy.”
Cậu bé ấy thật lạ lùng — từ thuở bé đến giờ, cậu chưa từng thương mến một ai. Cậu không thương cha mẹ, không thương thầy giáo, bạn học hay những đứa trẻ hàng xóm. Bất kể mọi người muốn cậu làm gì — dù là làm việc hay vui chơi — cậu đều chỉ thấy phiền phức. Vì vậy, chẳng có ai khiến cậu nhớ nhung hay mong mỏi.
Những người duy nhất cậu từng gần như hòa hợp được là Osa, cô bé chăn ngỗng, và Mats bé nhỏ — hai đứa trẻ cũng chăn ngỗng ngoài đồng như cậu. Nhưng cậu cũng chẳng đặc biệt yêu mến họ. Không, còn lâu mới thế! “Cháu không muốn làm người,” cậu bé khóc nức nở. “Cháu muốn theo mọi người lên Lapland. Vì thế suốt một tuần qua cháu đã cư xử ngoan ngoãn!” “Ta không muốn cấm cậu đi cùng chúng ta xa đến đâu tùy thích,” Akka nói, “nhưng trước hết hãy nghĩ xem có phải cậu vẫn muốn trở về nhà hơn không. Có thể một ngày nào đó cậu sẽ hối tiếc.”
“Không,” cậu bé đáp, “chẳng có gì phải hối tiếc cả. Cháu chưa từng sống sung sướng như khi ở đây với mọi người.”
“Vậy thì cứ theo ý cậu,” Akka nói.
“Cảm ơn bà!” cậu bé nói. Cậu hạnh phúc đến mức phải rơi nước mắt vì vui sướng — hệt như trước đó cậu đã khóc vì đau buồn.