Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils — Chương 30: Trên miền Gästrikland
Chương 30 / 43 · Bài review Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils
CHIẾC ĐAI QUÝ GIÁ
Thứ Tư, ngày mười lăm tháng Sáu.
Đại bàng bay mãi tới một nơi cách xa phía bắc Stockholm rồi hạ xuống gò cây, nới lỏng móng vuốt giữ cậu bé.
Vừa thoát khỏi vuốt Gorgo, Tí Hon liền chạy về thành phố nhanh hết sức.
Đại bàng sà một vòng dài, bắt kịp và dùng móng chặn cậu.
“Cậu định trở lại nhà tù sao?” nó gặng hỏi.
“Đó là việc của tôi. Mặc kệ mọi người, tôi thích đi đâu thì đi!” cậu bé vặc lại, cố thoát. Đại bàng liền quắp cậu bằng móng vuốt khỏe rồi bay lên.
Gorgo bay vòng khắp tỉnh Uppland, mãi tới thác lớn ở Älvkarleby mới dừng, đáp trên tảng đá giữa dòng ghềnh cuồn cuộn dưới thác gầm. Nó lại nới móng thả tù nhân.
Cậu bé thấy ở đây không có cơ hội trốn đại bàng. Phía trên, bức tường bọt trắng của thác đổ xuống; xung quanh, sông cuộn thành dòng lũ dữ. Tí Hon rất tức giận vì bị ép thành kẻ nuốt lời. Cậu quay lưng lại, không chịu nói với đại bàng.
Giờ đã đặt cậu ở nơi không thể chạy, đại bàng tâm tình rằng nó được Akka xứ Kebnekaise nuôi lớn và đã cãi nhau với mẹ nuôi.
“Giờ có lẽ cậu hiểu vì sao ta muốn đưa cậu về với đàn ngỗng trời,” nó nói. “Ta nghe cậu rất được Akka yêu quý và muốn nhờ cậu giảng hòa.”
Vừa hiểu đại bàng không bắt mình chỉ vì ngang ngạnh, cậu bé liền có thiện cảm với nó.
“Tôi rất muốn giúp anh,” cậu đáp, “nhưng bị lời hứa ràng buộc.” Rồi cậu kể mình bị bắt ra sao và Clement Larsson đã rời Skansen mà chưa trả tự do cho cậu.
Dù vậy, đại bàng không từ bỏ kế hoạch.
“Nghe ta, Tí Hon,” nó nói. “Cánh ta có thể đưa cậu tới bất kỳ đâu, mắt ta có thể tìm bất cứ thứ gì. Hãy tả người đã buộc cậu hứa; ta sẽ tìm và đưa cậu tới gặp. Phần còn lại tùy cậu.”
Tí Hon tán thành đề nghị.
“Tôi thấy anh quả có người mẹ nuôi thông thái như Akka,” cậu bé nhận xét.
Cậu tả Clement Larsson thật sinh động, nói thêm rằng ở Skansen cậu nghe người nghệ sĩ vĩ cầm nhỏ đến từ Hälsingland.
“Ta sẽ tìm ông ấy khắp Hälsingland—từ Ljungby tới Mellansjö, từ Núi Lớn tới Hornland,” đại bàng nói. “Trước hoàng hôn mai, cậu sẽ nói chuyện với ông ấy!”
“Tôi e anh hứa quá khả năng,” cậu bé nghi ngờ.
“Ta hẳn là đại bàng tồi tệ nếu không làm nổi chừng ấy,” Gorgo nói.
Vì vậy, khi rời Älvkarleby, Gorgo và Tí Hon đã là bạn tốt; cậu vui lòng cưỡi trên lưng đại bàng và nhờ thế được ngắm nhiều miền đất.
Khi bị quắp trong móng, cậu chẳng thấy gì. Có lẽ thế cũng tốt, vì buổi sáng cậu đã qua Upsala, những nhà máy lớn Österby, mỏ Dannemora và lâu đài cổ Örbyhus; nếu biết ở gần mà không được nhìn, cậu hẳn rất thất vọng.
Đại bàng nhanh chóng chở cậu qua Gästrikland. Miền nam tỉnh chẳng có gì hút mắt, nhưng càng bay về bắc, cảnh vật càng thú vị.
“Xứ này mặc váy vân sam, khoác áo đá xám,” cậu nghĩ. “Nhưng quanh eo lại đeo chiếc đai quý vô song, thêu hồ xanh và lùm cây lục. Những xưởng sắt lớn điểm tô nó như một hàng đá quý, còn khóa đai là cả thành phố với lâu đài, nhà thờ chính tòa và những cụm nhà lớn.”
Tới vùng rừng phía bắc, Gorgo đáp trên đỉnh núi. Khi cậu bé xuống lưng, đại bàng nói:
“Rừng này có thú săn; ta chưa thể quên cảnh giam cầm vừa qua và cảm thấy thật sự tự do trước khi đi săn. Cậu không phiền nếu ta rời đi một lát chứ?”
“Không, dĩ nhiên không,” cậu bé quả quyết.
“Cậu thích đi đâu cũng được, miễn trở lại đây trước hoàng hôn,” đại bàng nói rồi bay đi.
Cậu bé ngồi trên đá, nhìn vùng đất trơ trụi lổn nhổn đá và những cánh rừng lớn xung quanh.
Cậu thấy khá cô đơn. Nhưng rồi cậu nghe tiếng hát dưới rừng, thấy vật sáng màu di chuyển giữa cây. Chẳng bao lâu, cậu thấy lá cờ xanh vàng; qua tiếng hát và chuyện trò vui vẻ, cậu biết nó dẫn đầu một đoàn người. Đoàn tiến lên con đường quanh co; cậu tự hỏi họ đi đâu. Cậu không tin có ai tới vùng hoang vu xấu xí nơi mình ngồi. Nhưng lá cờ đã gần rìa rừng, sau nó là nhiều người vui vẻ. Đột nhiên khắp đồng bằng núi đầy sức sống, chuyển động; cậu có nhiều thứ để xem đến mức chẳng buồn chán phút nào.
NGÀY HỘI RỪNG
Trên sống núi rộng nơi Gorgo để Tí Hon lại, mười năm trước từng xảy ra cháy rừng. Từ đó, cây cháy đã bị đốn dọn; vùng đất rộng bị lửa quét bắt đầu khoác màu xanh ở rìa tiếp giáp rừng lành. Nhưng phần lớn đỉnh núi vẫn trơ trụi, hoang vắng khủng khiếp. Những gốc cháy đứng như lính gác giữa gờ đá làm chứng nơi đây từng có rừng đẹp; nhưng chẳng rễ non nào mọc lên.
Một ngày đầu hè, mọi đứa trẻ trong giáo xứ tụ họp trước trường gần núi cháy. Mỗi em vác mai hoặc cuốc, tay xách giỏ thức ăn. Khi đủ người, chúng xếp đoàn dài đi về rừng. Cờ đi đầu, giáo viên hai bên; theo sau là đôi kiểm lâm, một xe cây thông non và hạt vân sam; cuối cùng là trẻ em.
Đoàn không dừng ở lùm bạch dương gần khu dân cư mà tiến sâu vào rừng. Cáo thò đầu khỏi hang, kinh ngạc tự hỏi đây là giống người chốn hoang nào. Khi họ qua những hố than cũ, nơi lò than đỏ lửa mỗi mùa thu, chim mỏ chéo vặn mỏ quặp, hỏi nhau đây là phường đốt than nào đang tràn vào rừng.
Cuối cùng đoàn tới đồng bằng núi cháy. Đá đã mất những dây hoa song sinh, rêu bạc xinh đẹp và địa y tuần lộc. Quanh nước tối đọng trong khe hốc không còn chua me đất. Những khoảnh đất nhỏ giữa khe đá chẳng có dương xỉ, hoa sao hay bất kỳ sắc xanh, đỏ, vẻ nhẹ nhàng, mềm mại, êm dịu nào thường phủ nền rừng.
Khi trẻ em giáo xứ phủ kín núi, dường như ánh sáng bừng lên. Nơi đây lại có nét ngọt ngào, mảnh mai; tươi mới, hồng hào; trẻ trung, đang lớn. Có lẽ chúng sẽ đem chút sức sống mới tới khu rừng bị bỏ rơi.
Nghỉ ngơi, ăn trưa xong, trẻ em cầm cuốc mai làm việc. Kiểm lâm chỉ dẫn; chúng trồng hết cây non này tới cây khác trên mọi khoảnh đất trống tìm được.
Trong lúc làm, chúng am hiểu bàn rằng cây non sẽ giữ đất không trôi, đất mới sẽ hình thành dưới cây. Rồi hạt sẽ rơi; vài năm nữa, nơi hiện chỉ có đá trơ sẽ đầy dâu tây, mâm xôi. Cây non dần thành cây cao, biết đâu dùng dựng những ngôi nhà lớn và chiến thuyền huy hoàng!
Nếu trẻ em không tới trồng khi khe đá còn chút đất, gió nước sẽ cuốn sạch, núi không bao giờ khoác màu xanh nữa.
“May mà chúng ta tới,” lũ trẻ nói. “Vừa kịp lúc!” Chúng thấy mình rất quan trọng.
Trong lúc chúng làm trên núi, cha mẹ ở nhà dần tự hỏi con cái ra sao. Dĩ nhiên chuyện trẻ trồng rừng chỉ là trò vui, nhưng xem chúng cố làm gì hẳn cũng thú vị.
Chẳng bao lâu, cả cha lẫn mẹ lên đường vào rừng. Tới các trại chăn nuôi ngoài làng, họ gặp vài người hàng xóm.
“Các bác lên núi cháy sao?” họ hỏi.
“Chúng tôi đang tới đó.”
“Để xem bọn trẻ à?”
“Phải, xem chúng làm gì.”
“Dĩ nhiên chỉ là trò chơi.”
“Chắc lũ trẻ chẳng trồng được bao nhiêu cây. Chúng tôi mang ấm cà phê để có đồ nóng uống, vì phải ở đó cả ngày với mỗi thức ăn trong giỏ.”
Cha mẹ tiếp tục lên núi. Ban đầu họ chỉ thấy những đứa trẻ má hồng rải khắp đồi xám thật xinh. Sau đó họ thấy chúng làm việc: đứa trồng cây, đứa đào rãnh gieo hạt, đứa nhổ thạch nam để khỏi bóp nghẹt cây non. Chúng nghiêm túc, chăm chú đến mức hầu như không ngẩng lên.
Cha mẹ đứng xem một lát rồi cũng nhổ thạch nam—chỉ để vui. Trẻ em làm thầy vì đã được huấn luyện, phải chỉ người lớn cách làm.
Thế là mọi người lớn tới xem đều tham gia. Dĩ nhiên công việc càng vui. Rồi chúng có thêm người giúp. Cần thêm dụng cụ, đôi cậu bé chân dài được phái về làng lấy mai cuốc. Khi họ chạy qua các túp nhà, người ở nhà bước ra hỏi: “Có chuyện gì? Tai nạn sao?”
“Không! Nhưng cả giáo xứ đang trên núi cháy trồng rừng.”
“Nếu cả giáo xứ ở đó, chúng ta không thể ở nhà!”
Từng nhóm nông dân nối nhau kéo lên đỉnh núi cháy. Họ đứng xem một lát rồi không cưỡng nổi ý muốn nhập cuộc.
“Mùa xuân gieo ruộng mình, nghĩ tới lúa mọc lên đã vui, nhưng công việc này còn cuốn hút hơn,” họ nghĩ.
Từ lần gieo này không chỉ mọc những ngọn mảnh mà là cây hùng vĩ, thân cao cành chắc. Nó không chỉ sinh ra lúa một mùa mà cả bao năm sinh trưởng; đánh thức tiếng côn trùng, tiếng chim hoét, cuộc chơi của gà gô và mọi sự sống trên núi hoang. Hơn nữa, nó như dựng đài tưởng niệm cho hậu thế. Họ có thể để lại một đỉnh núi trọc; thay vào đó, họ sẽ trao lại khu rừng huy hoàng.
Các thế hệ mai sau sẽ biết tổ tiên mình là những người tốt đẹp, thông thái, và tưởng nhớ họ với lòng kính trọng, biết ơn.