Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils — Chương 32: Ở Medelpad

Chương 32 / 43 · Bài review Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils

_Thứ Sáu, ngày mười bảy tháng Sáu_.

Sáng hôm sau, cậu bé và đại bàng lên đường từ tinh mơ. Gorgo hy vọng ngày ấy sẽ tiến xa về phía bắc, tới tận Västerbotten. Tình cờ, nó nghe cậu bé tự nhủ rằng ở một vùng đất như nơi họ đang đi qua, hẳn con người không thể nào sinh sống.

Vùng đất trải rộng dưới chân họ là miền nam Medelpad. Khi nghe lời nhận xét của cậu bé, đại bàng đáp:

“Trên này, người ta lấy rừng làm ruộng.”

Cậu bé nghĩ đến sự tương phản giữa những đồng lúa mạch đen vàng óng, sáng màu, với ngọn lúa mảnh mai lớn lên chỉ trong một mùa hè, và cánh rừng vân sam tối sẫm, với những thân cây rắn chắc phải mất nhiều năm mới chín tới mùa thu hoạch.

“Người phải kiếm kế sinh nhai từ một cánh đồng như thế hẳn cần kiên nhẫn lắm!” cậu nhận xét.

Không ai nói thêm lời nào cho tới khi họ tới một nơi rừng đã bị đốn sạch, mặt đất phủ đầy gốc cây và cành bị chặt. Khi bay qua nơi này, đại bàng nghe cậu bé lẩm bẩm rằng đây là một vùng xấu xí, nghèo nàn khủng khiếp.

“Cánh đồng này đã được gặt vào mùa đông năm ngoái,” đại bàng nói.

Cậu bé nghĩ đến những người gặt ở quê nhà, ngồi trên máy gặt vào những buổi sáng mùa hè đẹp trời và chỉ trong chốc lát đã cắt xong một cánh đồng lớn. Nhưng cánh đồng rừng được thu hoạch vào mùa đông. Thợ rừng đi vào chốn hoang vu khi tuyết dày, cái lạnh khắc nghiệt nhất. Đốn ngã chỉ một thân cây cũng đã là công việc nhọc nhằn, dai dẳng; để hạ cả một khu rừng như thế này, hẳn họ phải ở ngoài trời suốt nhiều tuần.

“Phải là những người vô cùng cứng cỏi mới gặt nổi một cánh đồng như thế này,” cậu nói.

Đại bàng chỉ vỗ cánh thêm hai lần, họ đã trông thấy một túp nhà gỗ bên rìa khoảng rừng trống. Nhà không có cửa sổ, chỉ có hai tấm ván lỏng lẻo làm cửa ra vào. Mái từng được lợp bằng vỏ cây và cành nhỏ, nhưng giờ đã há hoác; cậu bé thấy bên trong chỉ có vài tảng đá lớn dùng làm bếp lửa cùng hai băng ghế bằng ván. Khi họ bay trên túp nhà, đại bàng đoán cậu bé đang tự hỏi ai có thể từng sống trong một căn lều khốn khổ đến vậy.

“Những người thợ gặt cánh đồng rừng đã sống tại đó,” đại bàng nói.

Cậu bé nhớ những người gặt ở quê mình thường vui tươi, phấn khởi trở về sau một ngày làm việc, còn mẹ luôn bày cho họ những món ngon nhất trong kho thức ăn; trong khi tại đây, sau một ngày lao động khổ nhọc, những người này phải nghỉ trên băng ghế cứng trong căn lều còn tệ hơn một nhà kho phụ. Cậu cũng không tưởng tượng nổi họ có gì để ăn.

“Không biết những người lao động này có được dự lễ mừng mùa gặt nào không?” cậu hỏi.

Đi xa hơn một chút, họ trông thấy bên dưới một con đường tồi tệ khủng khiếp uốn qua rừng. Nó hẹp và ngoằn ngoèo, dốc cao, lởm chởm đá, lại bị suối cắt ngang ở nhiều nơi. Trong lúc bay qua, đại bàng biết cậu bé đang tự hỏi người ta chở thứ gì trên một con đường như thế.

“Trên con đường này, mùa gặt được chuyển tới nơi chất đống,” đại bàng nói.

Cậu bé nhớ ở quê vui biết bao khi những cỗ xe mùa gặt do hai con ngựa khỏe mạnh kéo chở thóc từ đồng về. Người đánh xe kiêu hãnh ngồi trên đỉnh đống thóc; lũ ngựa nhún nhảy, tai vểnh lên, còn trẻ con trong làng được phép trèo lên những bó lúa thì ngồi đó vừa cười vừa hét, nửa thích thú, nửa sợ hãi. Nhưng ở đây, những khúc gỗ khổng lồ bị kéo lên xuống các ngọn đồi dốc; ở đây, lũ ngựa tội nghiệp phải làm việc tới kiệt sức, còn người đánh xe thường xuyên đối mặt hiểm nguy. “Tôi e rằng con đường này có rất ít niềm vui,” cậu bé nhận xét.

Đại bàng tiếp tục bay bằng những nhịp cánh mạnh mẽ, chẳng bao lâu họ tới một bờ sông phủ đầy khúc gỗ, mảnh vụn và vỏ cây. Đại bàng nhận ra cậu bé đang tự hỏi sao bên dưới lại bừa bộn đến thế.

“Mùa gặt được chất đống tại đây,” đại bàng bảo cậu.

Cậu bé nghĩ đến những đụn thóc ở miền quê mình được chất gần trang trại, như thể đó là vật trang hoàng quý giá nhất; còn tại đây, mùa gặt bị mang tới một bờ sông hoang vắng rồi bỏ lại.

“Không biết giữa chốn hoang vu này có ai đếm những đống gỗ của mình rồi so sánh với hàng xóm không?” cậu nói.

Một lát sau, họ tới Ljungen, dòng sông êm đềm lướt qua một thung lũng rộng. Mọi thứ đột ngột thay đổi đến mức họ có thể tưởng mình đã sang một đất nước khác. Cánh rừng vân sam tối sẫm dừng lại trên những triền dốc phía trên thung lũng, còn sườn đồi phủ bạch dương và dương lá rung với thân cây sáng màu. Thung lũng rộng đến mức nhiều nơi dòng sông mở ra thành hồ. Dọc đôi bờ là một thị trấn rộng lớn, phồn thịnh.

Khi họ bay cao trên thung lũng, đại bàng nhận ra cậu bé đang tự hỏi liệu ruộng đồng và đồng cỏ nơi đây có đủ nuôi sống nhiều người đến thế hay không.

“Đây là nơi những người thợ gặt cánh đồng rừng sinh sống,” đại bàng nói.

Cậu bé đang nghĩ đến những căn nhà thấp bé và trang trại có hàng rào bao quanh dưới Skåne thì thốt lên:

“Chà, ở đây nông dân sống trong những dinh thự thực sự. Xem ra làm việc trong rừng cũng đáng công!”

Đại bàng vốn định bay thẳng về phía bắc, nhưng khi ra tới trên sông, nó hiểu rằng cậu bé đang tự hỏi ai xử lý gỗ sau khi chúng được chất đống trên bờ.

Cậu bé nhớ ở quê người ta cẩn thận đến mức không bao giờ để lãng phí một hạt thóc, trong khi tại đây những bè gỗ khổng lồ cứ tự trôi xuôi sông, chẳng ai chăm nom. Cậu không thể tin quá nửa số gỗ cuối cùng tới được nơi cần đến. Nhiều khúc trôi giữa dòng và đi hết sức êm thuận; những khúc khác trôi sát bờ, va vào các mũi đất, còn một số bị bỏ lại trong vùng nước lặng của những lạch nhỏ. Trên các hồ, gỗ nhiều đến mức phủ kín cả mặt nước. Những khúc gỗ này dường như sẽ mắc lại vô thời hạn. Chúng kẹt dưới cầu; dồn thành cụm ở thác, rồi chồng lên thành hình tháp và gãy đôi; sau đó, tại các ghềnh, chúng bị đá chặn, tụ lại thành những đống khổng lồ.

“Không biết phải mất bao lâu gỗ mới tới được xưởng?” cậu bé nói.

Đại bàng tiếp tục chuyến bay chậm rãi xuôi theo sông Ljungen. Ở nhiều nơi, nó dang cánh dừng giữa không trung để cậu bé có thể thấy công việc thu hoạch kiểu này được tiến hành ra sao.

Chẳng bao lâu, họ tới một nơi những người dẫn gỗ đang làm việc. Đại bàng nhận thấy cậu bé tự hỏi họ đang làm gì.

“Họ là những người chăm lo cho tất cả phần mùa gặt tới muộn,” đại bàng nói.

Cậu bé nhớ người ở quê mình đưa thóc tới cối xay dễ dàng biết bao. Còn tại đây, những người đàn ông cầm sào móc dài chạy dọc bờ, vất vả thúc gỗ đi tiếp. Họ lội ra giữa sông, ướt sũng từ đầu tới chân. Họ nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác tận ngoài ghềnh, rồi bình thản bước trên những đống gỗ đang lăn như thể đi trên mặt đất bằng phẳng. Họ là những con người gan dạ và kiên quyết.

“Nhìn cảnh này khiến tôi nhớ đến những người thợ đúc sắt ở miền mỏ, đùa với lửa như thể nó hoàn toàn vô hại,” cậu bé nhận xét. “Những người dẫn gỗ này chơi đùa với nước như thể họ là chủ nhân của nó. Dường như họ đã khuất phục nước đến mức nó chẳng dám làm hại mình.”

Dần dần họ tới gần cửa sông, phía xa là vịnh Bothnia. Gorgo không tiếp tục bay thẳng mà hướng lên phía bắc dọc bờ biển. Chưa đi được bao xa, họ đã thấy một khu xưởng gỗ lớn như thành phố nhỏ. Trong lúc đại bàng lượn đi lượn lại phía trên, nó nghe cậu bé nhận xét nơi này trông thật thú vị.

“Đây là khu xưởng gỗ lớn mang tên Svartvik,” đại bàng nói.

Cậu bé nghĩ đến cối xay ở quê nhà, nép yên bình giữa tán lá, đôi cánh quay thật chậm. Còn cối xay nghiền mùa gặt của rừng này lại đứng trên mặt nước.

Hồ nước cạnh xưởng ken kín gỗ. Từng khúc một bị thợ phụ dùng móc xoay gỗ giữ lấy, đẩy vào máng trượt rồi hối hả đưa đến những lưỡi cưa quay tít. Cậu bé không thể thấy chuyện gì xảy ra với gỗ bên trong, nhưng nghe tiếng vo vo, gầm rú dữ dội; từ đầu kia tòa nhà, những toa nhỏ chất đầy ván trắng chạy ra. Các toa lăn trên đường ray sáng bóng xuống bãi gỗ, nơi ván được chất thành hàng, tạo nên những con phố — giống các dãy nhà trong một thành phố. Ở chỗ này, người ta dựng những đống ván mới; chỗ khác lại tháo dỡ các đống cũ. Ván được chở lên hai con tàu lớn đang nằm chờ hàng. Khắp nơi đầy những người thợ làm việc, còn trong rừng phía sau bãi là nhà của họ.

“Với cách họ làm việc ở đây, chẳng bao lâu họ sẽ cưa sạch mọi cánh rừng ở Medelpad,” cậu bé nói.

Đại bàng chỉ hơi động cánh đã đưa cậu bé tới phía trên một khu xưởng lớn khác rất giống nơi đầu tiên, cũng có xưởng cưa, bãi gỗ, cầu tàu và nhà của công nhân.

“Nơi này được gọi là Kukikenborg,” đại bàng nói.

Nó chậm rãi vỗ cánh, bay qua hai khu xưởng gỗ lớn rồi tới gần một thành phố rộng. Khi đại bàng nghe cậu bé hỏi tên nơi ấy, nó kêu lên: “Đây là Sundsvall, dinh thự của miền xưởng gỗ.”

Cậu bé nhớ những thành phố ở Skåne trông cổ kính, xám xịt và trang nghiêm; trong khi ở miền Bắc khắc nghiệt này, thành phố Sundsvall hướng ra một vịnh biển xinh đẹp, trông trẻ trung, hạnh phúc và rạng rỡ. Nhìn từ trên cao, thành phố có một nét kỳ lạ, bởi chính giữa là một cụm kiến trúc đá cao lớn, bề thế đến mức ngay Stockholm cũng khó tìm thấy thứ sánh bằng. Quanh các tòa nhà đá là một khoảng trống rộng, sau đó đến một vòng nhà gỗ trông xinh xắn, ấm cúng trong những khu vườn nhỏ; nhưng dường như chúng ý thức mình nghèo hơn các tòa nhà đá rất nhiều, nên chẳng dám bén mảng đến gần.

“Đây hẳn là một thành phố vừa giàu có vừa hùng mạnh,” cậu bé nhận xét. “Có thể nào đất rừng nghèo nàn lại là nguồn cội của tất cả những thứ này?”

Đại bàng lại vỗ cánh và bay sang đảo Aln nằm đối diện Sundsvall. Cậu bé vô cùng kinh ngạc khi thấy tất cả những xưởng cưa tô điểm cho đôi bờ. Trên đảo Aln, chúng đứng nối tiếp nhau; trên đất liền đối diện cũng hết xưởng này đến xưởng khác, hết bãi gỗ này đến bãi gỗ khác. Cậu đếm được ít nhất bốn mươi, nhưng tin rằng còn nhiều hơn nữa.

“Từ trên cao, mọi thứ trông kỳ diệu biết bao!” cậu thán phục. “Suốt hành trình, tôi chưa thấy nơi nào khác có nhiều sức sống và hoạt động đến thế. Đất nước chúng ta thật vĩ đại! Dù đi tới đâu, bao giờ cũng có một nguồn sinh kế mới cho con người.”