Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils — Chương 35: Osa, cô bé chăn ngỗng, và Mats bé nhỏ

Chương 35 / 43 · Bài review Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils

Năm Nils Holgersson du hành cùng đàn ngỗng trời, mọi người đều bàn tán về hai đứa trẻ, một trai một gái, đi bộ khắp đất nước. Chúng đến từ huyện Sunnerbo ở Småland và từng sống cùng cha mẹ cùng bốn anh chị em trong một túp lều nhỏ trên đồng hoang.

Khi hai đứa trẻ Osa và Mats còn nhỏ, một phụ nữ nghèo không nhà cửa tới túp lều của họ vào một đêm nọ và xin trú. Dù nơi ấy hầu như không đủ chỗ cho cả gia đình, bà vẫn được đón vào, người mẹ trải chỗ ngủ cho bà trên sàn. Trong đêm, bà ho dữ dội đến mức lũ trẻ tưởng căn nhà rung lên. Đến sáng, bà quá ốm để tiếp tục lang thang. Cha mẹ lũ trẻ đối đãi với bà tốt hết mức có thể. Họ nhường giường cho bà, ngủ dưới sàn, còn người cha đi mời thầy thuốc và mang thuốc về.

Mấy ngày đầu, người đàn bà ốm cư xử như một kẻ man dại; bà đòi được chăm sóc liên tục và không thốt lấy một lời cảm ơn. Về sau bà dịu lại, cuối cùng khẩn khoản xin được khiêng ra đồng hoang, bỏ ở đó chờ chết.

Khi chủ nhà nhất quyết không chịu, bà kể rằng mấy năm qua mình lang thang cùng một đoàn người Di-gan. Bản thân bà không mang dòng máu Di-gan mà là con gái một nông dân khá giả. Bà đã bỏ nhà trốn đi theo những người du mục. Bà tin một phụ nữ Di-gan tức giận với mình đã gieo căn bệnh này. Chưa hết: người ấy còn nguyền rằng bất kỳ ai cho bà trú dưới mái nhà hoặc đối xử tử tế với bà cũng sẽ chịu chung số phận. Bà tin lời nguyền nên xin họ đuổi mình khỏi nhà và đừng bao giờ gặp lại. Bà không muốn giáng tai họa xuống những người tốt bụng như thế. Nhưng gia đình nông dân từ chối làm theo. Có thể họ cũng lo sợ, nhưng không phải hạng người có thể đuổi một kẻ nghèo đau ốm ra đường.

Chẳng bao lâu sau bà chết, rồi tai họa kéo tới. Trước đó, túp lều chưa từng có gì ngoài hạnh phúc. Những người sống trong đó nghèo, nhưng chưa đến mức quá nghèo. Người cha làm lược dệt, còn mẹ và lũ trẻ phụ việc. Cha làm khung, mẹ và các con lớn buộc lược, còn những đứa nhỏ bào răng rồi cắt ra. Họ làm từ sáng tới tối, nhưng thời gian trôi vui vẻ, nhất là khi cha kể những ngày ông đi bán lược dệt ở xứ lạ. Cha vui tính đến mức đôi khi mẹ và lũ trẻ cười đau cả bụng vì những câu pha trò, đùa cợt của ông.

Những tuần sau cái chết của người đàn bà lang thang nghèo khổ đọng lại trong tâm trí lũ trẻ như cơn ác mộng kinh hoàng. Chúng không biết quãng ấy dài hay ngắn, chỉ nhớ trong nhà luôn có đám tang. Hết người anh chị em này đến người khác qua đời. Cuối cùng, túp lều trở nên vô cùng im ắng và buồn bã.

Người mẹ vẫn giữ được phần nào can đảm, nhưng người cha không còn chút nào giống chính mình. Ông không thể làm việc hay nói đùa, chỉ ngồi từ sáng tới tối, vùi đầu trong hai bàn tay và ủ ê suy nghĩ.

Một lần — sau đám tang thứ ba — người cha bật ra những lời cuồng loạn khiến lũ trẻ sợ hãi. Ông nói mình không hiểu tại sao tai họa như thế lại giáng xuống họ. Họ đã làm một việc tử tế khi giúp người phụ nữ đau ốm. Chẳng lẽ cái ác trên đời này thật sự mạnh hơn điều thiện?

Người mẹ cố giảng giải với ông nhưng không thể xoa dịu.

Vài ngày sau, người con cả mắc bệnh. Cô vẫn luôn được cha yêu quý nhất, nên khi hiểu rằng cô cũng phải ra đi, ông bỏ trốn khỏi mọi khổ đau. Người mẹ không bao giờ nói gì, nhưng bà nghĩ ông đi xa có lẽ tốt hơn, bởi bà sợ ông mất trí. Ông đã suy nghĩ quá lâu về một ý duy nhất: rằng Chúa đã để một kẻ độc ác gây nên biết bao tai họa.

Sau khi cha bỏ đi, họ trở nên vô cùng nghèo khó. Một thời gian ông còn gửi tiền về, nhưng rồi hẳn mọi việc của ông trở nên tồi tệ, bởi tiền không còn tới nữa.

Ngày chôn cất người con gái cả, người mẹ khóa túp lều rồi rời nhà cùng hai đứa con còn lại là Osa và Mats. Bà xuống Skåne làm việc trên đồng củ cải đường và tìm được chỗ tại nhà máy đường Jordberga. Bà làm việc giỏi, tính tình vui vẻ và rộng lượng nên ai cũng quý mến. Nhiều người kinh ngạc vì sau tất cả những gì trải qua, bà vẫn có thể bình thản đến thế; nhưng người mẹ vô cùng mạnh mẽ, nhẫn nại. Khi ai nhắc tới hai đứa con khỏe mạnh, bà chỉ nói: “Tôi cũng sẽ sớm mất chúng thôi,” giọng không run, mắt không lệ. Bà đã quen không mong đợi điều gì khác.

Nhưng chuyện không xảy ra như bà lo sợ. Thay vào đó, căn bệnh giáng xuống chính bà. Bà tới Skåne đầu mùa hè; chưa sang thu bà đã mất, để hai đứa trẻ lại một mình.

Trong thời gian đau ốm, người mẹ thường dặn các con phải nhớ bà chưa bao giờ hối hận vì đã cho người đàn bà bệnh tật trú lại. Bà nói khi đã làm điều đúng đắn thì cái chết không còn khó khăn, bởi người ta có thể ra đi với lương tâm thanh thản.

Trước khi qua đời, người mẹ cố thu xếp cho các con. Bà xin những người cùng nhà cho chúng ở lại căn phòng bà từng dùng. Chỉ cần có nơi trú, lũ trẻ sẽ không trở thành gánh nặng cho ai. Bà biết chúng có thể tự chăm sóc mình.

Osa và Mats được phép giữ căn phòng với điều kiện chăn ngỗng, bởi lúc nào cũng khó tìm trẻ chịu làm việc ấy. Mọi chuyện đúng như người mẹ dự liệu: chúng quả thật tự nuôi sống được mình. Cô bé làm kẹo, cậu bé đẽo đồ chơi gỗ rồi mang bán ở các nông trại. Chúng có khiếu buôn bán và chẳng bao lâu bắt đầu mua trứng, bơ từ nông dân để bán cho công nhân nhà máy đường. Osa lớn hơn; đến năm mười ba tuổi, cô đã đáng tin cậy như một phụ nữ trưởng thành. Cô trầm lặng, nghiêm túc, còn Mats hoạt bát, hay chuyện. Chị vẫn thường bảo cậu có thể kêu huyên náo hơn cả đàn ngỗng.

Khi hai đứa trẻ ở Jordberga được hai năm, một buổi tối có buổi diễn thuyết tại trường học. Rõ ràng buổi ấy dành cho người lớn, nhưng hai đứa trẻ Småland vẫn ngồi trong đám khán giả. Chúng không coi mình là trẻ con, và cũng ít người nghĩ về chúng như thế. Diễn giả nói về căn bệnh đáng sợ mang tên Dịch hạch Trắng, thứ mỗi năm cướp đi rất nhiều người ở Thụy Điển. Ông nói hết sức rõ ràng, hai đứa trẻ hiểu từng lời.

Sau buổi diễn thuyết, chúng đợi bên ngoài trường. Khi diễn giả bước ra, chúng nắm tay nhau, nghiêm trang đi tới hỏi có thể nói chuyện với ông không.

Hẳn người lạ kinh ngạc trước hai đứa trẻ má hồng, gương mặt thơ ngây đứng đó nói chuyện với vẻ nghiêm túc hợp với người gấp ba tuổi chúng hơn; nhưng ông ân cần lắng nghe. Chúng kể chuyện đã xảy ra trong nhà và hỏi liệu ông có nghĩ mẹ cùng các anh chị em chúng đã chết vì căn bệnh vừa được mô tả không.

“Rất có thể,” ông đáp. “Khó có thể là bệnh nào khác.”

Giá cha mẹ biết những điều hai đứa trẻ học được tối ấy, họ có thể đã tự bảo vệ mình. Giá họ đốt quần áo của người đàn bà lang thang; giá họ cọ rửa, hong thoáng túp lều và không dùng lại chăn đệm cũ, tất cả những người lũ trẻ thương khóc có lẽ vẫn còn sống. Diễn giả nói mình không thể khẳng định chắc chắn, nhưng tin rằng không người thân nào của chúng mắc bệnh nếu họ hiểu cách đề phòng lây nhiễm.

Osa và Mats đợi một lát mới đặt câu hỏi tiếp theo, bởi đó là điều quan trọng nhất. Vậy thì chuyện người phụ nữ Di-gan gieo bệnh vì họ đã giúp kẻ mà bà ta căm giận là không thật. Đó không phải một tai họa đặc biệt chỉ giáng xuống họ. Diễn giả khẳng định không ai có quyền năng khiến người khác mắc bệnh theo cách ấy.

Hai đứa trẻ cảm ơn ông rồi trở về phòng. Chúng trò chuyện tới tận khuya.

Ngày hôm sau, chúng báo rằng mình không thể chăn ngỗng thêm một năm mà phải đi nơi khác. Chúng sẽ đi đâu? Dĩ nhiên là cố tìm cha. Chúng phải cho ông biết mẹ cùng các con khác đã chết vì một căn bệnh thông thường, không phải tai họa đặc biệt do kẻ giận dữ gieo xuống. Chúng rất vui vì đã khám phá sự thật. Giờ bổn phận của chúng là kể cho cha, bởi có lẽ ông vẫn đang cố giải đáp bí ẩn.

Osa và Mats lên đường về ngôi nhà cũ trên đồng hoang. Khi tới nơi, chúng kinh hoàng thấy túp lều nhỏ chìm trong lửa. Chúng tới nhà xứ và được biết một công nhân đường sắt từng thấy cha chúng ở Malmberget, tận miền Lapland xa xôi. Ông làm việc trong một khu mỏ và có lẽ vẫn ở đó. Khi nghe hai đứa trẻ muốn đi tìm cha, vị giáo sĩ lấy bản đồ, chỉ cho chúng Malmberget xa đến thế nào và cố can ngăn; nhưng chúng nhất quyết phải tìm cha. Ông đã rời nhà vì tin một điều không thật. Chúng phải tìm ông và nói tất cả chỉ là nhầm lẫn.

Chúng không muốn dùng khoản tiền tiết kiệm ít ỏi mua vé xe lửa nên quyết đi bộ suốt đường; chúng không bao giờ hối tiếc, bởi đó hóa ra là một hành trình đẹp lạ thường.

Trước khi ra khỏi Småland, chúng dừng ở một nông trại để mua thức ăn. Bà chủ nhà tốt bụng, đầy tình mẹ và quan tâm tới hai đứa trẻ. Bà hỏi chúng là ai, từ đâu đến, rồi chúng kể lại câu chuyện. “Trời ơi! Trời ơi!” bà hết lần này đến lần khác chen vào. Sau đó bà âu yếm lũ trẻ, cho chúng ăn no đủ món ngon mà không nhận một xu. Khi chúng đứng dậy cảm ơn và ra đi, bà nhờ chúng ghé nông trại của em trai mình ở huyện kế bên. Dĩ nhiên hai đứa trẻ rất vui.

“Hãy gửi lời thăm của ta và kể cho ông ấy chuyện đã xảy ra với các cháu,” người phụ nữ nông dân nói.

Hai đứa trẻ làm theo và được đối đãi tử tế. Từ mỗi nông trại sau đó, người ta luôn dặn: “Nếu các cháu tình cờ đi hướng nọ hướng kia, hãy ghé chỗ này chỗ nọ và kể họ nghe chuyện của mình.”

Trong mỗi nông trại được giới thiệu tới đều có một người mắc bệnh lao. Thế là Osa và Mats vô tình đi khắp đất nước, dạy mọi người cách chống lại căn bệnh khủng khiếp ấy.

Từ rất lâu, khi dịch hạch đen tàn phá đất nước, người ta kể có một cậu bé và một cô bé lang thang từ nhà này sang nhà khác. Cậu bé mang theo chiếc cào; nếu cậu dừng lại cào trước một ngôi nhà, điều ấy báo rằng nhiều người trong đó sẽ chết, nhưng không phải tất cả, bởi cào có răng thưa, không cuốn hết mọi thứ theo mình. Cô bé mang theo chổi; nếu cô tới quét trước cửa, điều ấy báo rằng tất cả người sống trong nhà đều phải chết, bởi chổi là dụng cụ quét sạch mọi thứ.

Thật lạ lùng khi vào thời đại chúng ta vẫn có hai đứa trẻ lang thang khắp đất nước vì một căn bệnh tàn nhẫn. Nhưng chúng không dọa người bằng cào và chổi. Thay vào đó, chúng nói: “Chúng ta sẽ không bằng lòng với việc chỉ cào sân, quét sàn; chúng ta sẽ dùng giẻ lau và bàn chải, nước và xà phòng. Chúng ta sẽ giữ sạch bên trong lẫn bên ngoài cửa, còn bản thân sẽ trong sạch cả tâm trí lẫn thân thể. Bằng cách ấy, chúng ta sẽ chiến thắng bệnh tật.”

Một ngày nọ, khi vẫn ở Lapland, Akka đưa cậu bé tới Malmberget, nơi họ phát hiện Mats bé nhỏ nằm bất tỉnh ở miệng hầm mỏ. Cậu và Osa mới tới đó chưa lâu. Sáng ấy cậu đi lang thang, hy vọng tình cờ gặp cha. Cậu liều đến quá gần giếng mỏ và bị đá văng trúng sau một vụ nổ mìn.

Tí Hon chạy tới mép giếng mỏ, gọi xuống báo cho thợ mỏ rằng một cậu bé bị thương.

Lập tức nhiều công nhân chạy lên bên Mats bé nhỏ. Hai người khiêng cậu về túp lều nơi cậu và Osa ở. Họ làm mọi thứ có thể để cứu cậu, nhưng đã quá muộn.

Tí Hon vô cùng thương Osa tội nghiệp. Cậu muốn giúp đỡ, an ủi cô; nhưng biết nếu giờ tới bên cô, cậu chỉ khiến cô sợ hãi — với hình dạng hiện tại của mình!

Đêm sau lễ chôn cất Mats bé nhỏ, Osa lập tức tự nhốt mình trong túp lều.

Cô ngồi một mình, lần lượt nhớ lại những điều em trai từng nói và làm. Có quá nhiều chuyện để nghĩ nên cô không đi ngủ ngay mà thức gần trọn đêm. Càng nghĩ về em, cô càng hiểu cuộc sống thiếu cậu sẽ khó khăn đến thế nào. Cuối cùng, cô gục đầu xuống bàn và khóc.

“Giờ Mats bé nhỏ đã mất, mình phải làm gì đây?” cô nức nở.

Trời đã gần sáng, và Osa kiệt sức sau một ngày nhọc nhằn cuối cùng cũng thiếp đi.

Cô mơ thấy Mats bé nhỏ khẽ mở cửa, bước vào phòng.

“Osa, chị phải đi tìm cha,” cậu nói.

“Làm sao chị tìm được khi thậm chí không biết cha ở đâu?” cô đáp trong mơ.

“Đừng lo chuyện đó,” Mats bé nhỏ đáp bằng giọng vui vẻ thường ngày. “Em sẽ phái người tới giúp chị.”

Đúng lúc Osa, cô bé chăn ngỗng, mơ thấy Mats bé nhỏ nói vậy, có tiếng gõ cửa. Đó là tiếng gõ thật — không phải điều cô nghe trong mơ, nhưng giấc mơ níu giữ cô đến mức cô không phân biệt được thật giả. Trong lúc đi mở cửa, cô nghĩ:

“Hẳn đây là người Mats bé nhỏ hứa sẽ gửi tới.”

Cô đã đúng, bởi Tí Hon tới để nói chuyện với cô về cha.

Khi thấy cô không sợ mình, cậu nói ngắn gọn cha cô ở đâu và làm sao tới được chỗ ông.

Trong lúc cậu nói, Osa, cô bé chăn ngỗng, dần tỉnh lại; khi cậu nói xong, cô đã hoàn toàn thức giấc.

Rồi ý nghĩ mình vừa trò chuyện với một thần lùn khiến cô kinh hãi đến mức không thể nói lời cảm ơn hay bất cứ điều gì khác, chỉ vội vàng đóng cửa.

Trong lúc làm vậy, cô tưởng mình thấy một thoáng đau đớn lướt qua gương mặt thần lùn, nhưng cô không thể cưỡng lại hành động ấy vì đã mất hết bình tĩnh do sợ hãi. Cô bò lên giường nhanh hết sức rồi kéo chăn trùm kín đầu.

Dù sợ thần lùn, cô vẫn có cảm giác cậu thật lòng muốn giúp mình. Vì thế, ngày hôm sau cô vội vã làm theo lời cậu.