Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils — Chương 36: Cùng người Lapland
Chương 36 / 43 · Bài review Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils
Một buổi chiều tháng Bảy, mưa trút khủng khiếp quanh hồ Luossajaure. Người Lapland, vốn phần lớn sống ngoài trời vào mùa hè, đã chui vào lều, ngồi xổm quanh bếp lửa uống cà phê.
Những người mới tới định cư ở bờ đông hồ cần mẫn chuẩn bị nhà cửa trước khi mùa đông Bắc Cực khắc nghiệt ập đến. Họ kinh ngạc trước người Lapland, những người đã sống ở miền cực bắc hàng thế kỷ mà chưa từng nghĩ cần sự che chở khỏi rét và bão tốt hơn một tấm lều mỏng.
Ngược lại, người Lapland kinh ngạc khi dân định cư mới tự chuốc lấy biết bao công việc nặng nhọc không cần thiết, trong khi để sống thoải mái chỉ cần vài con tuần lộc và một chiếc lều.
Họ chỉ cần cắm cọc xuống đất, phủ tấm che lên là nhà ở đã sẵn sàng. Họ không phải bận tâm trang trí hay sắm đồ đạc. Điều chính yếu là rải vài cành vân sam lên nền, trải mấy tấm da và treo chiếc nồi lớn dùng nấu thịt tuần lộc vào sợi xích thả từ đỉnh cọc lều.
Trong lúc người Lapland trò chuyện bên những tách cà phê, một chiếc thuyền chèo từ phía Kiruna cập bờ tại khu lều của họ.
Một công nhân và cô gái trẻ khoảng mười ba, mười bốn tuổi bước khỏi thuyền. Cô gái là Osa. Đàn chó Lapland sủa vang, phóng xuống chỗ họ, còn một người bản địa thò đầu khỏi cửa lều xem chuyện gì xảy ra.
Ông vui khi thấy người công nhân, bởi anh là bạn của người Lapland — một người tốt bụng, hòa đồng, nói được tiếng bản xứ. Người Lapland gọi anh chui vào lều.
“Anh đến đúng lúc đấy, Söderberg!” ông nói. “Ấm cà phê đang trên bếp. Mưa thế này chẳng ai làm được việc, vào đây kể tin tức cho chúng tôi nghe.”
Người công nhân bước vào; sau bao nhiêu xáo động giữa những tiếng cười và lời đùa, người ta thu xếp được chỗ cho Söderberg cùng Osa dù lều đã chật kín người bản địa. Osa không hiểu cuộc trò chuyện. Cô im lặng ngồi, kinh ngạc nhìn nồi và ấm cà phê; bếp lửa và khói; đàn ông, phụ nữ Lapland; trẻ con và chó; vách và nền lều; tách cà phê và tẩu thuốc; những bộ y phục đủ màu cùng dụng cụ thô sơ. Tất cả đều mới lạ với cô.
Đột nhiên cô cụp mắt, nhận ra mọi người trong lều đang nhìn mình. Hẳn Söderberg vừa nói gì về cô, bởi giờ cả đàn ông lẫn phụ nữ Lapland đều bỏ những chiếc tẩu ngắn khỏi miệng, mở to mắt nhìn cô vừa kinh ngạc vừa kính phục. Người Lapland bên cạnh vỗ vai cô, gật đầu và nói bằng tiếng Thụy Điển: “bra, bra!” (tốt, tốt!). Một phụ nữ Lapland rót một tách cà phê đầy ắp rồi khó nhọc chuyền tới, còn một cậu bé Lapland trạc tuổi cô lách và bò giữa những người ngồi xổm để tới bên cô.
Osa cảm thấy Söderberg đang kể với người Lapland rằng cô vừa chôn cất em trai Mats bé nhỏ. Cô mong anh hỏi tin cha mình hơn.
Thần lùn nói cha cô sống cùng người Lapland cắm trại phía tây hồ Luossajaure, và cô đã xin được đi nhờ xe chở cát lên tìm ông vì tàu khách thường lệ không tới xa thế. Cả công nhân lẫn quản đốc đều giúp cô hết sức. Một kỹ sư cử Söderberg đưa cô qua hồ vì anh nói được tiếng Lapland. Cô hy vọng gặp cha ngay khi tới nơi. Ánh mắt cô lo lắng lướt từ gương mặt này sang gương mặt khác, nhưng chỉ thấy người bản địa. Cha cô không có ở đó.
Cô nhận thấy người Lapland và Söderberg, người Thụy Điển, càng trò chuyện càng nghiêm nghị. Người Lapland lắc đầu, gõ lên trán như thể họ đang nói về một người tâm trí không hoàn toàn tỉnh táo.
Cô bất an đến mức không chịu nổi cảnh chờ đợi, bèn hỏi Söderberg người Lapland biết gì về cha mình.
“Họ nói ông đi câu cá,” người công nhân đáp. “Họ không chắc tối nay ông có thể trở về trại; nhưng ngay khi trời quang, một người sẽ đi tìm.”
Rồi anh quay sang người Lapland, tiếp tục trò chuyện. Anh không muốn cho Osa cơ hội hỏi thêm về Jon Esserson.
SÁNG HÔM SAU
Chính Ola Serka, người có địa vị cao nhất trong cộng đồng Lapland, nói sẽ tìm cha Osa; nhưng ông không có vẻ vội vã, chỉ ngồi co ro ngoài lều, nghĩ về Jon Esserson và tự hỏi cách tốt nhất để báo con gái đã tới. Cần phải khéo léo để Jon Esserson không hoảng sợ bỏ trốn. Ông là người kỳ lạ, sợ trẻ con. Ông thường nói nhìn thấy chúng khiến mình buồn đến không chịu nổi.
Trong lúc Ola Serka cân nhắc, Osa, cô bé chăn ngỗng, và Aslak, cậu bé Lapland đã nhìn cô chằm chằm đêm trước, ngồi trên mặt đất trước lều trò chuyện.
Aslak từng đi học và nói được tiếng Thụy Điển. Cậu kể cho Osa về cuộc sống của “người Samé”, quả quyết rằng họ sống tốt hơn những dân tộc khác.
Osa nghĩ họ sống khổ sở và nói thẳng điều đó.
“Cô chẳng biết mình đang nói gì!” Aslak cộc lốc đáp. “Cứ ở với chúng tôi một tuần, cô sẽ thấy chúng tôi là những người hạnh phúc nhất trần đời.”
“Nếu ở đây trọn một tuần, tôi sẽ ngạt vì khói trong lều mất,” Osa vặc lại.
“Đừng nói vậy!” cậu bé phản đối. “Cô chẳng biết gì về chúng tôi. Để tôi kể một chuyện giúp cô hiểu rằng càng ở lâu, cô sẽ càng mãn nguyện.”
Rồi Aslak bắt đầu kể cho Osa chuyện căn bệnh mang tên “Dịch hạch Đen” từng hoành hành khắp đất nước. Cậu không chắc nó có quét qua miền “Saméland” đích thực nơi họ đang ở hay không; nhưng tại Jämtland, nó tàn phá dữ dội đến mức trong cộng đồng Samé sống ở rừng núi, tất cả đều chết, chỉ còn một cậu bé mười lăm tuổi. Trong số người Thụy Điển sống ở thung lũng, cũng chỉ còn một cô gái mười lăm tuổi.
Cậu bé và cô gái riêng rẽ đi khắp vùng đất hoang vắng suốt mùa đông để tìm người khác. Cuối cùng, gần sang xuân, họ gặp nhau. Aslak kể tiếp: “Cô gái Thụy Điển xin cậu bé Lapland cùng mình đi về nam, nơi cô có thể gặp người cùng dân tộc. Cô không muốn nán lại Jämtland, nơi chỉ còn những trang trại trống. ‘Tôi sẽ đưa cô tới bất cứ đâu cô muốn,’ cậu bé nói, ‘nhưng phải đợi đến mùa đông. Giờ là mùa xuân, tuần lộc của tôi đi về tây, hướng tới núi. Cô biết người Samé chúng tôi phải đi theo nơi tuần lộc dẫn tới.’ Cô gái Thụy Điển là con nhà giàu, quen sống dưới mái nhà, ngủ trên giường, ăn bên bàn. Cô vẫn luôn khinh những người miền núi nghèo, nghĩ kẻ sống ngoài trời là bất hạnh nhất; nhưng cô sợ trở về nhà, nơi chỉ còn người chết. ‘Ít nhất hãy cho tôi theo anh lên núi,’ cô nói, ‘để tôi không phải lang thang một mình ở đây, chẳng bao giờ nghe tiếng người.’
“Cậu bé vui lòng đồng ý, thế là cô gái theo đàn tuần lộc lên núi.
“Đàn vật khao khát những bãi cỏ tốt trên đó, mỗi ngày đi những quãng dài để ăn rêu. Không có thời gian dựng lều. Hai đứa trẻ phải nằm trên nền tuyết ngủ khi tuần lộc dừng lại gặm cỏ. Cô gái thường thở dài, than mệt đến mức phải quay lại thung lũng. Dẫu vậy cô vẫn đi tiếp để khỏi bị bỏ lại không có bạn người.
“Khi tới vùng cao, cậu bé dựng cho cô gái một chiếc lều trên ngọn đồi xinh đẹp thoải xuống một dòng suối núi.
“Buổi tối, cậu dùng thòng lọng bắt tuần lộc, vắt sữa rồi cho cô gái uống. Cậu lấy thịt tuần lộc khô và pho mát tuần lộc mà người nhà cất trên vùng cao từ mùa hè trước.
“Thế mà cô gái vẫn luôn càu nhàu, chẳng bao giờ hài lòng. Cô không ăn thịt hay pho mát tuần lộc, cũng không uống sữa tuần lộc. Cô không quen ngồi xổm trong lều hay nằm trên đất với chỉ một tấm da tuần lộc cùng vài cành vân sam làm giường.
“Người con trai của núi rừng cười trước những nỗi khổ của cô nhưng vẫn tiếp tục đối xử tử tế.
“Vài ngày sau, cô gái tới bên cậu lúc cậu vắt sữa, hỏi mình có thể giúp không. Tiếp đó cô nhóm lửa dưới nồi nấu thịt tuần lộc, rồi gánh nước và làm pho mát. Thời gian trôi vui vẻ. Thời tiết ôn hòa, thức ăn dễ kiếm. Họ cùng đặt bẫy thú, câu cá hồi suối ở ghềnh và hái dâu mâm xôi vàng trong đầm lầy.
“Khi mùa hè qua, họ xuống thấp hơn trên núi, tới nơi rừng thông gặp rừng cây lá rộng. Ở đó họ dựng lều. Mỗi ngày đều phải làm việc vất vả, nhưng sống sung túc hơn vì nhờ thú săn, thức ăn còn dồi dào hơn mùa hè.
“Khi tuyết tới và hồ bắt đầu đóng băng, họ tiến xa hơn về đông, hướng tới những rừng thông rậm rạp.
“Ngay khi dựng xong lều, công việc mùa đông bắt đầu. Cậu bé dạy cô gái se dây từ gân tuần lộc, thuộc da, làm giày và quần áo bằng da, làm lược và dụng cụ từ sừng tuần lộc, đi ván trượt tuyết và điều khiển xe trượt do tuần lộc kéo.
“Khi họ đã vượt qua mùa đông tăm tối, mặt trời bắt đầu chiếu suốt ngày và gần trọn đêm, cậu bé nói giờ mình sẽ đưa cô về nam để gặp người cùng dân tộc.
“Cô gái kinh ngạc nhìn cậu.
“‘Tại sao anh muốn đuổi tôi đi?’ cô hỏi. ‘Anh nhớ cảnh chỉ có một mình với đàn tuần lộc sao?’
“‘Tôi cứ tưởng chính cô mong được rời đi?’ cậu bé nói.
“‘Tôi đã sống cuộc đời người Samé gần một năm,’ cô gái đáp. ‘Sau khi tự do lang thang trên núi và trong rừng, tôi không thể trở về sống cuộc đời tù túng giữa dân tộc mình. Đừng đuổi tôi đi, hãy cho tôi ở lại. Lối sống của anh tốt hơn của chúng tôi.’
“Cô gái ở lại với cậu bé suốt đời và không bao giờ còn nhớ mong thung lũng. Còn cô, Osa, chỉ cần ở với chúng tôi một tháng, cô sẽ không bao giờ có thể rời xa nữa.”
Nói những lời ấy, Aslak, cậu bé Lapland, kết thúc câu chuyện. Đúng lúc đó, cha cậu là Ola Serka bỏ tẩu khỏi miệng và đứng lên.
Ola già hiểu tiếng Thụy Điển nhiều hơn mức ông muốn người khác biết, và đã nghe lời con trai. Trong lúc lắng nghe, ông chợt hiểu mình nên xử lý việc tế nhị báo cho Jon Esserson rằng con gái đang tìm ông ra sao.
Ola Serka xuống hồ Luossajaure, đi dọc bờ một quãng ngắn thì gặp một người đàn ông ngồi câu cá trên đá.
Người câu cá tóc bạc, lưng còng. Đôi mắt ông mệt mỏi chớp, cả người toát vẻ rã rời, bất lực. Ông giống một người từng cố gánh vật quá nặng hoặc giải bài toán quá khó, rồi suy sụp, tuyệt vọng vì thất bại.
“Hẳn đêm nay anh câu gặp may lắm, Jon, nên mới ngồi suốt đêm?” người miền núi nói bằng tiếng Lapland khi tới gần.
Người câu cá giật mình rồi ngước lên. Mồi trên lưỡi câu đã mất, bên bờ chẳng có lấy một con cá. Ông vội mắc mồi mới, quăng dây; trong lúc ấy người miền núi ngồi xổm trên cỏ bên cạnh.
“Có chuyện tôi muốn bàn với anh,” Ola nói. “Anh biết tôi từng có cô con gái nhỏ mất mùa đông trước, và trong lều chúng tôi vẫn luôn nhớ con bé.”
“Phải, tôi biết,” người câu cá cộc lốc đáp, một bóng mây lướt qua mặt — như thể ông không thích bị nhắc về đứa trẻ đã chết.
“Không đáng để người ta dành cả đời đau buồn,” người Lapland nói.
“Có lẽ là vậy.”
“Giờ tôi nghĩ đến chuyện nhận nuôi một đứa trẻ khác. Anh thấy đó có phải ý hay không?”
“Còn tùy đứa trẻ, Ola.”
“Tôi sẽ kể anh nghe những gì mình biết về cô bé,” Ola nói. Rồi ông kể rằng vào khoảng giữa mùa hè, hai đứa trẻ lạ — một trai, một gái — tới khu mỏ tìm cha; nhưng vì cha đi vắng, chúng ở lại chờ ông về. Trong thời gian ấy, cậu bé bị đá nổ mìn giết chết.
Rồi Ola kể thật đẹp về lòng can đảm của cô bé và cách cô giành được sự khâm phục, thương cảm của mọi người.
“Đó là cô bé anh muốn đưa vào lều sao?” người câu cá hỏi.
“Phải,” người Lapland đáp. “Khi nghe câu chuyện, tất cả chúng tôi đều vô cùng xúc động và bảo nhau rằng một người chị tốt như thế cũng sẽ là cô con gái tốt; chúng tôi mong con bé tới với mình.”
Người câu cá im lặng suy nghĩ một lát. Rõ ràng ông chỉ tiếp tục trò chuyện để chiều lòng người bạn Lapland.
“Tôi đoán cô bé là người cùng dân tộc với anh?”
“Không,” Ola nói, “con bé không thuộc dân tộc Samé.”
“Có lẽ nó là con gái một người mới định cư và đã quen cuộc sống nơi đây?”
“Không, con bé đến từ tận miền nam,” Ola đáp như thể điều ấy chẳng quan trọng.
Người câu cá trở nên quan tâm hơn.
“Vậy tôi không tin anh có thể nhận nuôi nó,” ông nói. “Chưa chắc nó chịu nổi cảnh sống trong lều mùa đông vì vốn không quen sống như vậy.”
“Trong lều, con bé sẽ có cha mẹ và anh chị em tốt bụng,” Ola Serka khăng khăng. “Cô độc còn tệ hơn rét buốt.”
Người câu cá càng lúc càng sốt sắng ngăn việc nhận nuôi. Dường như ông không chịu nổi ý nghĩ một đứa con của cha mẹ Thụy Điển được người Lapland cưu mang.
“Vừa rồi anh nói cha nó làm ở khu mỏ.”
“Ông ấy chết rồi,” người Lapland cộc lốc đáp.
“Tôi đoán anh đã điều tra kỹ chuyện này, Ola?”
“Cất công làm vậy để làm gì?” người Lapland khinh khỉnh. “Tôi phải biết chứ! Nếu có cha còn sống, cô bé và em trai có phải lang thang khắp đất nước không? Nếu có cha, hai đứa trẻ có bị buộc tự chăm sóc mình không? Chính cô bé nghĩ ông ấy còn sống, nhưng tôi bảo hẳn ông ấy đã chết.”
Người đàn ông có đôi mắt mệt mỏi quay sang Ola.
“Cô bé tên gì, Ola?” ông hỏi.
Người miền núi nghĩ một lát rồi nói:
“Tôi không nhớ. Phải hỏi con bé.”
“Hỏi nó! Nó đã ở đây sao?”
“Con bé đang dưới trại.”
“Cái gì, Ola! Anh đã nhận nó trước khi biết ý cha nó sao?”
“Tôi quan tâm gì đến cha nó! Nếu chưa chết, có lẽ ông ta là hạng người chẳng quan tâm tới con. Có khi ông ta còn vui vì có người khác nhận chăm sóc nó.”
Người câu cá ném cần xuống, đứng bật dậy với những cử động nhanh nhẹn báo hiệu sức sống mới.
“Tôi không nghĩ cha con bé giống người thường,” người miền núi nói tiếp. “Có lẽ ông ta bị những điềm dữ u ám ám ảnh nên không thể làm việc đều đặn. Một người cha như thế thì ích gì cho con bé?”
Trong lúc Ola nói, người câu cá bắt đầu đi ngược bờ.
“Anh đi đâu vậy?” người Lapland hỏi.
“Tôi đi xem con gái nuôi của anh, Ola.”
“Tốt!” người Lapland nói. “Đi gặp con bé đi. Tôi nghĩ anh sẽ nói nó là cô con gái tốt của tôi.”
Người Thụy Điển lao đi nhanh đến mức người Lapland gần như không theo kịp.
Một lát sau Ola nói với bạn đồng hành:
“Giờ tôi nhớ cô bé tôi định nhận nuôi tên là Osa.”
Người kia chỉ tiếp tục vội vã tiến bước, còn Ola Serka già hài lòng đến mức muốn cười vang.
Khi những chiếc lều hiện ra trong tầm mắt, Ola nói thêm vài lời.
“Con bé tới chỗ người Samé chúng tôi để tìm cha, không phải làm con nuôi tôi. Nhưng nếu nó không tìm thấy ông ấy, tôi sẽ vui lòng giữ nó trong lều.”
Người câu cá càng bước nhanh hơn.
“Đáng lẽ ta phải biết ông ấy sẽ hoảng lên khi ta dọa đưa con gái vào khu lều Lapland,” Ola cười thầm.
Cuối ngày hôm ấy, khi người đàn ông từ Kiruna đã đưa Osa tới lều quay về, trên thuyền có hai người ngồi sát nhau, nắm tay — như thể không bao giờ còn muốn chia lìa.
Đó là Jon Esserson và con gái. Cả hai đều khác hẳn vài giờ trước.
Người cha trông bớt còng và mệt mỏi, đôi mắt trong sáng, hiền hậu, như thể cuối cùng ông đã tìm được lời giải cho điều dằn vặt mình bấy lâu.
Osa, cô bé chăn ngỗng, không còn khao khát nhìn quanh, bởi cô đã tìm được người chăm sóc mình và giờ có thể trở lại làm một đứa trẻ.