Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils — Chương 5: Vũ hội lớn của chim sếu trên Kullaberg

Chương 5 / 43 · Bài review Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils

_Thứ Ba, ngày hai mươi chín tháng Ba_.

Mặc dù Skåne có nhiều công trình tráng lệ, vẫn phải thừa nhận rằng không một công trình nào có những bức vách đẹp bằng Kullaberg cổ kính.

Kullaberg thấp và khá dài. Đây tuyệt nhiên không phải một ngọn núi lớn lao hay hùng vĩ. Trên đỉnh núi rộng có rừng cây, đồng lúa và đôi chỗ là những bãi hoang thạch nam. Nơi này nơi kia nhô lên những gò thạch nam tròn trịa và các vách đá trơ trụi. Trên đó không đẹp gì đặc biệt. Nó trông gần giống mọi vùng đất cao khác ở Skåne.

Ai đi theo con đường chạy qua giữa núi cũng không khỏi thấy đôi chút thất vọng. Nhưng rồi có lẽ người ấy tình cờ rời đường, lang thang về phía sườn núi và nhìn xuống những vách đá; bấy giờ, đột nhiên trước mắt hiện ra biết bao cảnh đáng xem đến mức người ấy hầu như không biết tìm đâu ra thời gian để ngắm cho hết. Bởi Kullaberg không đứng giữa đất liền, chung quanh là đồng bằng và thung lũng như những ngọn núi khác; nó đã lao mình ra biển xa hết mức có thể. Dưới chân núi không có dù chỉ một dải đất nhỏ nhất để che chở khỏi sóng bạc đầu; những con sóng tràn tới tận vách núi, tha hồ mài giũa và uốn nắn theo ý mình. Vì thế các vách núi mới được tô điểm phong phú đến mức biển cùng người bạn đồng hành của nó là gió có thể tạo nên. Có những khe núi dốc được đục sâu vào sườn núi; những mỏm đá đen đã hóa nhẵn bóng dưới làn gió quất triền miên. Có những cột đá cô độc vươn thẳng khỏi mặt nước và những hang tối với cửa vào chật hẹp. Có các vách dựng đứng trơ trụi và những triền dốc mềm mại phủ đầy lá. Có những mũi đất nhỏ, những vịnh nhỏ và những hòn cuội nhỏ bị từng đợt sóng xô lên cuốn xuống, va nhau lách cách. Có các vòm đá uy nghi vươn ra trên mặt nước. Có những tảng đá nhọn không ngừng bị bọt trắng phun lên; lại có những tảng soi bóng trong làn nước xanh sẫm tĩnh lặng, không bao giờ đổi sắc. Có những hang yêu tinh khổng lồ được tạo hình trong đá và các kẽ nứt lớn quyến rũ người lữ hành dấn sâu vào lòng núi — đi mãi tới Kullman's Hollow.

Trên và quanh tất cả những vách đá, tảng đá ấy, các tua dây leo và cỏ dại rối bời bò lan. Cây cối cũng mọc ở đó, nhưng sức gió mạnh đến nỗi chúng phải biến mình thành những dây leo bám chặt để có thể giữ vững trên vách dốc. Sồi bò sát mặt đất, tán lá rủ bên trên như một trần nhà thấp; còn những cây dẻ gai cành dài đứng trong khe núi như những căn lều lá lớn.

Chính những vách núi khác thường ấy, với biển xanh bên dưới và bầu không khí trong trẻo, sắc nét bên trên, đã khiến Kullaberg được con người yêu quý đến mức suốt mùa hè, ngày nào những đám đông cũng lui tới nơi đây. Nhưng khó mà nói điều gì đã khiến nó hấp dẫn loài vật đến nỗi mỗi năm chúng đều tụ hội tại đây trong một ngày hội lớn. Tục lệ này đã có từ thuở xa xưa không ai còn nhớ; và muốn giải thích vì sao Kullaberg được chọn làm nơi hội họp hơn mọi nơi khác, hẳn người ta phải có mặt từ lúc con sóng biển đầu tiên vỡ thành bọt trắng bên bờ.

Khi ngày hội sắp diễn ra, hươu đực, hoẵng đực, thỏ rừng, cáo và mọi loài bốn chân khác đều lên đường tới Kullaberg từ đêm hôm trước để con người khỏi trông thấy. Ngay trước lúc mặt trời mọc, tất cả kéo lên bãi hội, một bãi hoang thạch nam nằm bên trái đường, không xa mũi núi ngoài cùng. Bãi hội được những gò tròn vây kín mọi phía, che khuất nó trước bất kỳ ai không tình cờ đi thẳng tới đó. Mà trong tháng Ba, chẳng mấy khi có khách bộ hành lạc lên nơi này. Những người khách thường dạo quanh các ghềnh đá và trèo lên sườn núi đã bị bão thu xua đi từ nhiều tháng trước. Còn người gác hải đăng ngoài mũi đất, bà lão ở trang trại trên núi, người nông dân miền núi cùng gia quyến đều đi theo lối quen, chẳng chạy nhảy trên những bãi thạch nam hoang vắng.

Khi các loài bốn chân tới bãi hội, chúng chiếm chỗ trên những gò tròn. Mỗi họ muông thú ở riêng với nhau, dù ai cũng hiểu rằng vào một ngày như thế này, hòa bình ngự trị khắp nơi và không kẻ nào phải sợ bị tấn công. Ngày ấy, một chú thỏ nhỏ có thể đi sang gò của loài cáo mà chẳng mất lấy một chiếc tai dài. Nhưng muông thú vẫn chia thành từng nhóm riêng. Đó là tục lệ lâu đời.

Sau khi tất cả đã yên vị, chúng bắt đầu nhìn quanh tìm chim chóc. Ngày này bao giờ thời tiết cũng đẹp. Sếu dự báo thời tiết rất giỏi và sẽ không triệu tập muông thú nếu đoán trời mưa. Dù không khí trong veo, tầm mắt chẳng bị gì che khuất, các loài bốn chân vẫn không thấy một con chim nào. Thật lạ lùng. Mặt trời đã lên cao, đáng lẽ chim chóc phải đang trên đường tới.

Nhưng điều muông thú trông thấy lại là vài đám mây đen nhỏ đang chậm rãi tiến qua đồng bằng. Và kìa! Một đám mây từ từ men theo bờ Öresund, bay lên phía Kullaberg. Khi tới ngay trên bãi hội, đám mây dừng lại; cùng lúc ấy, cả đám bắt đầu ngân vang và líu ríu như thể chỉ được dệt bằng âm thanh. Nó dâng lên rồi hạ xuống, dâng lên rồi hạ xuống, nhưng không ngừng ngân vang, líu ríu. Cuối cùng, cả đám mây đồng loạt đổ xuống một gò; ngay giây sau, ngọn gò đã phủ kín những chú sơn ca xám, những chú sẻ ức đỏ xinh xắn mang màu đỏ-trắng-xám, sáo đá lốm đốm và bạc má xanh vàng.

Chẳng bao lâu sau, một đám mây khác bay qua đồng bằng. Nó dừng trên từng khoảnh đất; trên nhà tranh của nông dân và cung điện; trên thị trấn và thành phố; trên trang trại và ga xe lửa; trên làng chài và nhà máy đường. Mỗi lần nó dừng, một cột bụi xám nhỏ cuộn lên khỏi mặt đất và bị hút vào trong. Cứ thế, nó lớn mãi, lớn mãi. Đến cuối cùng, khi đã tụ họp đầy đủ và hướng về Kullaberg, nó không còn là một đám mây mà biến thành cả một màn sương lớn đến mức phủ bóng xuống mặt đất suốt từ Höganäs tới Mölle. Khi dừng trên bãi hội, nó che khuất mặt trời; và chim sẻ xám phải trút như mưa xuống một ngọn gò hồi lâu thì những con bay sâu nhất trong màn sương mới lại nhìn thấy ánh ngày.

Nhưng đám mây chim lớn nhất vẫn là đám đang xuất hiện lúc này. Nó được tạo nên từ những con chim bay tới nhập đàn từ khắp mọi phương. Đám mây mang màu xám xanh đen, không một tia nắng nào xuyên qua nổi. Nó chứa đầy những âm thanh ghê rợn nhất, những tiếng thét kinh hồn nhất, những tràng cười dữ tợn nhất và những tiếng quàng quạc báo điềm gở nhất! Mọi loài trên bãi hội đều mừng khi cuối cùng nó tan thành một cơn bão cánh đập và tiếng quàng quạc của quạ, quạ gáy xám, quạ mỏ trọc và quạ lớn.

Sau đó, trên trời không chỉ xuất hiện những đám mây mà còn đủ loại đường nét và hình thù. Từ phía đông và đông bắc hiện ra những đường thẳng chấm đoạn. Đó là chim rừng từ vùng Göinge: gà gô đen và gà gô rừng bay thành những hàng dài, con nọ cách con kia vài mét. Những loài chim nước sống quanh Måkläppen, ngay ngoài Falsterbo, lúc này trôi trên Öresund theo nhiều đội hình lạ mắt: hình tam giác, những đường cong dài, những chiếc móc nhọn và nửa vòng tròn.

Trong cuộc hội ngộ lớn diễn ra vào năm Nils Holgersson chu du cùng đàn ngỗng trời, Akka và đàn của bà đến muộn hơn tất cả. Điều ấy chẳng có gì lạ, vì Akka phải bay qua suốt Skåne mới tới được Kullaberg. Hơn nữa, ngay khi thức giấc, bà đã phải đi tìm Tí Hon, người đã dành nhiều giờ thổi sáo cho lũ chuột xám và nhử chúng đi thật xa lâu đài Glimminge. Ông Cú đã trở về báo tin rằng chuột đen sẽ về tới nhà ngay sau lúc mặt trời mọc; không còn nguy hiểm gì nếu để tiếng sáo của cú tháp chuông im bặt và trả cho chuột xám quyền tự do đi đâu tùy thích.

Nhưng không phải Akka phát hiện ra cậu bé đang bước đi cùng đoàn tùy tùng dài phía sau, rồi lập tức sà xuống, ngoạm lấy cậu và vút lên không trung; mà chính là ngài Ermenrich, chú cò! Bởi ngài Ermenrich cũng đã đi tìm cậu; sau khi đưa cậu lên tổ cò, ngài xin cậu tha thứ vì tối hôm trước đã đối xử thiếu tôn trọng.

Điều ấy khiến cậu bé vô cùng vui sướng, và cậu với cò trở thành bạn tốt. Akka cũng cho cậu thấy bà rất mến cậu; bà cọ cái đầu già của mình vào tay cậu vài lần và khen cậu vì đã giúp đỡ những kẻ gặp hoạn nạn.

Nhưng phải ghi nhận một điều đáng quý ở cậu bé: cậu không muốn nhận lời khen mà mình chưa xứng đáng. “Không đâu, mẹ Akka,” cậu nói, “mẹ đừng nghĩ con nhử chuột xám đi là để giúp chuột đen. Con chỉ muốn cho ngài Ermenrich thấy rằng con cũng có chút giá trị.”

Cậu vừa dứt lời, Akka đã quay sang cò và hỏi liệu ngài có cho rằng nên đưa Tí Hon cùng tới Kullaberg không. “Ý tôi là chúng ta có thể tin cậu ấy như tin chính mình,” bà nói. Cò lập tức hết sức nhiệt tình khuyên nên cho phép Tí Hon đi cùng. “Tất nhiên mẹ Akka phải đưa Tí Hon tới Kullaberg,” ngài nói. “Thật may là chúng ta có thể đền đáp tất cả những gì cậu ấy đã chịu đựng đêm nay vì chúng ta. Và vì tôi vẫn còn đau lòng khi nghĩ tới cách cư xử không phải phép với cậu ấy tối hôm trước, chính tôi sẽ cõng cậu ấy trên lưng — suốt đường tới nơi hội họp.”

Ít có điều gì ngọt ngào hơn được những người vốn khôn ngoan, tài giỏi khen ngợi; và chắc chắn cậu bé chưa bao giờ hạnh phúc như khi ngỗng trời và cò nói về mình theo cách ấy.

Thế là cậu bé cưỡi trên lưng cò tới Kullaberg. Dù biết đây là một vinh dự lớn, cậu vẫn hết sức lo âu, bởi ngài Ermenrich là bậc thầy bay lượn và khởi hành với nhịp độ hoàn toàn khác đàn ngỗng trời. Trong khi Akka bay thẳng theo đường của mình bằng những nhịp cánh đều đặn, cò vui thú biểu diễn đủ trò nhào lượn. Khi thì ngài nằm im ở một độ cao không thể đo lường, lơ lửng giữa không trung mà chẳng hề động cánh; khi lại bất thần lao xuống nhanh đến mức tưởng như sẽ rơi bất lực xuống đất như một hòn đá; khi thì thích thú bay vòng quanh Akka theo những vòng lớn nhỏ, tựa một cơn lốc. Cậu bé chưa từng trải qua chuyến cưỡi nào như thế; và dù suốt thời gian ấy ngồi trong kinh hãi, cậu vẫn phải tự thừa nhận rằng trước đây mình chưa hề biết một chuyến bay tuyệt diệu là thế nào.

Suốt hành trình, họ chỉ dừng một lần ở hồ Vomb, nơi Akka nhập lại với các bạn đồng hành và gọi báo rằng chuột xám đã bị đánh bại. Sau đó, cả đoàn bay thẳng tới Kullaberg.

Tại đó, họ đáp xuống ngọn gò dành riêng cho ngỗng trời; và khi cậu bé đưa mắt nhìn từ gò này sang gò khác, cậu thấy trên một gò là những bộ gạc nhiều nhánh của đàn hươu đực, trên gò khác là các chùm lông cổ của diệc xám. Một gò đỏ rực màu cáo, một gò xám màu chuột; một gò phủ kín quạ lớn đen tuyền không ngừng gào, còn một gò đầy sơn ca chẳng thể nào đứng yên, cứ tung mình lên không trung và hót vang vì quá đỗi vui mừng.

Theo tục lệ từ bao đời ở Kullaberg, chính loài quạ mở đầu những trò chơi và cuộc vui trong ngày bằng điệu múa bay. Chúng chia làm hai đàn, bay về phía nhau, gặp nhau, quay lại rồi bắt đầu từ đầu. Điệu múa lặp đi lặp lại nhiều lần và đối với những khán giả chưa quen, nó quá đỗi đơn điệu. Quạ rất tự hào về điệu múa của mình, nhưng mọi loài khác đều mừng khi nó kết thúc. Muông thú thấy nó ảm đạm và vô nghĩa chẳng khác gì trò đùa của bão đông với những bông tuyết. Nhìn điệu múa khiến chúng nặng lòng, và chúng háo hức chờ một tiết mục có thể mang lại đôi chút vui thích.

Chúng không phải chờ uổng công; ngay khi quạ vừa kết thúc, đàn thỏ rừng chạy ùa ra. Chúng lao tới thành một hàng dài, dường như chẳng theo trật tự nào. Trong vài thế múa chỉ có một con thỏ; trong những thế khác, chúng chạy hàng ba, hàng bốn. Tất cả đều nhổm trên hai chân và lao đi nhanh đến mức đôi tai dài đung đưa khắp mọi hướng. Vừa chạy, chúng vừa xoay tròn, nhảy vọt lên cao và vỗ hai chân trước vào chân sau nghe lách cách. Một số con thực hiện liên tiếp những cú lộn nhào dài; những con khác cuộn mình rồi lăn đi như bánh xe; một con đứng trên một chân mà xoay; một con đi bằng hai chân trước. Không có bất kỳ quy tắc nào, nhưng trò vui của đàn thỏ có biết bao điều ngộ nghĩnh; và vô số muông thú đứng xem bắt đầu thở nhanh hơn. Giờ đây đã là mùa xuân; niềm vui và mê say đang tiến đến. Mùa đông đã qua; mùa hè đang tới. Chẳng bao lâu nữa, sống thôi cũng sẽ toàn là vui chơi.

Khi đàn thỏ đã nô đùa thỏa thích, tới lượt những loài chim rừng lớn biểu diễn. Hàng trăm con gà gô rừng trong bộ cánh nâu sẫm bóng mượt, với hàng mày đỏ tươi, tung mình lên một cây sồi lớn đứng giữa bãi hội. Con đậu trên cành cao nhất xù lông, hạ cánh và dựng đuôi để lộ những chiếc lông phủ màu trắng. Sau đó, nó vươn cổ, từ cuống họng dày phát ra đôi tiếng trầm. “Tjack, tjack, tjack,” âm thanh vang lên. Nó không thể thốt thêm gì nữa, chỉ òng ọc vài tiếng tận sâu trong cổ họng. Rồi nó nhắm mắt và thì thầm: “Sis, sis, sis. Nghe hay biết bao! Sis, sis, sis.” Cùng lúc ấy, nó rơi vào cơn mê say đến mức không còn biết chung quanh đang xảy ra chuyện gì.

Trong lúc con gà gô rừng đầu tiên rít tiếng “sis”, ba con gần nhất bên dưới bắt đầu cất giọng; trước khi chúng hát xong, mười con đậu thấp hơn đã hòa vào; cứ thế tiếp diễn từ cành này sang cành khác cho tới khi cả trăm con cùng hát, òng ọc và rít lên. Tất cả đều rơi vào cùng một cơn mê say trong tiếng hát, và điều ấy lan sang các loài vật khác như một niềm xuất thần truyền nhiễm. Mới đây, máu còn chảy nhẹ nhàng, dễ chịu trong huyết quản; giờ nó bắt đầu trở nên nặng nề và nóng bỏng. “Phải, đây chắc chắn là mùa xuân,” toàn thể muông thú nghĩ. “Cái lạnh mùa đông đã tan biến. Ngọn lửa mùa xuân đang cháy khắp mặt đất.”

Khi gà gô đen thấy gà gô nâu thành công đến thế, chúng không thể im lặng thêm nữa. Vì không có cây cho chúng đáp xuống, chúng lao thẳng vào bãi hội, nơi thạch nam mọc cao đến mức chỉ những chiếc lông đuôi cong đẹp đẽ và những cái mỏ dày của chúng lộ ra — rồi chúng bắt đầu hát: “Orr, orr, orr.”

Đúng lúc gà gô đen bắt đầu tranh tài với gà gô nâu, một chuyện chưa từng có bỗng xảy ra. Trong khi mọi loài vật chỉ mải mê với trò diễn của gà gô, một con cáo chậm rãi lẻn sang gò ngỗng trời. Nó trườn đi hết sức thận trọng và đã lên tận trên gò mà không ai nhận thấy. Bất chợt một con ngỗng trông thấy nó; vì không thể tin con cáo lẻn vào giữa đàn ngỗng với ý đồ tốt lành, nó cất tiếng kêu: “Cẩn thận, ngỗng trời! Cẩn thận!” Cáo ngoạm ngang cổ nó — có lẽ chủ yếu vì muốn bắt nó im tiếng — nhưng đàn ngỗng trời đã nghe lời cảnh báo và tất cả đều bay vọt lên không trung. Khi chúng đã cất cánh, muông thú nhìn thấy cáo Smirre đứng trên gò ngỗng trời, miệng ngoạm một con ngỗng đã chết.

Nhưng vì đã phá vỡ nền hòa bình của ngày hội theo cách ấy, cáo Smirre phải nhận một hình phạt khiến nó suốt đời hối tiếc vì không kiềm chế nổi cơn khát trả thù mà tìm cách tiếp cận Akka cùng đàn của bà như vậy.

Nó lập tức bị một đám cáo bao vây và kết án theo tục lệ cổ xưa, quy định rằng bất kỳ kẻ nào quấy rối hòa bình trong ngày hội lớn đều phải chịu lưu đày. Không một con cáo nào muốn xin giảm án, vì tất cả đều biết ngay khi thử làm chuyện ấy, chính chúng sẽ bị đuổi khỏi bãi hội và không bao giờ được phép trở lại. Smirre bị tuyên án lưu đày mà không có lời phản đối nào. Nó bị cấm ở lại Skåne; bị đày xa vợ và họ hàng, xa vùng săn mồi, hang ổ, chỗ nghỉ và nơi ẩn náu mà từ trước đến nay nó vẫn sở hữu; rồi phải đi tìm vận may ở xứ lạ. Để mọi con cáo ở Skåne đều biết Smirre đã bị đặt ngoài vòng phép tắc trong vùng, con cáo già nhất cắn đứt vành tai phải của nó. Việc ấy vừa xong, tất cả cáo trẻ liền tru lên vì khát máu và lao vào Smirre. Nó không còn lựa chọn nào khác ngoài bỏ chạy; với toàn bộ lũ cáo trẻ bám riết phía sau, nó lao khỏi Kullaberg.

Tất cả chuyện này xảy ra trong khi gà gô đen và gà gô nâu vẫn tiếp tục trò diễn. Nhưng những con chim ấy chìm đắm hoàn toàn trong tiếng hát đến mức chẳng nghe, chẳng thấy gì. Chúng cũng không cho phép bản thân bị quấy rầy.

Cuộc tranh tài của chim rừng vừa kết thúc thì đàn hươu đực từ Häckeberga bước ra trình diễn môn vật. Nhiều cặp hươu cùng giao đấu một lúc. Chúng dùng sức mạnh khủng khiếp lao vào nhau, hùng hổ nện gạc khiến các nhánh móc chặt vào nhau, rồi cố đẩy đối thủ lùi lại. Bãi thạch nam bị móng guốc cày tung; hơi thở phun khỏi lỗ mũi như khói; những tiếng rống ghê rợn bị ép bật ra từ cổ họng, còn bọt mép chảy xuống vai chúng.

Trên các ngọn gò chung quanh, mọi loài nín thở im lặng trong lúc những đô vật hươu điêu luyện ghì nhau. Những cảm xúc mới mẻ thức dậy trong lòng tất cả muông thú. Mỗi con đều thấy mình can đảm và mạnh mẽ; phấn chấn vì sức lực trở về; được tái sinh cùng mùa xuân; nhanh nhẹn và sẵn sàng cho mọi cuộc phiêu lưu. Chúng không hề thù địch nhau, mặc dù khắp nơi cánh đã giương lên, lông cổ đã dựng đứng và móng vuốt đã mài sắc. Nếu đàn hươu Häckeberga tiếp tục thêm một giây, một cuộc hỗn chiến dữ dội hẳn đã bùng lên trên các ngọn gò, bởi tất cả đều bị thôi thúc bởi khát vọng cháy bỏng muốn chứng tỏ rằng mình cũng tràn đầy sinh lực: sự bất lực của mùa đông đã qua và sức mạnh đang cuộn dâng trong cơ thể.

Nhưng đàn hươu dừng cuộc vật đúng lúc, và ngay lập tức một tiếng thì thầm truyền từ gò này sang gò khác: “Sếu đang tới!”

Rồi những cánh chim xám khoác màu chạng vạng xuất hiện, với lông dài trên cánh và những món trang sức bằng lông đỏ quanh cổ. Đàn chim lớn có đôi chân cao, chiếc cổ thanh mảnh và cái đầu nhỏ lướt xuống gò trong một vẻ phóng khoáng đầy bí ẩn. Khi lướt tới, chúng xoay tròn — nửa bay, nửa múa. Với đôi cánh duyên dáng nâng cao, chúng chuyển động nhanh không thể tưởng tượng. Điệu múa của chúng mang nét kỳ diệu và lạ lùng. Cứ như những chiếc bóng xám đang chơi một trò mà mắt người gần như không theo kịp. Cứ như chúng đã học điệu múa từ những màn sương lơ lửng trên đầm lầy hoang vắng. Trong đó có ma thuật. Tất cả những ai chưa từng tới Kullaberg đều hiểu vì sao cả cuộc hội họp mang tên điệu múa của loài sếu. Điệu múa có vẻ hoang dã; nhưng cảm xúc nó đánh thức lại là một niềm khao khát ngọt ngào. Không ai còn nghĩ đến chuyện giao đấu. Thay vào đó, cả những loài có cánh lẫn không cánh đều muốn bay lên mãi mãi, vượt khỏi mây cao, kiếm tìm điều ẩn giấu phía sau mây, rời bỏ thân xác nặng nề kéo mình xuống đất và vút bay về cõi vô cùng.

Niềm khát khao hướng tới điều không thể đạt được, hướng tới những bí ẩn khuất sau cuộc đời này, muông thú chỉ cảm thấy mỗi năm một lần; ấy là ngày chúng được chiêm ngưỡng điệu múa sếu vĩ đại.