Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils — Chương 7: Cầu thang ba bậc
Chương 7 / 43 · Bài review Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils
_Thứ Năm, ngày ba mươi mốt tháng Ba_.
Ngày hôm sau, đàn ngỗng trời định bay về phương bắc, xuyên qua vùng Allbo thuộc Småland. Chúng cử Iksi và Kaksi đi thám thính. Nhưng khi trở về, hai con báo rằng mọi mặt nước đều đóng băng, còn khắp mặt đất phủ đầy tuyết. “Chúng ta cứ ở lại đây thì hơn,” đàn ngỗng trời nói. “Không thể bay qua một xứ sở không có cả nước lẫn thức ăn.” “Nếu cứ ở đây, có khi chúng ta phải chờ đến tuần trăng sau,” Akka nói. “Tốt hơn hết hãy đi về phía đông, xuyên qua Blekinge, xem liệu có thể đến Småland theo đường Möre hay không; vùng ấy nằm gần bờ biển và đón mùa xuân sớm.”
Thế là ngày hôm sau, cậu bé được cưỡi ngỗng bay qua Blekinge. Giờ trời sáng trở lại, cậu cũng vui vẻ như trước và không sao hiểu nổi đêm qua chuyện gì đã ám lấy mình. Lúc này, cậu quả thực chẳng hề muốn từ bỏ chuyến đi cùng cuộc sống giữa trời rộng.
Một màn sương mù dày đặc phủ trên Blekinge. Cậu bé không thể nhìn thấy cảnh vật bên dưới ra sao. “Không biết mình đang bay qua một xứ sở giàu có hay nghèo nàn?” cậu nghĩ, rồi cố lục tìm trong trí nhớ những điều từng nghe về vùng này ở trường. Nhưng đồng thời, cậu thừa biết làm thế cũng vô ích, bởi xưa nay cậu chưa bao giờ có thói quen học bài.
Ngay lập tức, toàn bộ lớp học hiện ra trước mắt cậu. Đám trẻ ngồi bên những chiếc bàn nhỏ và giơ tay; thầy giáo ngồi trên bục, vẻ không hài lòng; còn chính cậu đứng trước bản đồ, lẽ ra phải trả lời một câu hỏi nào đó về Blekinge, nhưng chẳng nói được lấy một lời. Mỗi giây trôi qua, sắc mặt thầy càng tối sầm, và cậu bé nghĩ thầy coi việc học trò phải biết địa lý quan trọng hơn bất kỳ điều gì khác. Rồi thầy bước xuống khỏi bục, lấy que chỉ khỏi tay cậu và đuổi cậu về chỗ. “Chuyện này sẽ chẳng kết thúc tốt đẹp đâu,” khi ấy cậu bé đã nghĩ.
Nhưng thầy giáo đi tới một ô cửa sổ, đứng đó nhìn ra ngoài trong giây lát rồi khe khẽ huýt sáo một tiếng. Sau đó, thầy trở lại bục giảng và nói sẽ kể cho cả lớp đôi điều về Blekinge. Câu chuyện thầy kể thú vị đến mức cậu bé đã chăm chú lắng nghe. Chỉ cần dừng lại nghĩ một lát, cậu liền nhớ được từng lời.
“Småland là một ngôi nhà cao có những cây vân sam mọc trên mái,” thầy giáo nói, “và dẫn lên nhà là một cầu thang rộng gồm ba bậc lớn; cầu thang ấy mang tên Blekinge. Đó là một chiếc cầu thang được xây dựng rất chắc chắn. Nó trải dài bốn mươi hai dặm dọc theo mặt tiền ngôi nhà Småland, và bất kỳ ai muốn men theo cầu thang xuống tận biển Baltic đều phải đi bộ hai mươi bốn dặm.”
“Hẳn cầu thang ấy đã được xây từ lâu lắm. Biết bao ngày, bao năm đã trôi qua kể từ khi những bậc thang được đẽo từ đá xám rồi đặt xuống—thật đều đặn và bằng phẳng—để làm con đường thuận tiện giữa Småland và biển Baltic.”
“Vì cầu thang đã quá lâu đời, dĩ nhiên ta có thể hiểu giờ nó không còn mang dáng vẻ hệt như khi mới xây. Thầy không biết thuở ấy người ta chăm lo những chuyện như thế đến đâu; nhưng cầu thang lớn nhường ấy thì chẳng cây chổi nào có thể giữ sạch. Chỉ sau đôi ba năm, rêu và địa y bắt đầu mọc trên đó. Mùa thu, lá khô cùng cỏ úa bị gió thổi phủ xuống; mùa xuân, đá vụn và sỏi lở chất đầy. Tất cả những thứ ấy cứ nằm đó mục rữa, cuối cùng tích tụ thành nhiều đất đến mức không chỉ cỏ cây mà cả bụi rậm lẫn cây gỗ cũng có thể bén rễ trên các bậc thang.”
“Nhưng đồng thời, giữa ba bậc thang đã nảy sinh những khác biệt rất lớn. Bậc trên cùng, nằm gần Småland nhất, phần lớn phủ đất cằn và đá nhỏ; ngoài bạch dương, anh đào dại và vân sam—những loài chịu được cái lạnh trên vùng cao và bằng lòng với chút ít—không cây nào có thể sinh trưởng ở đó. Muốn hiểu nơi ấy nghèo nàn, khô cằn đến đâu, chỉ cần nhìn những khoảnh ruộng bé xíu được khai phá giữa đất rừng, nhìn bao căn nhà nhỏ người dân tự dựng cho mình và khoảng cách xa xôi giữa các nhà thờ. Nhưng bậc giữa có đất tốt hơn, cũng không bị cái lạnh khắc nghiệt trói buộc đến thế. Điều này thoạt nhìn đã thấy rõ, bởi cây cối vừa cao hơn vừa thuộc những giống tốt hơn. Ở đó mọc phong, sồi, đoan, bạch dương rủ và phỉ, nhưng gần như chẳng có cây lá kim nào đáng kể. Sự khác biệt càng rõ hơn qua diện tích đất canh tác rộng lớn, cũng như những ngôi nhà to đẹp người dân xây cho mình. Trên bậc giữa có nhiều nhà thờ với những thị trấn lớn bao quanh; xét về mọi mặt, nó mang dáng vẻ khá giả, đẹp đẽ hơn bậc trên cùng.”
“Nhưng bậc thấp nhất mới là nơi tốt đẹp hơn cả. Nó phủ đầy đất đai màu mỡ; nằm đó, tắm mình bên biển, nó không còn cảm thấy chút giá lạnh nào từ Småland. Dẻ gai, dẻ và óc chó đều sinh trưởng tốt dưới này; chúng lớn đến mức vươn cao hơn cả mái nhà thờ. Đây cũng là nơi có những cánh đồng ngũ cốc lớn nhất; nhưng người dân không chỉ sống nhờ gỗ và nghề nông, họ còn đánh cá, buôn bán và đi biển. Vì thế, nơi đây có những dinh thự đắt giá nhất cùng những nhà thờ xinh đẹp nhất; các giáo xứ đã phát triển thành làng mạc và thành phố.”
“Nhưng chuyện kể về ba bậc thang vẫn chưa hết. Ta phải hiểu rằng khi mưa rơi trên mái ngôi nhà lớn Småland, hoặc khi tuyết trên ấy tan ra, nước buộc phải tìm nơi chảy tới; thế là dĩ nhiên, rất nhiều nước đổ xuống chiếc cầu thang lớn. Ban đầu, có lẽ nó rỉ tràn trên khắp cầu thang, dù cầu thang rộng đến đâu; rồi các khe nứt xuất hiện, và dần dần nước quen chảy dọc theo chúng trong những rãnh được đào sâu. Mà nước vẫn là nước, dù người ta làm gì với nó. Nó chẳng bao giờ chịu nghỉ. Nơi này nó cắt xẻ, mài mòn; nơi kia nó bồi đắp. Nó khoét những rãnh kia thành thung lũng rồi phủ đất lên các vách thung; từ đó, bụi cây, cây gỗ và dây leo bám vào—dày đặc, um tùm đến mức gần như che kín dòng nước uốn mình dưới sâu. Nhưng khi các dòng suối tới những chiếu nghỉ giữa các bậc thang, chúng lao thẳng qua mép; vì thế nước cuộn xuống ào ạt, sôi réo, tích tụ đủ sức mạnh để quay bánh xe cối xay và máy móc—những thứ cũng mọc lên bên mỗi ngọn thác.”
“Nhưng đó vẫn chưa phải tất cả những gì người ta kể về xứ sở có ba bậc thang. Còn phải kể rằng ngày xửa ngày xưa, trên ngôi nhà lớn ở Småland có một người khổng lồ đã già lắm. Tuổi cao khiến ông mệt nhọc mỗi khi phải đi xuống chiếc cầu thang dài để bắt cá hồi ngoài biển. Ông thấy sẽ thích hợp hơn nhiều nếu cá hồi tự tìm đến nơi mình sống.”
“Bởi vậy, ông trèo lên mái ngôi nhà lớn rồi đứng trên đó ném đá xuống biển Baltic. Ông ném mạnh đến mức đá bay qua toàn bộ Blekinge và rơi xuống biển. Khi những tảng đá giáng xuống, cá hồi sợ hãi đến mức từ biển ngược vào, chạy trốn về phía các dòng suối Blekinge; chúng lao qua ghềnh, tung mình nhảy cao vượt thác rồi dừng lại.”
“Chuyện này chân thực đến đâu có thể thấy qua vô số hòn đảo và mũi đất nằm dọc bờ biển Blekinge, vốn chẳng phải thứ gì khác ngoài những tảng đá lớn người khổng lồ đã ném.”
“Ta còn có thể nhận ra điều ấy bởi cá hồi luôn ngược lên các dòng suối ở Blekinge, vượt qua ghềnh thác và những vùng nước lặng, đi suốt tới Småland.”
“Người khổng lồ ấy xứng đáng nhận được lòng biết ơn sâu sắc và niềm kính trọng lớn lao của dân Blekinge; bởi cá hồi trong sông suối cùng nghề khai thác đá trên các đảo—đó là những công việc mang lại miếng ăn cho rất nhiều người trong số họ mãi tới tận ngày nay.”