Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils — Chương 9: Karlskrona

Chương 9 / 43 · Bài review Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils

_Thứ Bảy, ngày mồng hai tháng Tư_.

Đó là một đêm trăng ở Karlskrona — yên tĩnh và đẹp đẽ. Nhưng trước đó trong ngày đã có mưa gió; hẳn người dân vẫn tưởng thời tiết xấu còn tiếp diễn, bởi gần như chẳng ai dám bước ra đường.

Trong lúc thành phố nằm vắng lặng như thế, Akka và đàn ngỗng trời của bà bay về phía đó qua Vemmön và Pantarholmen. Chúng ra ngoài vào buổi tối muộn để tìm chỗ ngủ trên các hòn đảo. Chúng không thể ở lại trong đất liền, bởi bất cứ nơi nào hạ xuống cũng bị cáo Smirre quấy nhiễu.

Khi cưỡi ngỗng bay cao trên không và nhìn xuống biển cùng những hòn đảo trải rộng phía trước, cậu bé thấy mọi vật lạ lùng, ma quái biết bao. Bầu trời không còn xanh mà khép quanh cậu như một quả cầu bằng thủy tinh lục. Biển trắng như sữa; xa đến tận tầm mắt, những con sóng trắng nhỏ lăn tăn với gợn bạc trên đầu. Giữa tất cả màu trắng ấy là vô số đảo nhỏ đen kịt như than. Dù lớn hay bé, bằng phẳng như đồng cỏ hay đầy vách đá, chúng đều đen như nhau. Ngay cả nhà cửa, nhà thờ và cối xay gió, vốn lúc khác mang màu trắng hoặc đỏ, giờ cũng in thành những hình đen trên nền trời xanh lục. Cậu bé ngỡ như trái đất đã biến hình, còn mình vừa đến một thế giới khác.

Cậu nghĩ chỉ riêng đêm nay mình sẽ can đảm, không sợ hãi — thì bỗng nhìn thấy một cảnh tượng khiến cậu thật sự kinh hoàng. Đó là một hòn đảo vách đá cao, phủ đầy những khối lớn góc cạnh; giữa các khối ấy lấp lánh những đốm vàng rực rỡ. Cậu không sao ngăn mình nghĩ đến Maglestone gần Trolle-Ljungby, tảng đá đôi khi được lũ quỷ nâng cao trên những cột vàng; và cậu tự hỏi nơi này có phải một thứ tương tự hay không.

Những tảng đá và ánh vàng có lẽ vẫn chưa đến nỗi nào, nếu quanh đảo không có vô số thứ ghê rợn nằm la liệt. Chúng trông như cá voi, cá mập và những thủy quái khổng lồ khác. Nhưng cậu bé hiểu đó là lũ quỷ biển tụ tập quanh đảo, định bò lên giao chiến với lũ quỷ đất sống trên đó. Những kẻ trên đảo hẳn đang sợ hãi, bởi cậu thấy một người khổng lồ đứng ở điểm cao nhất, giơ hai tay lên — như tuyệt vọng trước mọi tai họa sắp giáng xuống mình và hòn đảo.

Cậu bé vô cùng hoảng sợ khi nhận ra Akka đang bắt đầu hạ xuống ngay trên chính hòn đảo ấy! “Không, xin bà thương tình! Chúng ta không được đáp xuống đó,” cậu nói.

Nhưng đàn ngỗng vẫn tiếp tục hạ xuống, và chẳng bao lâu cậu bé kinh ngạc vì mình đã nhìn mọi thứ sai lệch đến thế. Trước hết, những khối đá lớn chẳng qua là nhà cửa. Cả hòn đảo là một thành phố; còn những đốm vàng lấp lánh là đèn đường và các ô cửa sổ sáng đèn. Người khổng lồ đứng ở nơi cao nhất trên đảo, giơ hai cánh tay lên, là một nhà thờ có hai tháp thánh giá; tất cả quỷ biển và thủy quái mà cậu tưởng đã nhìn thấy thực ra là đủ loại thuyền bè, tàu lớn neo quanh đảo. Phía quay vào đất liền phần lớn là thuyền chèo, thuyền buồm và tàu hơi nước nhỏ chạy ven biển; còn phía hướng ra khơi là những thiết giáp hạm bọc thép. Có chiếc rộng bè với những ống khói rất lớn và xiên nghiêng; có chiếc dài, hẹp, được đóng để lướt qua nước như loài cá.

Thành phố này có thể là nơi nào? Cậu bé đoán ra được nhờ nhìn thấy tất cả các chiến hạm. Suốt đời cậu vẫn mê tàu thuyền, dù chưa từng có dịp gần gũi với chiếc nào, trừ những con thuyền cậu từng thả trong rãnh ven đường. Cậu biết rất rõ thành phố có nhiều chiến hạm neo đậu đến vậy không thể là nơi nào khác ngoài Karlskrona.

Ông của cậu bé từng là một lính thủy già; khi còn sống, ngày nào ông cũng kể về Karlskrona, về quân cảng lớn cùng mọi thứ khác có thể chiêm ngưỡng trong thành phố ấy. Cậu bé cảm thấy nơi đây thật thân thuộc và vui mừng vì sắp được nhìn thấy tất cả những điều mình đã nghe kể rất nhiều.

Nhưng cậu chỉ kịp thoáng nhìn những ngọn tháp và công sự chắn lối vào cảng, vô số tòa nhà cùng xưởng đóng tàu thì Akka đã đáp xuống một trong những tháp nhà thờ có đỉnh bằng phẳng.

Đây là một nơi khá an toàn cho những ai muốn tránh xa loài cáo, và cậu bé bắt đầu tự hỏi đêm nay mình có thể liều rúc vào dưới cánh ngỗng đực hay không. Phải, cậu có thể yên tâm làm thế. Ngủ một chút sẽ tốt cho cậu. Khi trời sáng, cậu sẽ cố xem thêm quân cảng và những con tàu.

Chính cậu bé cũng thấy lạ vì mình có thể nằm yên chờ đến sáng hôm sau mới đi xem tàu. Chắc chắn cậu chưa ngủ được năm phút thì đã lẻn ra khỏi cánh ngỗng, trượt theo cột thu lôi rồi ống máng xối xuống tận mặt đất.

Chẳng bao lâu, cậu đã đứng trên một quảng trường lớn trải rộng trước nhà thờ. Mặt quảng trường lát đá cuội tròn, khiến cậu đi lại khó khăn chẳng khác nào người lớn bước trên một đồng cỏ mọc lổn nhổn thành bụi. Những ai quen sống giữa thiên nhiên hay ở tận miền quê hẻo lánh luôn thấy bất an khi vào thành phố, nơi nhà cửa đứng thẳng, nghiêm nghị và đường phố trống trải đến mức ai cũng nhìn thấy người qua lại. Cậu bé cũng cảm thấy hệt như thế. Đứng trên quảng trường lớn Karlskrona, nhìn nhà thờ Đức, tòa thị chính và nhà thờ chính tòa mà mình vừa từ đó đi xuống, cậu chẳng mong gì hơn là được trở lại ngọn tháp cùng đàn ngỗng.

Thật may là quảng trường hoàn toàn vắng vẻ. Chẳng có một bóng người — trừ phi tính cả bức tượng đứng trên bệ cao. Cậu bé nhìn bức tượng hồi lâu. Nó tạc một người đàn ông cao lớn, lực lưỡng, đội mũ ba góc, mặc áo gi-lê dài, quần ống túm đến gối và đi giày thô; cậu tự hỏi ông ta là người thế nào. Ông cầm một cây gậy dài và nom như cũng biết cách sử dụng nó, bởi gương mặt nghiêm khắc đáng sợ, với chiếc mũi khoằm lớn và cái miệng xấu xí.

“Cái gã Môi Dài kia đứng đây làm gì thế?” cuối cùng cậu bé nói. Chưa bao giờ cậu cảm thấy mình nhỏ bé và vô nghĩa như trong đêm ấy. Cậu thử làm mình phấn chấn hơn đôi chút bằng một câu táo tợn. Rồi cậu không nghĩ thêm về bức tượng nữa mà đi về phía con phố rộng dẫn xuống biển.

Nhưng cậu bé chưa đi được bao xa thì nghe có kẻ đang theo sau. Ai đó bước phía sau cậu, giậm những bước chân nặng nề trên mặt đường đá và nện cây gậy cứng xuống đất. Nghe hệt như người bằng đồng trên quảng trường vừa ra ngoài dạo chơi.

Vừa chạy xuôi phố, cậu bé vừa lắng nghe tiếng bước chân và mỗi lúc một tin chắc đó chính là người bằng đồng. Mặt đất rung chuyển, nhà cửa lay động. Chẳng thể là ai khác bước nặng nề đến thế, và cậu bé hoảng loạn khi nhớ lại lời mình vừa nói với ông. Cậu không dám ngoảnh đầu xem có thật là ông hay không.

“Có lẽ ông ấy chỉ ra ngoài tản bộ cho thư thái,” cậu bé nghĩ. “Chắc ông ấy không thể giận mình vì những lời vừa rồi. Mình đâu có ác ý gì.”

Thay vì đi thẳng để cố xuống quân cảng, cậu bé rẽ vào một phố nhỏ dẫn về phía đông. Trước hết, cậu chỉ muốn thoát khỏi kẻ đang giậm chân theo sau.

Nhưng ngay sau đó, cậu nghe thấy người bằng đồng cũng rẽ vào cùng con phố; cậu sợ đến mức chẳng biết phải làm gì với mình. Mà tìm nơi ẩn nấp trong một thành phố có mọi cánh cổng đều đóng kín mới khó làm sao! Bấy giờ, bên phải cậu hiện ra một nhà thờ khung gỗ cổ, nằm cách phố một quãng ngắn giữa lùm cây rộng lớn. Không dừng lại suy tính lấy một giây, cậu lao về phía nhà thờ. “Chỉ cần tới được đó, chắc chắn mình sẽ được che chở khỏi mọi tai họa,” cậu nghĩ.

Trong lúc chạy tới, cậu bỗng nhìn thấy một người đàn ông đứng trên lối đi rải sỏi, vẫy tay gọi mình. “Nhất định có người sẽ giúp mình!” cậu bé nghĩ. Cậu mừng khôn xiết và vội vã chạy về hướng ấy. Quả thật cậu sợ đến mức trái tim đập thình thịch trong lồng ngực.

Nhưng khi đến gần người đàn ông đứng trên bệ thấp bên mép lối đi rải sỏi, cậu sững sờ như bị sét đánh. “Chắc không thể chính người này vừa vẫy gọi mình!” cậu nghĩ, bởi cậu thấy toàn thân ông ta được làm bằng gỗ.

Cậu đứng nhìn ông ta chằm chằm. Đó là một người đàn ông chắc nịch với đôi chân ngắn, gương mặt rộng hồng hào, mái tóc đen bóng và bộ râu đen rậm. Trên đầu ông đội mũ gỗ; trên mình mặc áo khoác gỗ màu nâu; quanh eo thắt đai gỗ màu đen; hai chân mặc quần gỗ ống rộng túm đến gối và bít tất gỗ; dưới bàn chân là đôi giày gỗ màu đen. Ông vừa được sơn và đánh véc-ni mới, nên lấp lánh, sáng bóng dưới trăng. Điều này hẳn góp phần không nhỏ khiến ông có vẻ hiền hậu đến mức cậu bé lập tức đặt lòng tin.

Tay trái ông cầm một tấm bảng gỗ, trên đó cậu bé đọc thấy:

_Tôi khiêm nhường van ngài, Dẫu chẳng thể lên tiếng: Xin thả một đồng xu, Nhưng hãy nhấc mũ lên!_

Ồ! Người đàn ông chỉ là một hòm quyên góp cho người nghèo. Cậu bé cảm thấy mình bị một vố. Cậu đã mong đây phải là thứ gì đó thật phi thường. Rồi cậu nhớ ông mình cũng từng kể về người gỗ, nói rằng tất cả trẻ em ở Karlskrona đều yêu mến ông. Điều ấy hẳn là thật, bởi ngay chính cậu cũng thấy khó lòng rời xa người gỗ. Ông mang vẻ cổ xưa đến mức người ta hoàn toàn có thể tưởng ông đã sống nhiều trăm năm; đồng thời, ông lại trông mạnh mẽ, táo bạo và đầy sức sống — hệt như hình dung của người đời nay về con người thuở trước.

Cậu bé mải vui ngắm người gỗ đến mức quên hẳn kẻ mình đang chạy trốn. Nhưng giờ cậu lại nghe thấy ông ta. Người bằng đồng rẽ khỏi phố, tiến vào sân nhà thờ. Ông ta cũng theo cậu tới đây! Cậu bé còn biết đi đâu?

Đúng lúc ấy, cậu thấy người gỗ cúi xuống, chìa bàn tay to rộng về phía mình. Không ai có thể nghĩ điều gì khác ngoài sự tốt bụng ở ông; chỉ một cú nhảy, cậu bé đã đứng trong lòng bàn tay ấy. Người gỗ nâng cậu lên ngang chiếc mũ — rồi nhét cậu xuống dưới.

Cậu bé vừa ẩn xong và người gỗ cũng vừa đưa cánh tay về đúng vị trí thì người bằng đồng dừng trước mặt ông, nện gậy xuống đất khiến người gỗ rung lên trên bệ. Sau đó, người bằng đồng cất giọng mạnh mẽ, vang rền: “Kẻ này là ai vậy?”

Cánh tay người gỗ giơ lên, khiến lớp gỗ cũ kêu cót két; ông chạm vào vành mũ rồi đáp: “Muôn tâu Bệ hạ, thần là Rosenbom. Thuở trước từng là thủy thủ trưởng trên chiến hạm _Dristigheten_; mãn hạn phục vụ thì làm người coi sóc Nhà thờ Đô đốc — còn gần đây được tạc bằng gỗ và trưng trong sân nhà thờ làm hòm quyên góp cho người nghèo.”

Cậu bé giật mình khi nghe người gỗ nói “Bệ hạ”. Bởi giờ đây, nghĩ kỹ lại, cậu biết bức tượng trên quảng trường chính là người đã sáng lập thành phố. Kẻ cậu vừa chạm trán có lẽ chẳng phải ai khác mà là đích thân vua Karl XI.

“Rosenbom khai danh tính rất rõ ràng,” người bằng đồng nói. “Rosenbom có thể cho ta biết mình có nhìn thấy một thằng nhãi đang chạy quanh thành phố đêm nay không? Nó là một tên vô lễ; nếu tóm được, ta sẽ dạy nó phép tắc!” Nói rồi, ông lại nện gậy xuống đất và trông giận dữ đáng sợ.

“Muôn tâu Bệ hạ, thần đã nhìn thấy nó,” người gỗ đáp. Cậu bé sợ đến mức bắt đầu run lên dưới chiếc mũ, nhìn người bằng đồng qua một khe nứt trong gỗ. Nhưng cậu bình tâm lại khi người gỗ nói tiếp: “Bệ hạ đang đi nhầm hướng. Thằng bé ấy chắc chắn định chạy vào xưởng đóng tàu và trốn trong đó.”

“Rosenbom nói vậy ư? Thế thì đừng đứng mãi trên bệ nữa, hãy đi cùng ta và giúp ta tìm nó. Bốn mắt vẫn hơn hai, Rosenbom.”

Nhưng người gỗ buồn bã đáp: “Thần xin Bệ hạ rộng lòng cho phép được ở lại nơi này. Nhờ lớp sơn mà thần nom bảnh bao, nhẵn nhụi, nhưng thân đã già nua, mục nát, không chịu nổi việc đi lại.”

Người bằng đồng không thuộc hạng thích bị cãi lời. “Ý nghĩ kiểu gì thế? Đi nào, Rosenbom!” Rồi ông giơ gậy, giáng một cú vang dội xuống vai người kia. “Rosenbom không thấy mình vẫn còn nguyên vẹn đấy sao?”

Thế là họ lên đường, bước đi trên các phố Karlskrona — to lớn và uy mãnh — cho tới khi đến một cánh cổng cao dẫn vào xưởng đóng tàu. Ngay bên ngoài, một lính thủy hải quân đang đi lại canh gác; nhưng người bằng đồng nghênh ngang bước qua, đá tung cổng mà người lính thủy vẫn làm như không hề trông thấy.

Vừa vào xưởng đóng tàu, trước mặt họ hiện ra một hải cảng rộng mênh mông, được chia cắt bằng các cầu tàu dựng trên cọc. Trong những vũng cảng khác nhau là các chiến hạm, khi nhìn gần thế này nom còn lớn hơn, đáng sợ hơn lúc cậu bé thấy chúng từ trên cao. “Vậy thì tưởng chúng là quỷ biển cũng đâu đến nỗi điên rồ,” cậu nghĩ.

“Theo Rosenbom, chúng ta nên bắt đầu tìm ở đâu là khôn ngoan nhất?” người bằng đồng hỏi.

“Một kẻ như nó dễ ẩn mình nhất trong phòng trưng bày mô hình,” người gỗ đáp.

Trên dải đất hẹp chạy từ cổng về bên phải dọc theo hải cảng là những công trình cổ. Người bằng đồng bước đến một tòa nhà tường thấp, cửa sổ nhỏ và mái nổi bật. Ông dùng gậy nện cửa cho tới khi nó bật tung rồi giậm chân bước lên hai bậc thềm mòn vẹt. Chẳng bao lâu, họ vào một gian phòng lớn đầy những con tàu nhỏ có đủ dây chằng và buồm. Không cần ai nói, cậu bé cũng hiểu đây là mô hình của những con tàu từng được đóng cho hải quân Thụy Điển.

Ở đó có tàu thuộc nhiều loại khác nhau. Có những chiến hạm cổ với hai mạn tua tủa đại bác, kiến trúc mũi và đuôi cao vút, cột buồm nặng trĩu một mạng lưới buồm cùng dây chão. Có thuyền nhỏ chạy giữa các đảo với ghế chèo dọc hai bên; có xuồng pháo không boong và những tàu hộ vệ mạ vàng lộng lẫy, mô phỏng các con tàu vua chúa từng dùng trong hành trình. Cuối cùng còn có những chiến hạm bọc thép nặng nề, rộng lớn, với tháp và đại bác trên boong — giống loại đang được dùng ngày nay; cùng những tàu phóng lôi hẹp, sáng bóng, nom như loài cá dài và mảnh.

Khi được mang đi giữa tất cả những cảnh vật ấy, cậu bé vô cùng kính phục. “Thử nghĩ xem, những con tàu lớn lao, lộng lẫy đến thế lại được đóng ngay tại Thụy Điển!” cậu thầm nghĩ.

Cậu có thừa thời gian để nhìn mọi thứ đáng xem trong đó; bởi vừa thấy các mô hình, người bằng đồng đã quên hết mọi chuyện khác. Ông xem xét từng chiếc từ đầu đến cuối và hỏi han về chúng. Còn Rosenbom, thủy thủ trưởng trên chiến hạm _Dristigheten_, kể tất cả những gì mình biết về những người đóng tàu, các thủy thủ từng phục vụ trên tàu và số phận mỗi chiếc đã gặp. Ông kể về Chapman, Puke và Trolle; về Hoagland và Svensksund — suốt cả thời kỳ cho tới năm 1809 — còn sau đó thì ông không có mặt ở đó nữa.

Cả ông lẫn người bằng đồng đều có nhiều điều để nói nhất về những con tàu gỗ cổ tuyệt đẹp. Dường như họ không thật sự hiểu các chiến hạm đời mới.

“Ta nghe ra Rosenbom chẳng biết gì về những thứ tân thời này,” người bằng đồng nói. “Vì vậy, chúng ta hãy đi xem thứ khác; cuộc dạo chơi này làm ta thích thú đấy, Rosenbom.”

Tới lúc này, ông đã hoàn toàn từ bỏ việc tìm cậu bé; còn cậu ngồi dưới chiếc mũ gỗ, cảm thấy bình tâm và an toàn.

Sau đó, hai người dạo qua cơ sở rộng lớn: xưởng may buồm, lò rèn neo, xưởng máy và xưởng mộc. Họ xem những giàn dựng cột buồm và các ụ tàu; những kho hàng lớn, kho vũ khí, cầu dây thừng cùng ụ tàu lớn đã bỏ, được phá xuyên vào đá. Họ bước ra các cầu tàu dựng trên cọc, nơi tàu hải quân neo đậu, lên boong và xem xét như hai con sói biển già; họ kinh ngạc, chê bai, tán thành rồi lại phẫn nộ.

Cậu bé ngồi an toàn dưới chiếc mũ gỗ và nghe kể về bao công sức lao động, vật lộn tại nơi này để trang bị những hạm đội từng ra khơi từ đây. Cậu nghe chuyện người ta đã mạo hiểm cả tính mạng và máu xương; đã hy sinh đến đồng xu cuối cùng để đóng chiến hạm; những con người tài giỏi đã dốc hết sức lực nhằm hoàn thiện các con tàu vốn là thành trì bảo vệ tổ quốc. Đôi lần, nước mắt dâng lên trong mắt cậu khi nghe những điều ấy.

Cuối cùng, họ bước vào một khoảng sân trống, nơi tập hợp những tượng mũi tàu của các chiến hạm cổ; cậu bé chưa từng thấy cảnh tượng nào phi thường hơn, bởi các bức tượng mang những gương mặt mạnh mẽ đến khó tin và đầy vẻ uy hiếp. Chúng to lớn, không biết sợ và dữ dội, tràn ngập chính tinh thần kiêu hãnh từng trang bị cho những con tàu vĩ đại. Chúng thuộc về một thời đại khác với cậu. Cậu cảm thấy mình co rúm lại trước chúng.

Nhưng khi họ bước vào đây, người bằng đồng nói với người gỗ: “Hãy bỏ mũ trước những người đứng nơi này, Rosenbom! Tất cả họ đều đã chiến đấu vì tổ quốc.”

Và Rosenbom — cũng như người bằng đồng — đã quên mất vì sao họ bắt đầu chuyến đi này. Không suy nghĩ, ông nhấc chiếc mũ gỗ khỏi đầu và hô lớn:

“Tôi xin ngả mũ trước người đã chọn hải cảng, sáng lập xưởng đóng tàu và tái thiết hải quân; trước vị quân vương đã đánh thức tất cả những điều này sống dậy!”

“Cảm ơn Rosenbom! Nói hay lắm. Rosenbom quả là một người tốt. Nhưng cái gì thế này, Rosenbom?”

Bởi Nils Holgersson đang đứng ngay trên đỉnh đầu hói của Rosenbom. Cậu không còn sợ hãi, mà nhấc chiếc mũ trùm đầu màu trắng lên và hô: “Hoan hô ngài, Môi Dài!”

Người bằng đồng nện mạnh gậy xuống đất; nhưng cậu bé không bao giờ biết ông định làm gì, bởi lúc ấy mặt trời vụt mọc lên, đồng thời cả người bằng đồng lẫn người gỗ đều tan biến — như thể họ được tạo thành từ sương mù. Khi cậu còn đứng nhìn chằm chằm theo họ, đàn ngỗng trời bay lên từ tháp nhà thờ, chao qua chao lại trên thành phố. Chúng lập tức nhìn thấy Nils Holgersson; bấy giờ con ngỗng trắng to lớn lao xuống từ trời và đón cậu.