Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 10
Chương 10 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây
Tuy rất ghét làm những trang sách của mình thêm mù mịt bằng các thuật ngữ khoa học, thậm chí cả những từ mới đặt, tôi vẫn thấy buộc phải nói ở đây rằng chỉ cần khảo sát sơ đẳng nhất về Nền Kinh tế Sung túc cũng đủ khiến bất kỳ người nghiên cứu sáng suốt nào tin chắc rằng những kẻ báo họa Cassandra—những kẻ đã gọi sai sự gia tăng hết sức cần thiết về tính lưu động trong dòng lưu chuyển tiền tệ của chúng ta là “Lạm phát”, do lầm lạc lấy tai họa lạm phát của một số quốc gia châu Âu trong thời kỳ 1919–1923 làm căn cứ so sánh—đã hiểu sai, và có lẽ không thể tha thứ được, khi không nhận thức nổi địa vị tiền tệ khác biệt của nước Mỹ, vốn bắt nguồn từ kho Tài nguyên Thiên nhiên lớn hơn vô cùng của chúng ta.
Giờ Số Không, Berzelius Windrip.
Phần lớn những nông dân đã đem ruộng đất thế chấp.
Phần lớn giới viên chức bàn giấy đã thất nghiệp suốt ba, bốn, năm năm nay.
Phần lớn những người có tên trong danh sách cứu tế và muốn được cứu tế nhiều hơn.
Phần lớn dân ngoại ô không trả nổi các khoản mua máy giặt điện trả góp.
Những bộ phận đông đảo trong American Legion tin rằng chỉ có Thượng nghị sĩ Windrip mới giành được cho họ khoản tiền thưởng, và có lẽ còn tăng nó lên.
Những mục sư được lòng dân trên Đại lộ Myrtle hay Đại lộ Elm, noi gương Bishop Prang và Cha Coughlin, tin rằng mình có thể kiếm được chút tiếng tăm hữu dụng nhờ ủng hộ một cương lĩnh hơi kỳ quặc, hứa hẹn cảnh phồn vinh mà chẳng ai phải làm lụng gì để có nó.
Những tàn dư của Kuklux Klan; những lãnh tụ của Liên đoàn Lao động Hoa Kỳ cảm thấy các chính khách thuộc phe phái cũ chưa ve vãn mình đủ mức và chưa ban phát đủ lời hứa; cùng những lao động phổ thông không thuộc công đoàn cảm thấy chính Liên đoàn ấy cũng chưa ve vãn mình đủ mức.
Những luật sư nơi phố khuất hay có văn phòng trên gác ga-ra, chưa bao giờ xoay xở kiếm được một chức vụ trong chính quyền.
Đạo quân Thất lạc của Liên đoàn Chống Quán rượu—bởi ai cũng biết rằng tuy uống rất nhiều, Thượng nghị sĩ Windrip cũng hết lời ca ngợi việc tuyệt đối kiêng rượu, trong khi đối thủ của ông ta, Walt Trowbridge, tuy chỉ uống rất ít, lại chẳng hề nói một lời ủng hộ các Đấng Cứu thế của phong trào Cấm rượu. Gần đây, đám cứu thế này đã nhận ra nghề rao giảng đạo đức chẳng còn sinh lợi, khi những nhà Rockefeller và Wanamaker không còn cùng cầu nguyện với họ, cũng không còn trả tiền cho họ nữa.
Ngoài những kẻ cầu cạnh túng quẫn ấy, còn có khá nhiều thị dân tuy là triệu phú nhưng vẫn khăng khăng rằng sự thịnh vượng của mình đã bị lòng hiểm ác của bọn chủ ngân hàng kìm hãm nghiêm trọng vì chúng hạn chế tín dụng.
Đó là những người ủng hộ trông đợi Berzelius Windrip sẽ đóng vai con quạ của Chúa, hậu hĩnh nuôi họ khi ông ta trở thành Tổng thống; và chính từ đám người ấy xuất hiện phần lớn những nhà hùng biện hăng máu đi vận động cho ông ta suốt tháng Chín và tháng Mười.
Chen lấn vào đám tùy tùng ô hợp vốn đánh đồng phẩm hạnh chính trị với tiền trả nhà ấy là một đội xung kích, những người khổ sở không phải vì đói mà vì chứng sung huyết lý tưởng: các Trí thức, các Nhà Cải cách, thậm chí cả những Nhà Cá nhân Chủ nghĩa Rắn rỏi, những người nhìn thấy ở Windrip—bất chấp thói hề bịp bợm của ông ta—một sức sống tự do hứa hẹn làm trẻ lại hệ thống tư bản chủ nghĩa què quặt, già nua.
Upton Sinclair viết về Buzz và lên tiếng ủng hộ ông ta, cũng như năm 1917, dù là một người chủ hòa không lay chuyển, ông Sinclair vẫn cổ xúy nước Mỹ dốc toàn tâm toàn lực tiến hành Đại chiến, vì tiên liệu rằng cuộc chiến ấy chắc chắn sẽ tận diệt chủ nghĩa quân phiệt Đức và nhờ đó vĩnh viễn chấm dứt mọi cuộc chiến tranh. Phần lớn các cộng sự của Morgan, tuy có thể hơi rùng mình vì phải đứng cùng phía với Upton Sinclair, vẫn nhận thấy rằng bất kể chính họ phải hy sinh bao nhiêu thu nhập, chỉ Windrip mới có thể khởi động cuộc Phục hồi Kinh doanh; trong khi Bishop Manning ở Thành phố New York chỉ ra rằng Windrip bao giờ cũng nói về giáo hội cùng các vị chủ chăn với lòng tôn kính, còn Walt Trowbridge thì sáng Chủ nhật nào cũng cưỡi ngựa và chưa từng có ai biết ông gửi điện tín cho một nữ thân nhân nào vào Ngày của Mẹ.
Mặt khác, tờ Saturday Evening Post chọc giận các chủ hiệu nhỏ khi gọi Windrip là một kẻ mị dân, còn New York Times, xưa kia thuộc phe Dân chủ Độc lập, thì chống Windrip. Nhưng phần lớn các tạp chí tôn giáo đều tuyên bố rằng có một vị thánh như Bishop Prang hậu thuẫn, ắt Windrip đã được Chúa triệu gọi.
Ngay cả châu Âu cũng nhập cuộc.
Với vẻ thân thiện khiêm nhường tột bậc, sau khi giải thích rằng họ không muốn can thiệp vào chính trị nội bộ Hoa Kỳ mà chỉ muốn bày tỏ lòng ngưỡng mộ riêng đối với Berzelius Windrip, vị tông đồ vĩ đại của miền Tây rao giảng hòa bình và thịnh vượng, đại diện của một số cường quốc ngoại bang đã tới diễn thuyết khắp đất nước: Tướng Balbo, rất được mến mộ tại đây nhờ chỉ huy chuyến bay từ Ý đến Chicago năm 1933; một học giả tuy hiện sống ở Đức và là nguồn cảm hứng cho mọi nhà lãnh đạo ái quốc của công cuộc Phục hưng nước Đức, nhưng đã tốt nghiệp Đại học Harvard và từng là người chơi dương cầm được yêu mến nhất khóa—ấy là Tiến sĩ Ernst (Putzi) Hanfstängl; và con sư tử của nền ngoại giao Anh, Gladstone của thập niên 1930, Lord Lossiemouth đẹp trai, lịch thiệp, người khi giữ chức Thủ tướng từng được biết đến với danh xưng Ngài Chí tôn Ramsay MacDonald, Cơ mật viện.
Cả ba đều được các bà vợ giới chủ kỹ nghệ thết đãi hết sức xa hoa, và họ đã thuyết phục được nhiều triệu phú—những người với sự tao nhã do giàu sang hun đúc từng coi Buzz là kẻ thô tục—rằng thực ra ông ta là niềm hy vọng duy nhất của thế giới về một nền thương mại quốc tế hữu hiệu.
Cha Coughlin liếc qua tất cả các ứng cử viên một lượt rồi phẫn nộ lui về tịnh thất.
Bà Adelaide Tarr Gimmitch—người chắc chắn đã viết thư cho những người bạn bà kết giao tại Bữa tối của Câu lạc bộ Rotary ở Fort Beulah, giá như bà nhớ nổi tên thị trấn—là một nhân vật khá quan trọng trong chiến dịch. Bà giải thích cho các nữ cử tri rằng Thượng nghị sĩ Windrip thật tử tế biết bao khi cho phép họ tiếp tục bỏ phiếu—ít nhất là cho tới lúc ấy; và mỗi ngày bà hát bài “Berzelius Windrip đã tới Wash.” trung bình mười một lần.
Bản thân Buzz, Bishop Prang, Thượng nghị sĩ Porkwood (nhà Tự do chủ nghĩa không biết sợ, người bạn của giới lao động và nông dân), cùng Đại tá Osceola Luthorne, chủ bút, tuy nhiệm vụ hàng đầu là tiếp cận hàng triệu người qua sóng phát thanh, vẫn thực hiện chuyến đi bốn mươi ngày bằng xe lửa, vượt hơn 27.000 dặm qua mọi tiểu bang trong Liên bang, trên đoàn tàu tốc hành Forgotten Men Special đỏ tươi pha bạc, ốp gỗ mun, bọc lụa, thân tàu thuôn dòng, chạy động cơ Diesel, lót cao su, có điều hòa không khí và làm bằng nhôm.
Trên tàu có một quầy rượu riêng, chẳng ai quên được, trừ Bishop.
Tiền vé tàu là món quà hào phóng của các công ty đường sắt liên hợp.
Hơn sáu trăm bài diễn văn được bắn ra, từ những lời chào hỏi dài tám phút dành cho đám đông tụ tập tại các nhà ga đến những tràng sấm sét hai giờ đồng hồ trong các thính phòng và khu hội chợ. Buzz có mặt ở mọi buổi diễn thuyết, thường đóng vai chính, nhưng đôi khi khản đặc đến nỗi chỉ có thể vẫy tay và khò khè: “Chào bà con!” rồi được Prang, Porkwood, Đại tá Luthorne hoặc một tình nguyện viên nào đó trong đạo quân thư ký, chuyên gia tư vấn có bằng tiến sĩ về lịch sử và kinh tế, đầu bếp, người pha rượu và thợ cạo của ông ta thay phiên—miễn là dụ được họ rời khỏi ván xúc xắc với đám phóng viên, nhiếp ảnh gia, kỹ thuật viên thu thanh và phát thanh viên tháp tùng. Tieffer thuộc United Press ước tính rằng nhờ vậy Buzz đã đích thân xuất hiện trước hơn hai triệu người.
Trong lúc ấy, hầu như ngày nào Lee Sarason cũng lao vun vút bằng máy bay giữa Washington và nhà Buzz, giám sát hàng chục cô điện thoại viên cùng hàng đoàn nữ tốc ký, những người trả lời hàng nghìn cú điện thoại, thư từ, điện tín và điện báo quốc tế mỗi ngày—cùng những hộp kẹo tẩm độc... Chính Buzz đã đặt ra quy định rằng tất cả các cô gái này phải xinh đẹp, biết điều, hết sức thành thạo và có họ hàng với những người có thế lực chính trị.
Công bằng với Sarason, phải nói rằng giữa cảnh hỗn loạn điên rồ của ngành “quan hệ công chúng” ấy, ông chưa một lần dùng từ CONTACT như một ngoại động từ.
Ngài Perley Beecroft, ứng cử viên phó tổng thống, chuyên phụ trách các đại hội của những hội đoàn huynh đệ, giáo phái, đại lý bảo hiểm và giới chào hàng lưu động.
Đại tá Dewey Haik, người đã đề cử Buzz tại Cleveland, nhận một nhiệm vụ độc nhất vô nhị trong lịch sử vận động tranh cử—một trong những sáng kiến láu lỉnh nhất của Sarason. Haik không diễn thuyết cho Windrip tại những nơi đông người nhất, dễ đoán nhất, mà tại những chốn khác thường đến nỗi chỉ riêng sự xuất hiện của ông ở đó đã thành tin tức—và Sarason cùng Haik bảo đảm luôn có mặt những ký giả nhanh nhảu để thu lấy tin ấy. Bay trên máy bay riêng, mỗi ngày đi một nghìn dặm, ông diễn thuyết trước chín thợ mỏ kinh ngạc mà ông bắt gặp trong một mỏ đồng sâu một dặm dưới mặt đất—trong khi ba mươi chín nhiếp ảnh gia thi nhau chụp chín người ấy; từ một chiếc xuồng máy, ông diễn thuyết trước cả hạm đội đánh cá đang nằm im giữa màn sương ở cảng Gloucester; ông diễn thuyết trên bậc thềm Kho bạc Phụ vào giữa trưa ở Wall Street; ông diễn thuyết trước các phi công và nhân viên mặt đất tại Sân bay Shushan, New Orleans—mà ngay cả đám phi công cũng chỉ bỡn cợt trong năm phút đầu, cho đến khi ông kể lại những nỗ lực quả cảm nhưng lố bịch của Buzz Windrip trong việc học lái máy bay; ông diễn thuyết trước cảnh sát tiểu bang, những người sưu tầm tem, những kỳ thủ trong các câu lạc bộ bí mật và thợ dựng tháp đang làm việc; ông diễn thuyết trong các xưởng bia, bệnh viện, tòa soạn tạp chí, nhà thờ chính tòa, nhà nguyện ở ngã tư rộng bốn mươi bộ dài ba mươi bộ, nhà tù, nhà thương điên, hộp đêm—cho đến khi các biên tập viên mỹ thuật bắt đầu gửi cho nhiếp ảnh gia thông báo: “Vì Chúa, đừng gửi thêm ảnh Đtá Haik ba hoa trong nhà thổ với nhà đá nữa.”
Thế mà họ vẫn tiếp tục dùng những bức ảnh ấy.
Bởi Đại tá Dewey Haik là một nhân vật gần như cũng được ánh đèn chiếu rọi sắc nét chẳng kém chính Buzz Windrip. Là con cháu một gia đình Tennessee sa sút, với một ông nội là tướng quân Liên minh miền Nam và ông kia thuộc dòng họ Dewey ở Vermont, ông từng hái bông, trở thành điện báo viên khi còn trẻ, tự làm lụng để theo học Đại học Arkansas rồi trường luật Đại học Missouri, hành nghề luật sư tại một làng ở Wyoming, sau đó tại Oregon; và trong chiến tranh (năm 1936 ông mới bốn mươi bốn tuổi), ông phục vụ đáng khen ngợi ở Pháp với cấp bậc đại úy bộ binh. Trở về Mỹ, ông đắc cử vào Quốc hội rồi trở thành đại tá trong lực lượng vệ binh. Ông nghiên cứu lịch sử quân sự; học lái máy bay, quyền Anh, đấu kiếm; thân hình thẳng đơ như cây thông nòng súng nhưng nụ cười lại khá dễ mến; ông được cả những sĩ quan cấp cao nghiêm khắc trong quân đội lẫn những tay thô lỗ như ông Shad Ledue, gã Caliban của Doremus Jessup, yêu mến ngang nhau.
Haik lôi kéo về phe Buzz chính những tay hảo hán vô lại từng cười nhạo vẻ trang nghiêm của Bishop Prang nhiều nhất.
Trong suốt thời gian ấy, Hector Macgoblin, vị bác sĩ văn nhã mê quyền Anh và có thân hình vạm vỡ, đồng tác giả với Sarason của bài ca vận động “Hãy mang khẩu súng hỏa mai thuở trước ra đây”, chuyên phụ trách khơi nguồn cảm hứng cho các giáo sư đại học, hiệp hội giáo viên trung học, đội bóng chày chuyên nghiệp, trại huấn luyện võ sĩ quyền Anh, hội nghị y khoa, các trường hè nơi những tác giả nổi tiếng dạy nghệ thuật viết văn cho những người ôm mộng thiết tha nhưng chẳng bao giờ học nổi cách viết, các giải gôn và mọi đại hội văn hóa tương tự.
Nhưng Tiến sĩ Macgoblin mê quyền Anh đã đến gần hiểm nguy hơn bất kỳ người vận động nào khác. Trong một cuộc mít-tinh tại Alabama, nơi ông vừa chứng minh thỏa đáng rằng không một người da đen nào có dưới hai mươi lăm phần trăm “máu trắng” có thể vươn tới trình độ văn hóa của một tay bán thuốc chế sẵn, cuộc mít-tinh đã bị đột kích—cả khu cư xá đắt tiền của người da trắng cũng bị đột kích—bởi một nhóm người da màu do một người da đen từng làm hạ sĩ ở Mặt trận phía Tây năm 1918 cầm đầu. Macgoblin và thị trấn được cứu nhờ tài hùng biện của một mục sư da màu.
Quả thật, như Bishop Prang đã nói, các tông đồ của Thượng nghị sĩ Windrip giờ đây đang rao giảng Thông điệp của ông ta cho mọi hạng người, kể cả những Kẻ Ngoại đạo.
Nhưng điều Doremus Jessup nói với Buck Titus và Cha Perefixe là:
“Đây là Cách mạng theo cung cách Rotary.”