Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 11

Chương 11 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây

Hồi tôi còn bé, có lần tôi gặp một bà cô giáo già không chồng, bà ấy cứ bảo tôi: “Buzz, em là đứa ngu đầu đặc nhất trường.” Nhưng tôi để ý thấy bà nói với tôi câu ấy thường xuyên hơn nhiều so với lúc bà khen những đứa khác thông minh, thế là tôi trở thành cậu học trò được cả thị trấn nhắc đến nhiều nhất. Thượng viện Hoa Kỳ cũng chẳng khác mấy, và tôi xin cảm ơn vô số quý ngài đạo mạo rỗng tuếch vì những lời nhận xét của họ về Chính Tôi Đây.

Giờ Số Không, Berzelius Windrip.

Nhưng trong đám Ngoại đạo vẫn có một số kẻ chẳng chịu nghe theo các sứ giả Prang, Windrip, Haik và Tiến sĩ Macgoblin.

Walt Trowbridge tiến hành chiến dịch của mình điềm nhiên như thể ông chắc chắn sẽ thắng. Ông không quản ngại gian lao, nhưng cũng không than khóc cho Những Người Bị Lãng Quên (thuở trẻ chính ông từng là một người như thế, và ông thấy cũng chẳng đến nỗi nào!) hay lên cơn cuồng loạn bên quầy rượu riêng trong một toa xe điện đặc biệt màu đỏ tươi và ánh bạc. Bình tĩnh, kiên định, phát biểu trên đài phát thanh và tại một vài đại sảnh, ông giải thích rằng quả thực ông chủ trương cải thiện triệt để việc phân phối của cải, nhưng điều đó phải được thực hiện bằng sự đào xới bền bỉ chứ không phải bằng thuốc nổ phá hủy nhiều hơn những gì nó đào lên. Ông chẳng đặc biệt hào hứng. Kinh tế học hiếm khi hào hứng, trừ phi được một vị Giám mục kịch hóa, được một Sarason dàn dựng và chiếu sáng, rồi được một Buzz Windrip say sưa thủ diễn với kiếm mảnh và quần bó sa tanh xanh.

Để tham gia tranh cử, những người Cộng sản đã hớn hở đưa ra các ứng viên tế thần của mình—thực ra cả bảy đảng Cộng sản đương thời đều làm thế. Vì nếu đoàn kết với nhau, họ có thể lôi kéo được 900.000 phiếu, nên họ đã tránh sự thô tục tư sản ấy bằng những cuộc ly giáo đầy nhiệt tình, và các tín điều của họ giờ đây gồm có: ĐẢNG, Đảng Đa số, Đảng Cánh tả, Đảng Trotzky, Đảng Cộng sản Cơ Đốc, Đảng Công nhân, cùng một tổ chức mang cái tên đỡ trần trụi hơn là Đảng Cộng sản Dân tộc chủ nghĩa Ái quốc Hợp tác Fabian Hậu Marx Hoa Kỳ—nghe như một chuỗi tước hiệu hoàng gia, ngoài điểm ấy ra thì chẳng giống chút nào.

Nhưng những chuyến du ngoạn cấp tiến ấy chẳng đáng kể bao nhiêu so với Đảng Jefferson mới, đột ngột được Franklin D. Roosevelt khai sinh.

Bốn mươi tám giờ sau khi Windrip được đề cử tại Cleveland, Tổng thống Roosevelt đã công bố lời thách thức.

Ông khẳng định Thượng nghị sĩ Windrip được lựa chọn “không phải bởi khối óc và trái tim của những đảng viên Dân chủ chân chính, mà bởi những cảm xúc nhất thời phát cuồng của họ.” Ông sẽ không ủng hộ Windrip chỉ vì y tự xưng là người của Đảng Dân chủ, cũng như ông sẽ không ủng hộ Jimmy Walker.

Tuy vậy, ông nói, ông không thể bỏ phiếu cho Đảng Cộng hòa, “đảng của những đặc quyền cố thủ”, mặc dù trong ba năm qua ông rất trân trọng lòng trung thành, sự chính trực và trí tuệ của Thượng nghị sĩ Walt Trowbridge.

Roosevelt nói rõ rằng phe Jefferson, hay Dân chủ Chân chính, của ông không phải một “đảng thứ ba” theo nghĩa sẽ tồn tại vĩnh viễn. Nó sẽ biến mất ngay khi những người trung thực và biết suy nghĩ tỉnh táo giành lại quyền kiểm soát tổ chức cũ. Buzz Windrip gây cười bằng cách gọi nó là “Đảng Chuột Mộng”, nhưng Tổng thống Roosevelt đã được gần như toàn bộ các nghị sĩ tự do, dù thuộc Đảng Dân chủ hay Cộng hòa, chưa đi theo Walt Trowbridge hưởng ứng; cùng với Norman Thomas và những người Xã hội chủ nghĩa chưa chuyển sang Cộng sản; các Thống đốc Floyd Olson và Olin Johnston; và Thị trưởng La Guardia.

Khuyết điểm dễ thấy của Đảng Jefferson, cũng như khuyết điểm cá nhân của Thượng nghị sĩ Trowbridge, là nó đại diện cho sự chính trực và lý trí, trong một năm mà cử tri khao khát những cảm xúc nhảy nhót, những cảm giác cay nồng thường không gắn với hệ thống tiền tệ và thuế suất, mà với phép rửa dìm mình dưới suối, tình yêu tuổi trẻ dưới hàng du, rượu whisky nguyên chất, những dàn nhạc thiên thần nghe như đang bay xuống từ vầng trăng tròn, nỗi sợ chết khi chiếc xe hơi chênh vênh trên miệng vực, cơn khát giữa sa mạc và dòng nước suối dập tắt nó—tất cả những cảm giác nguyên sơ mà họ ngỡ mình tìm thấy trong tiếng gào thét của Buzz Windrip.

Cách xa những phòng khiêu vũ rực ánh đèn nóng bỏng, nơi tất cả các nhạc trưởng áo đỏ thẫm ấy the thé cãi cọ xem ai sẽ tạm thời chỉ huy bản nhạc jazz tinh thần khổng lồ, mãi tận những ngọn đồi mát lạnh, một người nhỏ bé tên Doremus Jessup, thậm chí chẳng phải tay trống trầm mà chỉ là một chủ bút kiêm công dân, bối rối tự hỏi mình phải làm gì để được cứu rỗi.

Ông muốn đi theo Roosevelt và Đảng Jefferson—một phần vì ngưỡng mộ con người ấy; một phần vì thích thú trước cơ hội làm cho tinh thần Cộng hòa thâm căn cố đế của Vermont phải sửng sốt. Nhưng ông không tin phe Jefferson có cơ thắng; ông lại tin rằng, bất chấp mùi băng phiến toát ra từ nhiều người cộng sự của Trowbridge, Walt Trowbridge vẫn là một người dũng cảm và có năng lực; thế là ngày đêm Doremus chạy ngược chạy xuôi khắp Thung lũng Beulah vận động cho Trowbridge.

Chính từ nỗi hoang mang ấy, ngòi bút của ông bỗng có một vẻ quả quyết tuyệt vọng khiến những độc giả quen thuộc của Daily Informer phải kinh ngạc. Lần này ông không còn hài hước và khoan dung nữa. Tuy chưa bao giờ nói điều gì tệ hơn về Đảng Jefferson ngoài việc nó đi trước thời đại, nhưng trong cả xã luận lẫn tin tức, ông đã quất roi, tưới nhựa thông và tung chuyện bê bối vào Buzz Windrip cùng bè lũ của y.

Đích thân ông ra vào hết cửa hiệu này đến nhà nọ suốt buổi sáng, tranh luận với cử tri, thực hiện những cuộc phỏng vấn chớp nhoáng.

Ông từng nghĩ việc rao giảng cho Trowbridge tại Vermont, nơi theo truyền thống vẫn theo Đảng Cộng hòa, sẽ là một nhiệm vụ dễ dàng đến buồn tẻ. Nhưng điều ông bắt gặp lại là sự thiên vị đáng ngại dành cho Buzz Windrip, kẻ trên lý thuyết thuộc Đảng Dân chủ. Và Doremus nhận thấy sự thiên vị ấy thậm chí chẳng phải niềm tin đáng thương vào những lời Windrip hứa hẹn về cảnh cực lạc không tưởng cho tất cả mọi người nói chung. Đó là niềm tin rằng chính người cử tri và gia đình anh ta, nói hết sức cụ thể, sẽ có thêm tiền mặt.

Trong tất cả các yếu tố của chiến dịch, phần lớn họ chỉ để ý đến cái mà họ cho là óc hài hước của Windrip và ba điều trong cương lĩnh của y: Điều Năm, hứa tăng thuế đối với người giàu; Điều Mười, lên án người da đen—bởi chẳng có gì nâng cao tinh thần một nông dân mất hết sản nghiệp hay một công nhân nhà máy sống nhờ cứu tế cho bằng có một chủng tộc nào đó, bất kỳ chủng tộc nào, để hắn nhìn xuống; và đặc biệt là Điều Mười Một, tuyên bố, hoặc có vẻ tuyên bố, rằng người lao động bình thường sẽ lập tức nhận được 5.000 đô-la mỗi năm. (Và cơ man những nhà hùng biện ở ga xe lửa giải thích rằng thật ra sẽ là 10.000 đô-la. Chà, họ sẽ có từng xu mà Tiến sĩ Townsend đề nghị, cộng với mọi thứ cố Huey Long, Upton Sinclair và những người Không tưởng từng hoạch định, tất cả gộp lại!)

Hàng trăm người già ở Thung lũng Beulah tin điều ấy một cách hân hoan đến nỗi họ tươi cười lon ton vào cửa hàng đồ kim khí của Raymond Pridewell, đặt mua bếp lò mới, xoong nhôm và trọn bộ thiết bị phòng tắm, hẹn thanh toán vào ngày hôm sau lễ nhậm chức. Ông Pridewell, một đảng viên Cộng hòa kiểu Henry Cabot Lodge già nua phủ mạng nhện, đã mất nửa số khách vì đuổi cổ những người thừa kế vui sướng của các gia sản hoang đường ấy, nhưng họ vẫn tiếp tục mơ mộng; còn Doremus, dù cứ cằn nhằn bên tai họ, đã khám phá ra rằng những con số đơn thuần hoàn toàn không có sức chống đỡ trước một giấc mơ... ngay cả giấc mơ về những chiếc Plymouth mới, những hộp xúc xích vô tận, máy quay phim và viễn cảnh chẳng bao giờ phải dậy trước 7 giờ 30 sáng.

Alfred Tizra, biệt danh “Rắn” Tizra, bạn của Shad Ledue—người làm công cho Doremus—đã trả lời như thế. Rắn là một tài xế xe tải kiêm chủ xe taxi rắn như thép, từng ngồi tù vì hành hung và vận chuyển rượu lậu. Có thời hắn kiếm sống bằng nghề bắt rắn đuôi chuông và rắn đầu đồng ở miền nam New England. Hắn chế giễu quả quyết với Doremus rằng dưới thời Tổng thống Windrip, hắn sẽ có đủ tiền mở cả một chuỗi quán ven đường tại mọi cộng đồng cấm rượu ở Vermont.

Ed Howland, một trong những chủ tiệm tạp hóa nhỏ hơn tại Fort Beulah, và Charley Betts, kinh doanh đồ nội thất kiêm dịch vụ mai táng, tuy kịch liệt phản đối chuyện bất kỳ ai mua chịu thực phẩm, bàn ghế hay thậm chí cả đám tang bằng tín dụng Windrip, nhưng lại hoàn toàn tán thành việc dân chúng được mua chịu các mặt hàng khác.

Aras Dilley, một nông dân chăn bò sữa chiếm đất sống cùng bà vợ móm răng và bảy đứa con nhếch nhác trong túp lều xiêu vẹo, cáu bẩn tít trên Núi Terror, gầm gừ với Doremus—người vẫn thường mang những giỏ thức ăn, những hộp đạn ghém cùng cả đống thuốc lá đến cho Aras—rằng: “Này, tôi nói cho ông biết, khi ông Windrip lên nắm quyền, nông dân chúng tôi sẽ tự định giá nông sản của mình, chứ không phải mấy tay thành thị khôn lỏi các ông!”

Doremus không thể trách hắn. Trong khi Buck Titus ở tuổi năm mươi trông chỉ ngoài ba mươi, thì Aras mới ba mươi tư đã trông như năm mươi.

Một ông Nipper nọ, cộng sự khó ưa khác thường của Lorinda Pike tại Quán trọ Thung lũng Beulah, người mà nàng hy vọng sẽ sớm tống khứ được, vừa khoác lác mình giàu đến mức nào vừa hả hê rằng dưới thời Windrip mình sẽ còn kiếm được nhiều hơn biết bao. “Giáo sư” Staubmeyer trích dẫn những lời tốt đẹp Windrip từng nói về việc tăng lương giáo viên. Louis Rotenstern, để chứng minh ít nhất trái tim mình không phải trái tim Do Thái, trở nên bay bổng hơn tất cả bọn họ. Và ngay cả Frank Tasbrough của các mỏ đá, Medary Cole của nhà máy xay bột và các bất động sản, R. C. Crowley của ngân hàng—những người hẳn chẳng vui thú gì trước các dự án tăng thuế thu nhập—cũng mỉm cười ngọt xớt như mèo và bóng gió rằng Windrip là “một con người vững vàng hơn nhiều” so với điều thiên hạ vẫn tưởng.

Nhưng ở Fort Beulah, chẳng ai là chiến sĩ vận động cho Buzz Windrip tích cực hơn Shad Ledue.

Doremus vốn biết Shad có tài tranh luận và phô diễn; rằng có lần hắn đã thuyết phục được ông Pridewell già cho mua chịu một khẩu súng trường cỡ .22 trị giá hai mươi ba đô-la; rằng một lần, khi thoát khỏi phạm vi những hầm than và bộ quần áo lao động dính cỏ xanh, hắn từng hát bài “Chàng thủy thủ Bill vui nhộn” tại một buổi hội họp hút thuốc của Hội Cừu Đực Cổ xưa và Độc lập; và rằng hắn có trí nhớ đủ tốt để trích dẫn các bài xã luận trên báo Hearst như những cao kiến sâu sắc của chính mình. Tuy đã biết hết hành trang ấy cho một sự nghiệp chính trị—một hành trang chẳng thua Buzz Windrip bao nhiêu—Doremus vẫn kinh ngạc khi thấy Shad đứng trên thùng xà phòng diễn thuyết ủng hộ Windrip trước các công nhân mỏ đá, rồi sau đó thật sự làm chủ tọa một cuộc mít-tinh tại Hội trường Oddfellows. Shad nói ít, nhưng tàn nhẫn chế nhạo những người tin vào Trowbridge và Roosevelt.

Tại những cuộc họp mà hắn không phát biểu, Shad là một tay giữ trật tự vô song, và nhờ năng lực quý giá ấy, hắn được triệu đến các cuộc mít-tinh của Windrip xa tận Burlington. Chính hắn, trong bộ quân phục dân quân, oai vệ cưỡi một con ngựa cày trắng to lớn, đã dẫn đầu cuộc diễu hành cuối cùng cho Windrip tại Rutland... và những nhà kinh doanh đáng kính, ngay cả các lái buôn hàng vải, cũng trìu mến gọi hắn là “Shad”.

Doremus kinh ngạc, lại hơi áy náy vì đã không biết trân trọng nhân tài kiệt xuất mới được phát hiện này, khi ông ngồi trong Hội trường Cựu chiến binh Mỹ và nghe Shad gào lên: “Tôi chẳng giả vờ mình là gì ngoài một thằng lao động quèn, nhưng có bốn mươi triệu người lao động giống tôi, và chúng tôi biết Thượng nghị sĩ Windrip là chính khách đầu tiên sau bao nhiêu năm biết nghĩ đến những gì những gã như chúng tôi cần trước khi nghĩ dù chỉ một điều khỉ gió về chính trị. Nào, mấy người ngốc kia! Bọn sang trọng bảo các người đừng ích kỷ! Walt Trowbridge bảo các người đừng ích kỷ! Thế thì cứ ÍCH KỶ đi, và bỏ phiếu cho người duy nhất sẵn lòng CHO các người một thứ gì đó—cho chính CÁC NGƯỜI một thứ gì đó!—chứ không chỉ chộp lấy từng xu và từng giờ lao động mà hắn có thể vơ được!”

Doremus rên rỉ trong lòng: “Ôi, Shad của tôi! Mà phần lớn những việc này mày lại làm trong giờ công của tao!”

Sissy Jessup ngồi trên bậc lên xuống chiếc coupe của nàng (thuộc về nàng theo quyền chiếm dụng), với Julian Falck từ Amherst về nghỉ cuối tuần và Malcolm Tasbrough chen sát hai bên.

“Ôi, dẹp đi, đừng nói chuyện chính trị nữa. Đằng nào Windrip cũng sẽ đắc cử, vậy sao lại phí thời gian gào khản cổ trong khi ta có thể lái xe xuống sông bơi một chuyến?” Malcolm phàn nàn.

“Y sẽ không thắng mà không gặp sự chống trả quyết liệt của chúng ta. Tối nay tôi sẽ nói chuyện với hội cựu học sinh trung học—về việc họ phải bảo cha mẹ bỏ phiếu cho Trowbridge hoặc Roosevelt,” Julian Falck gắt lên.

“Ha, ha, ha! Và tất nhiên các bậc cha mẹ sẽ sướng phát điên mà làm bất cứ điều gì cậu bảo, Yulian! Đám sinh viên đại học các cậu quả thật cừ lắm! Với lại—muốn nói nghiêm túc về cái trò ngu xuẩn này không?” Malcolm có vẻ tự tin xấc xược của một gã lực lưỡng, mái tóc đen chải bóng và một chiếc xe hơi lớn của riêng mình; hắn là mẫu thủ lĩnh hoàn hảo của bọn Áo Đen, và hắn khinh miệt nhìn Julian, người tuy lớn hơn một tuổi nhưng xanh xao và hơi gầy. “Thực ra có Buzz lại hay. Ông ấy sẽ nhanh chóng chấm dứt cái thứ chủ nghĩa cấp tiến này—tất cả cái trò tự do ngôn luận và vu khống những định chế căn bản nhất của chúng ta—”

“Boston American; thứ Ba tuần trước; trang tám,” Sissy lẩm bẩm.

“—và chẳng trách cậu sợ ông ấy, Yulian! Nhất định ông ấy sẽ lôi mấy lão giáo sư vô chính phủ cưng của cậu ở Amherst vào nhà đá, mà có khi cả cậu nữa, Đồng chí ạ!”

Hai chàng trai nhìn nhau, cơn giận dữ từ từ bốc lên. Sissy khiến họ im đi bằng cách nổi đóa: “Lạy Chúa! Hai tên khốn các anh có thôi gây gổ không?... Ôi, các anh thân mến, cuộc bầu cử ghê tởm này! Ghê tởm! Cứ như nó đang xé nát mọi thị trấn, mọi gia đình... Tội nghiệp bố em! Doremus gần như kiệt sức rồi!”