Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 12
Chương 12 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây
Tôi sẽ chưa thể mãn nguyện chừng nào đất nước này chưa tự sản xuất được mọi thứ chúng ta cần, kể cả cà phê, ca cao và cao su, nhờ đó giữ lại trong nước từng đồng đô-la của mình. Nếu chúng ta làm được việc ấy, đồng thời phát triển ngành du lịch để người ngoại quốc từ khắp nơi trên thế giới kéo đến chiêm ngưỡng những kỳ quan phi thường như Grand Canyon, các công viên Glacier và Yellowstone, vân vân, những khách sạn tráng lệ ở Chicago, vân vân và vân vân, qua đó để tiền bạc của họ lại đây, thì cán cân thương mại của chúng ta sẽ thuận lợi đến mức đủ sức góp phần đáng kể vào việc thực hiện ý tưởng thường xuyên bị chỉ trích song hoàn toàn đúng đắn của tôi: mỗi gia đình được hưởng từ 3.000 đến 5.000 đô-la một năm—tức là, ý tôi muốn nói, mỗi gia đình Mỹ chân chính. Điều chúng ta cần chính là một Viễn kiến cao cả như thế, chứ không phải toàn bộ chuyện nhảm nhí phí thì giờ ở Geneva và ba hoa huyên thuyên tại Lugano, dù nơi ấy nằm ở đâu đi nữa.
Giờ Số Không, Berzelius Windrip.
Ngày bầu cử sẽ rơi vào thứ Ba, mồng ba tháng Mười một, và tối Chủ nhật mồng một, Thượng nghị sĩ Windrip trình diễn màn chung kết chiến dịch tranh cử của mình tại một cuộc mít-tinh quần chúng ở Madison Square Garden, New York. Tính cả ghế ngồi lẫn chỗ đứng, Garden chứa được khoảng 19.000 người, vậy mà một tuần trước cuộc mít-tinh, mọi tấm vé đều đã bán sạch—với giá từ năm mươi xu đến năm đô-la, rồi bị bọn phe vé bán đi bán lại, với giá từ một đến hai mươi đô-la.
Doremus đã kiếm được độc một tấm vé từ một người quen làm tại một trong những nhật báo của Hearst—những tờ báo duy nhất ở New York ủng hộ Windrip—và chiều mồng một tháng Mười một, ông vượt ba trăm dặm đến New York, lần đầu tiên trở lại sau ba năm.
Vermont khi ấy trời lạnh, tuyết xuống sớm, nhưng những đụn tuyết trắng nằm im lìm trên mặt đất, giữa bầu không khí tinh sạch, khiến thế gian trông như một hội hè được sơn bạc rồi bỏ mặc cho câm lặng. Ngay cả trong đêm không trăng, tuyết, chính mặt đất, vẫn tỏa ra một thứ ánh sáng nhợt nhạt, còn những vì sao là những giọt thủy ngân.
Nhưng khi theo chân người khuân hành lý áo mũ đỏ đang xách chiếc va-li Gladstone cũ sờn của mình, Doremus bước ra khỏi ga Grand Central lúc sáu giờ, lọt vào một dòng nước rửa bát lạnh ngắt, xám xịt, nhỏ tong tong từ bồn rửa trong nhà bếp thiên đường. Những tòa tháp lừng danh mà ông chờ đợi được thấy trên Phố Bốn mươi hai đã chết ngạt trong lớp vải liệm bằng sương mù tả tơi. Còn về đám đông đang phi nước đại ngang qua ông với vẻ thờ ơ tàn nhẫn, mỗi giây lại là một vệt nhòe mới gồm những gương mặt khinh suất, con người đến từ Fort Beulah chỉ có thể nghĩ rằng hẳn New York đang mở hội chợ quận giữa màn mưa phùn ẩm nhớp này, hoặc đâu đó đang có một đám cháy lớn.
Ông đã khôn ngoan dự tính tiết kiệm tiền bằng cách đi tàu điện ngầm—một thị dân khá giả chốn làng quê mới nghèo làm sao giữa thành phố của những khu vườn Babylon!—và ông thậm chí còn nhớ rằng tại Manhattan vẫn có thể tìm thấy những chuyến xe điện giá năm xu, nơi một anh nhà quê có thể tiêu khiển bằng cách ngắm thủy thủ, thi sĩ và những phụ nữ choàng khăn đến từ thảo nguyên Kazakstan. Với người khuân hành lý áo mũ đỏ, ông đã the thé nói bằng thứ phong thái từng trải thị thành mà ông tự cho là mình có: “Chắc tôi đi xe điện—chỉ vài khu phố thôi.” Nhưng bị đám đông làm cho ù tai, choáng váng và thúc cùi chỏ, lại ướt sũng, chán chường, ông bèn lánh vào một chiếc taxi, rồi lập tức ước gì mình đừng làm thế, khi nhìn thấy mặt đường trơn trượt màu cao su, và khi chiếc taxi của ông bị nêm chặt giữa những xe khác nồng nặc khí carbon monoxide, điên cuồng bóp còi đòi thoát khỏi chỗ tắc nghẽn—một bầy cừu máy túm tụm, be be nỗi kinh hoàng bằng những lá phổi cơ khí một trăm mã lực.
Ông đau khổ do dự mãi mới chịu rời khách sạn nhỏ của mình ở khu Tây Bốn Mươi để ra ngoài lần nữa; và khi đã ra, khi lấm láp len lỏi giữa những cô bán hàng the thé, những vũ nữ mệt mỏi, những con bạc rắn mặt nghiến xì-gà và những chàng trai trẻ xinh xắn trên Broadway, ông cảm thấy mình, với đôi giày cao su và chiếc ô mà Emma bắt phải mang theo, đúng là một Caspar Milquetoast.
Điều ông chú ý hơn cả là một số lính giả lang thang, không vũ khí đeo hông cũng chẳng súng trường, nhưng mặc quân phục giống kỵ binh Mỹ năm 1870: mũ dã chiến xanh lam có chóp vát, áo dài xanh lam sẫm, quần xanh lam nhạt với sọc vàng chạy dọc đường may, nhét vào xà cạp bằng cao su giả đen đối với những kẻ có vẻ là binh nhì, còn sĩ quan thì đi ủng da đen bóng. Bên phải cổ áo mỗi người đều có hai chữ “M.M.”, bên trái là một ngôi sao năm cánh. Bọn họ đông đến thế; nghênh ngang trắng trợn đến thế, lấy vai hất thường dân ra khỏi đường; và nhìn những kẻ vô danh tiểu tốt như Doremus bằng vẻ xấc xược lạnh như băng.
Ông chợt hiểu ra.
Những tay lính đánh thuê trẻ tuổi này chính là “Minute Men”: quân đội riêng của Berzelius Windrip, lực lượng mà Doremus vẫn đăng những bản tin đầy lo ngại. Giờ đây tận mắt thấy chúng—những con chữ in hóa thành xương thịt hung tàn—ông vừa rùng mình kích động vừa hơi kinh hãi.
Ba tuần trước, Windrip đã tuyên bố rằng Đại tá Dewey Haik, chỉ nhằm phục vụ chiến dịch tranh cử, đã thành lập một liên đoàn toàn quốc gồm các câu lạc bộ tuần hành ủng hộ Windrip, mang tên Minute Men. Có lẽ chúng đã được tổ chức từ nhiều tháng trước, bởi quân số hiện đã lên tới ba hoặc bốn trăm nghìn người. Doremus lo rằng M.M. có thể trở thành một tổ chức thường trực, còn đáng sợ hơn Ku Klux Klan.
Quân phục của chúng gợi đến nước Mỹ thời khai phá ở Cold Harbor và những đoàn quân đánh người Da đỏ dưới quyền Miles và Custer. Biểu tượng, chữ thập ngoặc của chúng (ở đây Doremus nhận ra sự quỷ quyệt và óc thần bí của Lee Sarason), là một ngôi sao năm cánh, vì ngôi sao trên quốc kỳ Mỹ có năm cánh, trong khi những ngôi sao trên cả lá cờ Liên Xô lẫn của người Do Thái—ấn triện Solomon—đều có sáu cánh.
Trong những ngày sục sôi tái sinh ấy, chẳng ai nhận thấy rằng ngôi sao Liên Xô thật ra cũng có năm cánh. Dù sao, để ngôi sao này đồng thời thách thức cả người Do Thái lẫn bọn Bolshevik cũng là một ý tưởng hay—M.M. có ý tốt, cho dù hệ biểu tượng của chúng có hơi trật nhịp.
Tuy nhiên, điều xảo quyệt nhất ở M.M. là chúng không mặc sơ-mi màu, mà khi diễu hành chỉ mặc sơ-mi trắng trơn, khi làm nhiệm vụ tiền đồn thì mặc màu kaki nhạt, để Buzz Windrip có thể gầm vang, hết lần này đến lần khác: “Sơ-mi đen? Sơ-mi nâu? Sơ-mi đỏ? Phải, rồi có khi cả sơ-mi vằn như bò nữa! Toàn những bộ đồng phục bạo quyền suy đồi của châu Âu! Không, thưa quý vị! Minute Men chẳng phải Phát-xít, chẳng phải Cộng sản, cũng chẳng phải gì khác ngoài những người Dân chủ thuần túy—những hiệp sĩ bảo vệ quyền lợi của Những Người Bị Lãng Quên—đội quân xung kích của Tự do!”
Doremus dùng bữa với món Hoa, thú nuông chiều bản thân bất di bất dịch mỗi khi ông đến một thành phố lớn mà không có Emma, người vẫn tuyên bố mì xào chẳng qua là dăm bào chiên rưới thứ nước xốt hồ bột. Ông phần nào quên đi những tên lính M.M. nhăn nhở; ông vui thích đưa mắt ngắm những hình chạm gỗ thếp vàng, những chiếc đèn lồng bát giác vẽ các nông dân Trung Hoa trông như búp bê đang qua những cây cầu vòm, và một nhóm bốn thực khách, hai nam hai nữ, trông như những Kẻ Thù Công Chúng và suốt bữa ăn cứ cãi cọ với nhau bằng vẻ độc địa bị nén chặt.
Khi hướng về Madison Square Garden và cuộc mít-tinh Windrip đỉnh điểm, ông bị cuốn vào một xoáy nước. Cả một quốc gia dường như đang cáu kỉnh đổ về cùng một hướng. Ông không gọi được taxi, và trong lúc đi bộ chừng mười bốn khu phố qua cơn mưa bão ảm đạm đến Madison Square Garden, ông cảm nhận rõ tâm trạng hung sát của đám đông.
Đại lộ Tám, hai bên san sát những cửa hiệu rẻ tiền, chật ních những con người xám xịt, nhụt chí, song đêm nay lại ngây ngất vì thuốc phiện của hy vọng. Họ lấp đầy vỉa hè, gần như tràn kín lòng đường, trong khi xe cộ bực bội chậm chạp chen qua; những cảnh sát nổi giận bị xô đẩy, quay như chong chóng, và nếu cố tỏ vẻ uy nghi thì lại bị các cô bán hàng lanh lợi chế giễu.
Giữa mớ hỗn độn ấy, ngay trước mắt Doremus, một đội hình mũi nhọn Minute Men lao xuyên qua, do một kẻ mà về sau ông mới biết là thiếu úy M.M. dẫn đầu. Chúng không thi hành nhiệm vụ, cũng chẳng có vẻ hiếu chiến; chúng reo hò và hát “Berzelius Windrip đã tới Wash.,” khiến Doremus nhớ đến một nhóm sinh viên hơi ngà ngà say của một trường đại học hạng xoàng sau chiến thắng bóng bầu dục. Về sau ông vẫn nhớ chúng như thế, nhiều tháng sau, khi kẻ thù của M.M. trên khắp đất nước khinh miệt gọi chúng là “Mickey Mouse” và “Minnie.”
Một ông già ăn mặc tươm tất đến tội nghiệp đứng chắn đường chúng và hét: “Buzz xuống địa ngục! Ba lần hoan hô F.D.R.!”
Đám M.M. bùng lên cơn cuồng nộ của phường du côn. Viên thiếu úy chỉ huy, một gã vũ phu còn xấu xí hơn cả Shad Ledue, đấm vào hàm ông già khiến ông đổ vật xuống, trông phát ốm. Rồi chẳng biết từ đâu xuất hiện, đứng đối mặt với viên thiếu úy, một thượng sĩ nhất hải quân cao lớn, tươi cười và liều lĩnh. Người thượng sĩ gầm lên bằng giọng được chỉnh âm theo bão tố: “Một lũ lính thiếc oách nhỉ! Chín thằng chúng mày đánh một ông cụ! Vừa cân sức quá còn gì—”
Viên thiếu úy đấm anh; anh hạ đo ván hắn bằng một cú đấm hiểm vào bụng; tức thì tám tên M.M. còn lại xông vào người thượng sĩ như đàn sẻ đánh diều hâu, và anh đổ sầm xuống, gương mặt thình lình trắng như thịt bê, chằng chịt những dòng máu nhỏ. Cả tám tên dùng giày hành quân đế dày đá vào đầu anh. Chúng vẫn còn đá khi Doremus lách được đi, buồn nôn khủng khiếp, hoàn toàn bất lực.
Ông đã không ngoảnh đi đủ nhanh để khỏi nhìn thấy một tên lính M.M. có gương mặt thiếu nữ, môi đỏ thắm, mắt nai, bổ nhào xuống viên thiếu úy bị hạ và vừa rên rỉ vừa dùng những ngón tay rụt rè như cánh hoa dành dành vuốt ve đôi má đỏ au như thịt bò quay của gã du côn ấy.
Còn nhiều cuộc cãi vã, vài trận ẩu đả riêng lẻ và thêm một cuộc giao chiến nữa trước khi Doremus tới được khán phòng.
Cách đó một khu phố, chừng ba mươi tên M.M. do một tiểu đoàn trưởng—cấp bậc nào đó giữa đại úy và thiếu tá—cầm đầu bắt đầu phá một cuộc mít-tinh đường phố của những người Cộng sản. Một cô gái Do Thái mặc kaki, đầu trần ướt sũng nước mưa, đứng trên một chiếc xe cút kít khẩn khoản: “Các bạn đồng hành! Đừng chỉ ngồi tán dóc rồi ‘cảm thông’! Hãy gia nhập với chúng tôi! Ngay bây giờ! Đây là chuyện sống còn!” Cách nhóm Cộng sản sáu mét, một người đàn ông trung niên trông như nhân viên công tác xã hội đang thuyết giảng về Đảng Jefferson, nhắc lại thành tích của Tổng thống Roosevelt và chửi rủa đám Cộng sản bên cạnh là những kẻ lập dị phi Mỹ say sưa chữ nghĩa. Một nửa thính giả của ông ta là những người có thể đủ tư cách cử tri; nửa còn lại—cũng như một nửa bất kỳ đám đông nào trong buổi tối hội hè bi thảm này—là những thằng bé mặc đồ cũ truyền tay, nhặt đầu mẩu thuốc lá hút.
Ba mươi tên M.M. vui vẻ xông thẳng vào những người Cộng sản. Viên tiểu đoàn trưởng vươn tay tát cô gái đang diễn thuyết rồi lôi cô xuống khỏi chiếc xe cút kít. Thuộc hạ của hắn thản nhiên dùng nắm đấm và dùi cui xông vào. Càng thêm buồn nôn, càng cảm thấy bất lực hơn bao giờ hết, Doremus nghe tiếng dùi cui nện bốp vào thái dương một trí thức Do Thái gầy nhẳng.
Khi ấy, thật đáng kinh ngạc, giọng của người lãnh đạo Jefferson phe đối địch bỗng vút lên thành tiếng thét: “Xông vào đi, CÁC ANH! Định để lũ chó địa ngục ấy tấn công những người bạn Cộng sản của chúng ta sao—lạy Chúa, NGAY LÚC NÀY họ là bạn ta!” Nói rồi, con mọt sách hiền lành nhảy vọt lên không, đáp xuống ngay trên một tên Mickey Mouse béo, hất hắn lăn kềnh, giật lấy dùi cui của hắn, còn thong thả đá vào ống chân một tên M.M. khác trước khi đứng dậy khỏi đống ngổn ngang, rồi bật lên, xông vào bọn tập kích với khí thế mà Doremus đoán hẳn ông ta vẫn dùng để xông vào một bảng thống kê tỷ lệ chất béo bơ trong sữa bán rời tại 97,7 phần trăm các cửa hàng trên Đại lộ B.
Cho đến lúc ấy, chỉ có nửa tá đảng viên Cộng sản chống lại bọn M.M., lưng tựa vào tường một nhà để xe. Giờ đây, năm mươi người phe họ cùng năm mươi người Jefferson nhập cuộc; bằng gạch, ô và những pho sách xã hội học đủ sức giết người, họ đánh bật đám M.M. đang điên tiết—những người theo Bela Kun sát cánh cùng những người theo Giáo sư John Dewey—cho đến khi một đội cảnh sát chống bạo động dùng vũ lực mở đường xông vào bảo vệ bọn M.M. bằng cách bắt cô gái diễn thuyết Cộng sản và người Jefferson.
Doremus vẫn thường đặt tít lớn cho các bài thể thao về “Những Trận Quyền Anh Tranh Giải tại Madison Square Garden,” nhưng ông biết rõ nơi ấy chẳng liên quan gì đến Madison Square, cách đó những trọn một ngày đi xe buýt; rằng nó nhất quyết không phải là một khu vườn; rằng các võ sĩ ở đó không đấu vì “giải thưởng” mà vì phần chia cố định trong vụ làm ăn; và rằng khá nhiều người trong số họ thậm chí chẳng hề thi đấu.
Khi Doremus kiệt sức lê đến nơi, tòa nhà khổng lồ đã bị M.M. bao kín hoàn toàn, vai sát vai, tất cả đều cầm gậy nặng; tại mọi lối vào, dọc mọi lối đi, bọn M.M. đứng thành hàng cứng đờ, còn sĩ quan của chúng chạy ngược chạy xuôi, thì thầm mệnh lệnh và mang theo những tin đồn bất an như lũ bê hoảng loạn trong chuồng nhúng thuốc sát trùng.
Những tuần vừa qua, các thợ mỏ đói khát, nông dân mất đất và công nhân nhà máy Carolina đã chào đón Thượng nghị sĩ Windrip bằng những bàn tay tiều tụy phấp phới dưới ánh đuốc xăng. Giờ đây, người ông ta sắp đối mặt không phải dân thất nghiệp, vì họ không đủ tiền mua vé năm mươi xu, mà là những tiểu thương sợ sệt trong các phố nhỏ của New York, những người tự coi mình hoàn toàn cao quý hơn đám chân đất và bọn sâu hầm mỏ, song cũng tuyệt vọng chẳng kém. Khối người cuồn cuộn trước mắt Doremus, kiêu hãnh ngồi trên ghế hoặc đứng trong lối đi cằm sát gáy giữa mùi quần áo ẩm nồng nặc, chẳng có gì lãng mạn; họ là những con người bận tâm đến chiếc bàn là của thợ may, khay xa-lát khoai tây, vỉ móc cài, khoản thế chấp hút máu trên chiếc taxi do chính chủ lái; còn ở nhà là tã của đứa bé, lưỡi dao cạo an toàn đã cùn, mức tăng khủng khiếp trong giá thịt bò mông và gà kosher. Lại có một số ít công chức, nhân viên đưa thư và quản lý các khu chung cư nhỏ, rất lấy làm kiêu hãnh, ăn vận hợp thời một cách lạ lùng trong những bộ đồ may sẵn giá mười bảy đô-la và cà-vạt foulard khâu ọp ẹp, khoe khoang: “Tôi không hiểu sao lũ ăn hại ấy cứ phải sống nhờ cứu tế. Có thể tôi chẳng phải tay cừ khôi gì, nhưng nói cho các anh biết, ngay cả từ năm 1929 đến giờ, tôi chưa bao giờ kiếm dưới HAI NGHÌN ĐÔ-LA MỘT NĂM!”
Nông dân Manhattan. Những con người tử tế, cần cù, rộng lòng với người già của mình, thiết tha tìm bất cứ phương thuốc quyết liệt nào chữa căn bệnh lo âu vì sợ mất việc.
Thứ nguyên liệu dễ nhào nặn nhất cho bất kỳ kẻ kích động quần chúng nào.
Cuộc mít-tinh lịch sử mở màn buồn tẻ đến cực độ. Một ban quân nhạc trình tấu khúc barcarolle trong Tales from Hoffmann mà chẳng có ý nghĩa rõ rệt nào, cũng chẳng sinh động hơn là bao. Đức Cha Hendrik Van Lollop của Nhà thờ Luther St. Apologue đọc lời cầu nguyện, nhưng người ta có cảm tưởng lời ấy có lẽ đã không được chấp nhận. Thượng nghị sĩ Porkwood trình bày một thiên nghị luận về Thượng nghị sĩ Windrip, gồm hai phần bằng nhau: lòng sùng bái Buzz như đối với một vị tông đồ, và những tiếng ờ-ờ-ờ mà Ngài Porkwood vẫn luôn chen vào giữa lời nói.
Mà Windrip vẫn còn chưa thấy bóng dáng đâu.
Đại tá Dewey Haik, người đề cử Buzz tại đại hội Cleveland, khá hơn hẳn. Ông ta kể ba câu chuyện cười, cùng một giai thoại về con bồ câu đưa thư trung thành trong Đại chiến, dường như nó hiểu, quả thực còn rõ hơn nhiều binh sĩ loài người, chính xác vì sao người Mỹ lại sang tận đó chiến đấu cho Pháp chống Đức. Mối liên hệ giữa vị anh hùng điểu loại này với những phẩm chất tốt đẹp của Thượng nghị sĩ Windrip xem ra không rõ ràng, nhưng sau khi phải ngồi nghe Thượng nghị sĩ Porkwood, cử tọa rất thích thú trước âm hưởng hào hùng quân sự ấy.
Doremus cảm thấy Đại tá Haik không phải chỉ đang nói lan man, mà đang dồn dập tiến tới một điều gì xác định. Giọng ông ta càng lúc càng khẩn thiết. Ông ta bắt đầu nói về Windrip: “bạn tôi—con người duy nhất dám vuốt râu con sư tử tiền tài—con người mà trong trái tim vĩ đại và thuần phác của mình hằng ôm ấp nỗi khổ của mỗi người dân bình thường bằng niềm thương cảm trầm tư như Abraham Lincoln thuở trước.” Rồi, vung tay cuồng nhiệt về phía một lối vào bên hông, ông ta thét lên: “Và ông ấy đang tới kia! Các bạn tôi—Buzz Windrip!”
Ban nhạc nện vang khúc “The Campbells Are Coming.” Một đội Minute Men, bảnh bao như Kỵ binh Cận vệ, mang những ngọn thương dài có cờ đuôi nheo gắn ngôi sao, rầm rập tiến vào lòng chảo khổng lồ của khán phòng; theo sau họ, trong bộ com-lê xéc xanh cũ kỹ xộc xệch, tay bồn chồn vò chiếc mũ mềm vành rủ thấm đẫm mồ hôi, lưng còng, mệt mỏi, Berzelius Windrip tập tễnh bước vào. Khán giả bật cả dậy, xô giạt nhau để được nhìn đấng cứu tinh, tiếng hoan hô rền vang như pháo binh lúc bình minh.
Windrip mở đầu khá tầm thường. Người ta thấy hơi thương ông ta, khi ông ta vụng về lê bước lên các bậc thang tới bục diễn giả, rồi đi ngang ra giữa sân khấu. Ông ta dừng lại; trố mắt nhìn như cú vọ. Rồi ông ta cất giọng đều đều như vịt kêu:
“Lần đầu tiên tôi tới New York, tôi đúng là một anh nhà quê—không, đừng cười, có khi giờ tôi vẫn thế! Nhưng lúc ấy tôi đã được bầu làm Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ rồi, mà ở quê nhà, thấy họ đàn hát chúc tụng tôi như vậy, tôi cứ tưởng mình là nhân vật ghê gớm lắm. Tôi tưởng tên tuổi mình cũng quen thuộc với thiên hạ chẳng kém gì Al Capone, thuốc lá Camel hay Castoria—Trẻ Khóc Là Đòi Thứ Đó. Nhưng trên đường tới Washington, tôi ghé New York, và các bạn biết không, tôi ngồi suốt ba ngày trong sảnh khách sạn ở đây mà người duy nhất từng bắt chuyện với tôi lại là thám tử khách sạn! Khi anh ta tiến đến ngỏ lời, tôi mừng quýnh lên—cứ tưởng anh ta sắp bảo cả thành phố này hân hạnh biết bao vì tôi đã hạ cố tới thăm họ. Nhưng anh ta chỉ muốn biết tôi có phải khách trọ của khách sạn không, và tôi có quyền gì mà cứ chiếm lì một chiếc ghế ngoài sảnh như thế! Và tối nay, các bạn ạ, tôi cũng gần sợ cái Gotham Già này như hồi đó vậy!”
Tiếng cười và tiếng vỗ tay cũng khá nồng nhiệt, nhưng những cử tri đầy tự hào lại thất vọng trước giọng lè nhè và vẻ khiêm nhường mệt mỏi của ông ta.
Doremus run lên vì hy vọng: “Có khi ông ta không đắc cử đâu!”
Windrip phác ra cương lĩnh đã quá quen thuộc của mình—Doremus chỉ chú ý thấy rằng, ở Điểm Năm, Windrip đã trích sai chính những con số của mình về việc giới hạn tài sản.
Ông ta trượt sang một khúc tụng ca về những ý niệm chung chung—một mớ hổ lốn những lời kính cẩn dành cho Công lý, Tự do, Bình đẳng, Trật tự, Thịnh vượng, Lòng yêu nước, cùng vô số khái niệm cao quý nhưng trơn tuột khác.
Doremus tưởng mình đang chán ngấy, cho tới khi nhận ra rằng, vào một lúc nào đó mà ông không hề hay biết, ông đã bị cuốn hút và kích động.
Có điều gì đó trong vẻ mãnh liệt khi Windrip nhìn khán giả, nhìn tất cả bọn họ, ánh mắt chậm rãi bao quát từ hàng ghế cao chót vót xuống hàng gần nhất, khiến họ tin rằng ông ta đang nói riêng với từng người, trực tiếp và chỉ với người ấy mà thôi; rằng ông ta muốn ôm từng người vào lòng; rằng ông ta đang nói cho họ biết những chân lý, những sự thật cấp bách và nguy hiểm bấy lâu nay bị che giấu khỏi họ.
“Họ bảo tôi ham tiền—ham quyền! Này, tôi đã khước từ lời mời của những hãng luật ngay tại New York này, trả gấp ba số tiền tôi sẽ nhận khi làm Tổng thống! Còn quyền lực—chà, Tổng thống là đầy tớ của mọi công dân trong nước, không chỉ của những người biết điều, mà cả của mọi gã dở hơi cứ quấy rầy ông ta bằng điện tín, điện thoại và thư từ. Thế nhưng, đúng, hoàn toàn đúng là tôi muốn có quyền lực, một quyền lực lớn lao, vĩ đại, chí tôn—nhưng không phải cho bản thân tôi—không—mà cho CÁC BẠN!—quyền lực do các bạn cho phép để đập tan bọn tài phiệt Do Thái đã nô dịch các bạn, đang bắt các bạn làm đến chết để trả lãi trái phiếu của chúng; bọn chủ ngân hàng tham lam—mà xin thề, đâu phải tất cả chúng đều là người Do Thái!—bọn lãnh tụ lao động gian tà cũng như bọn chủ gian tà, và trên hết là lũ gián điệp Moscow lén lút muốn các bạn liếm ủng những tên bạo chúa tự phong của chúng, những kẻ cai trị không bằng tình thương và lòng trung thành như tôi muốn làm, mà bằng quyền lực khủng khiếp của roi vọt, ngục tối và súng lục tự động!”
Rồi ông ta vẽ ra một Thiên đường dân chủ, nơi những guồng máy chính trị cũ đã bị phá hủy, mỗi người lao động hèn mọn nhất đều sẽ là vua, là người cai trị, nắm quyền chi phối những đại biểu được bầu lên từ chính tầng lớp của mình; và các đại biểu ấy sẽ không trở nên thờ ơ như trước kia một khi đã đi xa tận Washington, mà luôn phải lưu tâm đến lợi ích công chúng dưới sự giám sát của một cơ quan Hành pháp được tăng cường quyền lực.
Trong một lúc, điều đó nghe gần như hợp lý.
Buzz Windrip, diễn viên thượng thặng, đầy nhiệt huyết mà không bao giờ cuồng loạn đến lố bịch. Ông ta không khoa tay múa chân quá mức; chỉ như Gene Debs thuở trước, ông ta chìa ra một ngón trỏ xương xẩu tưởng chừng chọc thẳng vào từng người rồi móc trái tim họ ra. Chính đôi mắt điên dại của ông ta—đôi mắt bi thương to lớn, trừng trừng—làm họ sửng sốt, và giọng nói lúc thì sấm vang, lúc lại khiêm nhường van vỉ, đã xoa dịu họ.
Hiển nhiên ông ta là một nhà lãnh đạo trung thực và nhân từ biết bao; một con người của đau thương, từng nếm trải khổ đau.
Doremus kinh ngạc: “Quỷ thật! Gặp tận mặt mới thấy ông ta đúng là một người tốt ra trò! Lại còn giàu tình cảm nữa. Ông ta khiến mình có cảm giác như vừa trải qua một buổi tối vui vẻ với Buck và Steve Perefixe. Nhỡ Buzz nói đúng thì sao? Nhỡ—bất chấp mớ cháo tuyên truyền mị dân mà, chắc hẳn, ông ta buộc phải mớm cho đám ngu ngốc—ông ta nói đúng khi khẳng định rằng chỉ ông ta, chứ không phải Trowbridge hay Roosevelt, mới có thể phá vỡ ách kìm kẹp của những ông chủ vắng mặt thì sao? Còn đám Minute Men này, những người theo ông ta—ồ, những kẻ mình thấy ngoài phố khá là hung hãn, nhưng dù sao phần lớn họ cũng là những chàng trai trẻ hết sức đàng hoàng, sáng sủa. Được nhìn Buzz rồi nghe chính những điều ông ta thực sự nói quả có làm người ta ngạc nhiên—quả có khiến người ta phải suy nghĩ!”
Nhưng một giờ sau, khi đã thoát khỏi cơn mê, Doremus không sao nhớ nổi ông Windrip thực sự ĐÃ nói những gì.
Bấy giờ ông tin chắc Windrip sẽ thắng đến mức tối thứ Ba, ông không ở lại tòa soạn Daily Informer cho tới khi có đủ mọi kết quả kiểm phiếu. Nhưng dù ông không ở lại để chứng kiến những bằng cớ của cuộc bầu cử, chúng vẫn tự tìm đến ông.
Sau nửa đêm, một đoàn diễu hành chiến thắng và say sưa vừa phải giẫm bì bõm qua tuyết nhão ngang nhà ông, tay cầm đuốc, miệng gào vang theo điệu “Yankee Doodle” những lời ca mới vừa được bà Adelaide Tarr Gimmitch công bố trong chính tuần ấy:
“Lũ rắn phản bội Buzz nhà ta, Ta cho cưỡi ráo thanh tà-vẹt, Chúng sẽ cầu Trời chớ sinh ra, Khi ta tống hết vào nhà giam!”
Điệp khúc:
“Buzz, Buzz nữa, cứ Buzz vang, Ngài bay tới chiến thắng huy hoàng. Đồ chó con vô ơn bạc nghĩa, Nếu ngươi không bỏ phiếu cho ngài.”
“Mỗi M.M. được phát roi da, Để quất một tên phản quốc; Đứa chống Buzz hôm nay ta bỏ, Ngày mai rồi sẽ liệu sau.”
“Antibuzz,” một từ được ghi công cho bà Gimmitch nhưng rất có thể do Bác sĩ Hector Macgoblin sáng chế, về sau được các nữ ái quốc sử dụng rộng rãi để chỉ sự bất trung với Nhà nước độc địa đến mức đáng bị đưa ra trước đội hành quyết. Thế nhưng, cũng như từ ghép tuyệt diệu “Unkies” mà bà Gimmitch dùng để gọi binh lính thuộc A.E.F., nó chưa bao giờ thực sự trở nên thông dụng.
Giữa những người diễu hành khoác áo mùa đông, Doremus và Sissy ngỡ mình nhận ra Shad Ledue, Aras Dilley, gã chiếm đất sinh con đàn cháu đống ở Mount Terror, Charley Betts, người buôn đồ nội thất, và Tony Mogliani, người bán hoa quả kiêm nhà thuyết giảng cuồng nhiệt nhất về chủ nghĩa Phát xít Ý ở miền trung Vermont.
Và dù không thể chắc chắn trong bóng tối phía sau những ngọn đuốc, Doremus vẫn khá ngờ rằng chiếc xe hơi lớn duy nhất chạy theo đoàn rước chính là xe của người hàng xóm Francis Tasbrough.
Sáng hôm sau, tại tòa soạn Daily Informer, Doremus không nghe nói đám người Bắc Âu chiến thắng đã gây ra thiệt hại gì ghê gớm lắm—chúng chỉ lật đổ hai cái nhà xí, giật xuống rồi đốt tấm biển hiệu tiệm may của Louis Rotenstern, và đánh Clifford Little, người thợ kim hoàn, khá nhừ tử; anh là một thanh niên nhỏ con, tóc quăn, bị Shad Ledue khinh ghét vì chuyên tổ chức kịch nghệ và chơi đàn organ tại nhà thờ của ông Falck.
Tối hôm ấy, trên hiên trước nhà, Doremus tìm thấy một lời cảnh cáo viết bằng phấn đỏ trên giấy gói thịt:
Mày xẽ lãnh đủ Dorey iêu záu chừ khi mày nằm xấp bụg bò lê chước MM và Liên đoàn và Thủ lĩnh và tao
Một người bạn
Đây là lần đầu tiên Doremus nghe thấy danh xưng “Thủ lĩnh,” một biến thể thuần Mỹ của “Lãnh tụ” hay “Người đứng đầu Chính phủ,” được dân chúng dùng làm tước hiệu cho ông Windrip. Chẳng bao lâu sau, nó sẽ trở thành danh xưng chính thức.
Doremus đốt lời cảnh cáo màu đỏ mà không nói với gia đình. Nhưng ông thường tỉnh giấc và nhớ tới nó, chẳng lấy gì làm buồn cười.