Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 13

Chương 13 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây

Và khi sắp sửa về hưu, tôi sẽ xây cho mình một căn nhà gỗ một tầng tối tân tại một khu nghỉ dưỡng xinh đẹp nào đó—chắc chắn không phải ở Como hay bất cứ hòn đảo Hy Lạp quen thuộc nào người ta vẫn thường nhắc đến, mà ở một nơi như Florida, California, Santa Fe, vân vân—rồi chỉ chuyên tâm đọc các tác phẩm kinh điển, như Longfellow, James Whitcomb Riley, Huân tước Macaulay, Henry Van Dyke, Elbert Hubbard, Plato, Hiawatha, vân vân. Vài người bạn cười tôi về chuyện ấy, nhưng từ trước đến nay tôi vẫn trau dồi khiếu thưởng thức những gì tinh túy nhất trong văn chương. Tôi thừa hưởng nó từ Mẹ tôi, cũng như mọi phẩm chất khác ở tôi mà một số người đã quá tử tế đem lòng ngưỡng mộ.

Giờ Số Không, Berzelius Windrip.

Dù đã tin chắc Windrip sẽ đắc cử, Doremus vẫn đón nhận sự kiện ấy như cái chết của một người bạn mà ông từ lâu hằng kinh sợ.

“Được thôi. Nếu đất nước này là thế thì cho nó xuống địa ngục. Bao nhiêu năm nay mình đã cặm cụi—mà mình có bao giờ muốn tham gia hết ủy ban này đến hội đồng nọ, rồi những cuộc vận động từ thiện kia đâu!—và giờ trông CHÚNG mới lố bịch làm sao! Điều mình vẫn hằng muốn là lẻn vào một tháp ngà—hoặc ít ra cũng là tháp bằng xenluloit giả ngà—rồi đọc hết mọi thứ mà lâu nay mình bận quá chưa đọc được.”

Doremus đã nói như thế vào cuối tháng Mười một.

Và quả thực ông đã thử làm vậy, trong vài ngày còn say sưa tận hưởng, tránh mặt tất cả mọi người trừ gia đình mình cùng Lorinda, Buck Titus và Cha Perefixe. Tuy nhiên, phần lớn ông nhận ra mình không mấy thích thú những tác phẩm “kinh điển” mà đến lúc ấy vẫn chưa đọc, mà chỉ thích những cuốn quen thuộc từ thời niên thiếu: Ivanhoe, Huckleberry Finn, Giấc mộng đêm hè, Bão tố, L’Allegro, Con đường của mọi xác thịt (cuốn này thì không hẳn thuộc thời niên thiếu), Moby Dick, Thiên đường trần thế, Đêm Thánh Agnes, Những khúc điền viên của nhà vua, phần lớn tác phẩm của Swinburne, Kiêu hãnh và định kiến, Religio Medici, Hội chợ phù hoa.

Có lẽ ông cũng chẳng khác Tổng thống đắc cử Windrip là bao trong lòng sùng kính khá thiếu phê phán đối với bất cứ cuốn sách nào mình từng nghe danh trước tuổi ba mươi... Không một người Mỹ nào có tổ tiên sống trên đất nước này quá hai thế hệ lại hoàn toàn khác biệt với bất kỳ người Mỹ nào khác.

Trong một việc, lối thoát ly bằng văn chương đã hoàn toàn phụ bạc Doremus. Ông thử học lại tiếng Latin, nhưng giờ đây, khi không còn ông thầy nào dỗ dành thúc ép, ông không thể tin rằng “Mensa, mensae, mensae, mensam, mensa”—toàn bộ cái trò ngu xuẩn Một cái bàn, của một cái bàn, cho một cái bàn, hướng tới một cái bàn, ở trong bởi hoặc trên một cái bàn ấy—lại có thể một lần nữa đưa ông, như thuở nào, đến chốn thanh bình ngọt như mật của Vergil và Trang trại Sabine.

Rồi ông nhận ra cuộc kiếm tìm của mình thất bại trong mọi phương diện.

Đọc sách thì cũng thú vị, ngon lành, thỏa mãn đấy, chỉ có điều ông thấy áy náy vì đã lẻn vào một Tháp Ngà. Suốt quá nhiều năm, ông đã quen coi việc xã hội là bổn phận. Ông muốn được “dính vào” mọi chuyện, và mỗi ngày càng cáu kỉnh hơn khi Windrip, ngay cả trước lễ nhậm chức, đã bắt đầu ra lệnh cho cả nước.

Do có những người bỏ sang phe Jefferson, đảng của Buzz không chiếm được đa số tại Quốc hội. Từ Washington, Doremus nhận được “tin nội bộ” rằng Windrip đang tìm cách mua chuộc, tâng bốc và hăm dọa các nghị sĩ đối lập. Một Tổng thống đắc cử có thứ quyền lực chẳng lấy gì làm thiêng liêng, nếu ông ta muốn sử dụng nó, và Windrip—hẳn bằng những lời hứa ban phát đặc ân bất thường về chức tước—đã lôi kéo được vài người. Kết quả bầu cử của năm nghị sĩ Jefferson bị khiếu kiện. Một người biến mất đầy chấn động, và sau gót chân chạy trốn của ông ta bốc lên làn khói ma quỷ của những vụ biển thủ. Cứ sau mỗi thắng lợi như thế của Windrip, những Doremus đầy thiện chí mà ẩn dật trên khắp đất nước lại càng thêm lo âu.

Trong suốt thời kỳ “Đại Suy thoái”, kể từ năm 1929, Doremus đã cảm thấy sự bấp bênh, rối ren và cảm giác vô ích khi cố làm bất cứ điều gì lâu bền hơn việc cạo râu hay ăn sáng—một tâm trạng phổ biến khắp đất nước. Ông không còn có thể lập kế hoạch cho bản thân hay những người phụ thuộc vào mình như công dân của đất nước từng còn hoang sơ này vẫn làm kể từ năm 1620.

Ấy chứ, cả cuộc đời họ đã được xây dựng trên đặc quyền được lập kế hoạch. Những đợt suy thoái chỉ là giông bão theo chu kỳ, chắc chắn rồi sẽ kết thúc trong ánh nắng; chủ nghĩa tư bản và chính thể nghị viện là vĩnh cửu, lại vĩnh viễn được cải thiện nhờ những lá phiếu trung thực của các Công dân Tốt.

Ông nội của Doremus, Calvin, một cựu binh Nội chiến kiêm mục sư Giáo đoàn lương thấp và tư tưởng hẹp hòi, thế mà vẫn từng hoạch định: “Con trai ta, Loren, sẽ được học thần học, và ta nghĩ trong mười lăm hoặc hai mươi năm nữa chúng ta sẽ đủ sức xây một ngôi nhà mới khang trang.” Điều đó đã cho ông một lý do để làm việc và một mục tiêu để hướng tới.

Cha ông, Loren, từng thề: “Dẫu có phải dè sẻn đôi chút khoản mua sách, và có lẽ từ bỏ thói xa xỉ ăn thịt bốn lần mỗi tuần—dù sao cũng rất hại tiêu hóa—thì con trai ta, Doremus, vẫn phải được học đại học; và khi nó trở thành một nhà chính luận như nó mong muốn, ta nghĩ có lẽ ta sẽ đủ sức giúp đỡ nó trong một hai năm. Rồi ta hy vọng—ồ, chỉ thêm năm sáu năm nữa thôi—sẽ mua được bộ Dickens toàn tập có đủ mọi tranh minh họa ấy—ồ, quả là xa xỉ, nhưng đó sẽ là thứ để lại cho các cháu ta trân quý mãi mãi!”

Nhưng Doremus Jessup không thể hoạch định rằng: “Mình sẽ cho Sissy học ở Smith trước khi nó theo ngành kiến trúc,” hay “Nếu Julian Falck và Sissy lấy nhau rồi ở lại Fort, mình sẽ cho chúng lô đất phía tây nam, và một ngày kia, có lẽ mười lăm năm nữa, cả nơi này sẽ lại đầy những đứa trẻ đáng yêu!” Không. Mười lăm năm nữa, ông thở dài, Sissy có thể đang bưng bê đồ ăn cho hạng công nhân gọi nghề hầu bàn là “bưng bê đồ ăn”; còn Julian có thể đang ở trong một trại tập trung—Phát xít HOẶC Cộng sản!

Truyền thống Horatio Alger, từ rách rưới vươn lên thành Rockefeller, đã hoàn toàn biến mất khỏi nước Mỹ mà nó từng thống trị.

Hy vọng, cố tiên đoán, từ bỏ giấc ngủ trên tấm nệm êm để lao lực bên máy chữ dường như đều hơi ngớ ngẩn; còn tiết kiệm tiền ư—ngu xuẩn!

Và đối với một chủ bút—một người ít nhất cũng phải biết ngang cuốn Bách khoa toàn thư về mọi thứ thuộc lịch sử trong và ngoài nước, địa lý, kinh tế, chính trị, văn chương cùng các lối chơi bóng bầu dục—thì thật phát điên khi giờ đây dường như không thể biết chắc bất cứ điều gì.

Chỉ trong một hai năm, câu “Hắn chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì cả” đã từ một lời chế nhạo dân dã trở thành một nhận định khái quát vững vàng về gần như bất cứ nhà kinh tế học nào. Trước kia, với mức khiêm tốn vừa phải, Doremus từng cho rằng mình có kiến thức kha khá về tài chính, thuế khóa, bản vị vàng, xuất khẩu nông sản; ông từng mỉm cười mà phán giải khắp nơi rằng Chủ nghĩa Tư bản Tự do sẽ êm đềm dẫn sang Chủ nghĩa Xã hội Nhà nước, trong đó quyền sở hữu của chính phủ đối với hầm mỏ, đường sắt và thủy năng sẽ san bằng mọi bất bình đẳng thu nhập đến mức mọi con sư tử công nhân kết cấu thép đều sẵn lòng nằm bên bất kỳ chú cừu nhà thầu nào, còn tất cả nhà tù và viện điều dưỡng lao phổi sẽ sạch bóng người.

Giờ đây ông biết mình chẳng hiểu gì căn bản, và như một tu sĩ cô độc bị ý thức tội lỗi giày vò, ông than: “Giá mà mình biết nhiều hơn!... Phải, và giá mà mình nhớ nổi các số liệu thống kê!”

Sự ra đời rồi biến mất của N.R.A., F.E.R.A., P.W.A. cùng tất cả những cơ quan còn lại đã khiến Doremus tin rằng có bốn hạng người hoàn toàn không hiểu rõ chút gì về cách điều hành chính phủ: toàn thể giới chức ở Washington; toàn thể công dân nói hoặc viết thao thao bất tuyệt về chính trị; những kẻ cùng khổ bối rối chẳng hé răng; và Doremus Jessup.

“Nhưng,” ông nói, “giờ đây, sau lễ nhậm chức của Buzz, mọi chuyện sẽ lại hoàn toàn đơn giản và dễ hiểu—đất nước sẽ được điều hành như lãnh địa riêng của hắn!”

Julian Falck, giờ là sinh viên năm hai ở Amherst, đã về nhà nghỉ lễ Giáng sinh và ghé văn phòng Daily Informer để xin Doremus cho đi nhờ xe về nhà trước bữa tối.

Cậu gọi Doremus là “thưa bác” và dường như không coi ông là một hóa thạch buồn cười. Doremus thích thế.

Trên đường đi, họ dừng lại đổ xăng tại ga-ra của John Pollikop, nhà Dân chủ Xã hội lúc nào cũng sôi sùng sục, và được Karl Pascal phục vụ—khi thì là thợ vận hành máy tời phụ ở mỏ đá của Tasbrough, khi thì là lãnh đạo đình công, khi thì là tù nhân chính trị trong nhà tù quận với cáo buộc kích động bạo loạn mong manh, và từ đó đến nay luôn là một mẫu mực mộ đạo Cộng sản.

Pascal là một người gầy nhưng gân guốc; gương mặt hốc hác, khôi hài của một tay thợ máy lành nghề bị dầu mỡ bôi đen đến nỗi phần da trên và dưới mắt trông trắng như bụng cá, và đến lượt nó, vành da nhợt nhạt ấy khiến đôi mắt anh—đôi mắt đen linh hoạt của dân du mục—có vẻ càng lớn hơn... Một con báo bị xích vào xe chở than.

“Nào, sau cuộc bầu cử này anh định làm gì?” Doremus hỏi. “Ồ! Câu hỏi ngớ ngẩn thật! Tôi đoán chẳng ai trong bọn bất mãn kinh niên chúng tôi muốn nói nhiều về những gì mình định làm sau tháng Giêng, khi Buzz tóm được chúng tôi đâu. Nằm im chứ gì?”

“Tôi sẽ nằm im hơn bất cứ lần nào trước đây. Chắc chắn rồi! Nhưng có lẽ từ giờ quanh đây sẽ xuất hiện vài chi bộ Cộng sản, khi chủ nghĩa Phát xít bắt đầu làm người ta ngứa ngáy khó chịu. Trước đây công tác tuyên truyền của tôi chưa bao giờ thành công lắm, nhưng bây giờ thì cứ chờ xem!” Pascal hớn hở nói.

“Anh có vẻ không suy sụp lắm vì cuộc bầu cử,” Doremus ngạc nhiên, còn Julian góp lời: “Không—trông anh còn khá phấn chấn nữa!”

“Suy sụp ư? Lạy Chúa, ông Jessup, tôi cứ tưởng ông hiểu chiến thuật cách mạng rõ hơn thế chứ, xét cái cách ông đã ủng hộ chúng tôi trong cuộc đình công ở mỏ đá—dù ông ĐÚNG LÀ mẫu tiểu tư sản hoàn hảo! Suy sụp ư? Trời, ông không thấy sao, dẫu những người Cộng sản có bỏ tiền mua thì cũng chẳng thể kiếm được thứ gì tuyệt diệu hơn cho mục đích của chúng tôi bằng việc bầu một tên độc tài thân tài phiệt, hiếu chiến đến ngứa ngáy như Buzz Windrip! Này nhé! Hắn sẽ làm cho mọi người bất mãn ra trò. Nhưng họ chẳng thể tay không chống lại quân lính có vũ trang. Rồi hắn sẽ rùm beng cổ xúy chiến tranh, thế là hàng triệu người sẽ có vũ khí và khẩu phần lương thực trong tay—tất cả sẵn sàng cho cách mạng! Buzz muôn năm, John Prang Tẩy giả muôn năm!”

“Karl, anh buồn cười thật đấy. Tôi thực lòng tin rằng anh tin vào chủ nghĩa Cộng sản!” chàng Julian kinh ngạc. “Cậu không tin à?”

“Sao cậu không đi hỏi người bạn Cha Perefixe của cậu xem ông ấy có tin vào Đức Mẹ Đồng trinh không?”

“Nhưng anh có vẻ yêu nước Mỹ, mà cũng chẳng có vẻ cuồng tín lắm, Karl. Tôi nhớ hồi mình khoảng mười tuổi, còn anh—chắc lúc ấy anh khoảng hai mươi lăm hay hai mươi sáu—anh vẫn trượt tuyết với bọn tôi, hò hét ầm trời, rồi còn làm cho tôi một cây gậy trượt tuyết.”

“Dĩ nhiên tôi yêu nước Mỹ. Tôi sang đây lúc hai tuổi—tôi sinh ở Đức—nhưng bố mẹ tôi chẳng phải người Đức chính cống đâu—bố tôi là người Pháp, mẹ tôi là dân Hung từ Serbia. (Thế thì hẳn tôi đúng là người Mỹ một trăm phần trăm rồi!) Tôi nghĩ về nhiều mặt chúng ta hơn hẳn Cựu Thế giới. Này nhé, Julian, ở bên ấy tôi sẽ phải gọi cậu là ‘Mein Herr’ hay ‘Ngài Tôn quý’, hoặc một thứ ngu xuẩn nào đó, còn cậu sẽ gọi tôi: ‘Này-ờ, Pascal!’ và ông Jessup đây, ôi thưa ngài, sẽ là ‘Commendatore’ hoặc ‘Herr Doktor’! Không, tôi thích nơi này. Có những triệu chứng cho thấy trong tương lai dân chủ có thể hình thành. Nhưng—nhưng—điều khiến tôi sôi máu—không phải cái luận điệu cũ mèm của mấy tay diễn thuyết đầu đường rằng tổng thu nhập của một phần mười trong 1 phần trăm dân số trên chóp bu bằng tổng thu nhập của 42 phần trăm dưới đáy. Những con số như thế xa vời như thiên văn học. Chúng chẳng có nghĩa lý gì với một anh chàng suốt ngày chúi cả mắt—lẫn mũi—vào hộp truyền động, một anh chàng chẳng nhìn thấy sao trời trừ sau chín giờ tối vào những ngày thứ Tư lẻ. Nhưng điều khiến tôi sôi máu là ngay cả trước cuộc Đại Suy thoái này, vào thời mà các ông gọi là phồn vinh, 7 phần trăm tổng số gia đình trên cả nước kiếm được mỗi năm 500 đô-la hoặc ít hơn—hãy nhớ, đó không phải những người thất nghiệp, sống nhờ cứu tế; đó là những anh chàng vẫn còn cái vinh dự được lao động lương thiện.

“Năm trăm đô-la một năm tức là mười đô-la một tuần—và thế có nghĩa một căn phòng nhỏ bẩn thỉu cho một gia đình bốn người! Nghĩa là mỗi tuần 5 đô-la cho toàn bộ thức ăn—mỗi người mỗi ngày mười tám xu tiền ăn!—mà ngay cả những nhà tù tồi tệ nhất cũng cấp nhiều hơn thế. Còn phần dư nguy nga 2,50 đô-la mỗi tuần, tức là mỗi người mỗi ngày chín xu cho quần áo, bảo hiểm, tiền xe, hóa đơn bác sĩ, hóa đơn nha sĩ, và lạy Chúa, vui chơi—vui chơi!—rồi tất cả phần còn lại trong chín xu mỗi ngày ấy, họ có thể phung phí vào xe Ford, máy bay tự chuyển và, khi thấy mệt mỏi, một chuyến vượt đại dương trên tàu Normandie! Bảy phần trăm tổng số những gia đình Mỹ may mắn mà ông bố CÓ việc làm!”

Julian im lặng, rồi thì thầm: “Anh biết đấy—người ta thảo luận kinh tế học ở đại học—cảm thông trên lý thuyết—nhưng nhìn chính con mình sống bằng mười tám xu tiền ăn mỗi ngày—tôi đoán chuyện ấy sẽ biến một người thành khá cực đoan!”

Doremus bứt rứt nói: “Nhưng bao nhiêu phần trăm lao động cưỡng bức trong các trại khai thác gỗ và hầm mỏ nhà tù ở Siberia của các anh kiếm được nhiều hơn thế?”

“Haaa! Toàn chuyện nhảm nhí! Đó là câu vặn lại khuôn mẫu cũ đối với mọi người Cộng sản—cũng như hai mươi năm trước, bọn đầu đất vẫn tưởng đã đập tan được bất kỳ người Xã hội chủ nghĩa nào khi chúng cười khẩy: ‘Nếu chia đều toàn bộ tiền bạc thì trong vòng năm năm, những kẻ tháo vát sẽ lại ôm hết.’ Chắc bên Nga cũng có một đòn kết liễu khuôn mẫu nào đó như thế để đập tan bất kỳ ai bênh vực nước Mỹ. Với lại!” Karl Pascal bừng sáng nhiệt tình dân tộc chủ nghĩa. “Người Mỹ chúng ta đâu giống đám nông dân Nga đần độn ấy! Khi CHÚNG TA có chủ nghĩa Cộng sản, chúng ta sẽ làm tốt hơn nhiều!”

Đúng lúc ấy, chủ của anh, John Pollikop cởi mở—một người nom như chú chó sục Scotland lông xù—trở về ga-ra. John là bạn chí cốt của Doremus; quả thực, suốt thời Cấm rượu, ông ta từng là người buôn rượu lậu cho Doremus, đích thân chở rượu whisky từ Canada vào. Ngay cả trong cái nghề đặc biệt trọng chữ tín ấy, ông ta vẫn nổi danh là một trong những người hành nghề đáng tin cậy nhất. Giờ đây ông nở rộ với phép biện chứng Trung Âu:

“Chào buổi tối, ông Jessup, chào Julian! Karl đổ đầy bình cho ông chưa? Ông phải coi chừng thằng cha đó—hắn có thể ăn bớt của ông một ga-lông đấy. Hắn thuộc giống chó Cộng sản điên rồ—cả lũ chỉ tin vào Bạo lực thay vì Tiến hóa và Pháp luật. Bọn chúng—này nhé, nếu chúng không gian trá đến thế, nếu chúng chịu gia nhập với tôi, Norman Thomas và những người Xã hội chủ nghĩa THÔNG MINH khác trong một Mặt trận Thống nhất cùng Roosevelt và phe Jefferson, thì này nhé, chúng ta đã đánh cho Buzzard Windrip tụt quần rồi! Windrip và những kế hoạch của hắn!”

(“Buzzard” Windrip. Hay đấy, Doremus nghĩ. Ông sẽ dùng được nó trên Daily Informer!)

Pascal phản đối: “Những kế hoạch và tham vọng cá nhân của Buzzard thật ra cũng chẳng liên quan mấy đến chuyện này. Giải thích mọi thứ bằng cách đổ hết cho Windrip thì quá dễ dàng. Sao ông không ĐỌC Marx đi, John, thay vì lúc nào cũng ba hoa về ông ấy? Windrip chỉ là một thứ bẩn thỉu bị nôn ra thôi. Trong dạ dày vẫn còn khối thứ khác đang lên men—bọn kinh tế gia lang băm với đủ loại độc tố kinh tế! Không, Buzz không quan trọng—thứ chúng ta phải chữa trị là căn bệnh đã khiến chúng ta nôn hắn ra—căn bệnh hơn 30 phần trăm dân số thất nghiệp vĩnh viễn, mà con số ấy còn ngày càng tăng. Phải chữa nó!”

“Mấy Tovarish điên khùng các anh chữa nổi căn bệnh ấy sao?” Pollikop gắt lên; “Anh nghĩ chủ nghĩa cộng sản sẽ chữa nổi sao?” Doremus hoài nghi hỏi; còn Julian, lễ độ hơn, băn khoăn: “Anh thực sự nghĩ Karl Marx nắm được bí quyết à?”—cả ba đồng thanh cùng một lúc.

“Cứ lấy mạng anh ra mà cược là chúng tôi làm được!” Pascal huênh hoang đáp.

Khi lái xe đi, Doremus ngoái nhìn lại thì thấy Pascal và Pollikop đang cùng nhau tháo một chiếc lốp xẹp, vừa cãi nhau cay độc vừa hết sức vui vẻ.

Phòng làm việc trên gác mái của Doremus từng là chốn để ông lánh khỏi sự săn sóc ân cần của Emma, bà Candy và các con gái, cùng tất cả những người lạ mặt sốt sắng bắt tay, muốn ông chủ bút địa phương phát động các chiến dịch bán bảo hiểm nhân thọ hoặc bộ chế hòa khí tiết kiệm xăng, quyên góp cho Cứu Thế Quân hoặc Hội Chữ thập đỏ hoặc Trại Trẻ mồ côi hoặc Cuộc Thập tự chinh Chống ung thư, hay bán đủ loại tạp chí để giúp những chàng trai trẻ được vào đại học—những kẻ mà bằng mọi giá lẽ ra phải bị giữ cho thật xa đại học.

Giờ đây, đó là chốn để ông lánh khỏi sự săn sóc kém ân cần hơn rất nhiều của những người ủng hộ Tổng thống đắc cử. Lấy cớ làm việc, Doremus bắt đầu lẻn lên đó vào quãng giữa buổi tối; và ông không ngồi ghế bành mà ngồi cứng đờ bên bàn giấy, vạch những dấu thập, những ngôi sao năm cánh, sáu cánh và những ký hiệu xóa cầu kỳ lên các tờ giấy bản thảo màu vàng, trong lúc khổ sở trầm tư.

Chẳng hạn, tối nay, sau những đòi hỏi của Karl Pascal và John Pollikop:

“‘Cuộc nổi dậy chống Văn minh!’”

“Nhưng đó chính là điều tệ hại nhất trong toàn bộ cái trò phân tích khốn kiếp này. Khi mình bắt đầu bảo vệ Dân chủ trước chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa phát xít và đủ thứ khác, mình nghe chẳng khác gì bọn Lothrop Stoddard—trời, gần như một bài xã luận của Hearst về chuyện trường đại học nào đó phải tống cổ một giảng viên Đỏ Nguy hiểm để bảo toàn nền Dân chủ của chúng ta theo lý tưởng của Jefferson và Washington! Thế nhưng chẳng hiểu sao, tuy hát cùng những lời ấy, mình vẫn có cảm tưởng giai điệu của mình hoàn toàn khác Hearst. Mình KHÔNG nghĩ chúng ta đã làm ăn giỏi giang gì với ngần ấy đất cày, rừng rú, khoáng sản và nòi giống con người cường tráng trong tay. Điều khiến mình phát ốm về Hearst và Hội Con gái Cách mạng Mỹ là nếu BỌN HỌ chống chủ nghĩa cộng sản thì mình buộc phải ủng hộ nó—mà mình chẳng muốn!”

“Phung phí tài nguyên đến mức chúng gần cạn sạch—đó là phần đóng góp của nước Mỹ vào cuộc nổi dậy chống Văn minh.”

“Chúng ta CÓ THỂ quay về Thời kỳ Đen tối! Lớp vỏ học vấn, lễ độ và khoan dung mỏng biết bao! Chỉ cần vài nghìn quả đại pháo và bom hơi độc là đủ quét sạch mọi người trẻ tuổi đầy nhiệt huyết, mọi thư viện, kho lưu trữ lịch sử và sở cấp bằng sáng chế, mọi phòng thí nghiệm và phòng tranh, mọi lâu đài, đền đài thời Pericles và giáo đường Gothic, mọi cửa hàng hợp tác xã và nhà máy ô tô—mọi kho tàng tri thức. Chẳng có lý do cố hữu nào khiến các cháu của Sissy—nếu còn cháu chắt của bất kỳ ai sống sót—không phải ở trong hang và ném đá vào báo sư tử.”

“Thế giải pháp ngăn chặn cuộc sụp đổ này là gì? Thiếu gì giải pháp! Những người cộng sản có một Giải pháp độc quyền mà họ biết chắc sẽ hiệu nghiệm. Bọn phát xít cũng vậy, rồi những người Mỹ cứng nhắc sùng bái Hiến pháp—những kẻ TỰ XƯNG là người bênh vực Dân chủ mà chẳng hề biết từ ấy đáng lẽ phải có nghĩa gì; rồi phe Quân chủ—những kẻ tin chắc rằng chỉ cần làm sống lại Hoàng đế Đức, Sa hoàng và Vua Alfonso thì mọi người sẽ lại trung thành, hạnh phúc, còn các ngân hàng sẽ nhất quyết ép giới tiểu thương vay tiền với lãi suất hai phần trăm. Và tất cả các nhà truyền giáo—họ bảo anh rằng chỉ riêng họ mới có Giải pháp được thiên khải.”

“Thưa quý vị, tôi đã nghe tất cả các Giải pháp của quý vị, và giờ xin thông báo rằng tôi, chỉ mình tôi—có lẽ ngoại trừ Walt Trowbridge và hồn ma Pareto—nắm giữ Giải pháp hoàn hảo, tất yếu và duy nhất, ấy là: Không có Giải pháp nào hết! Sẽ chẳng bao giờ có một trạng thái xã hội dù chỉ hơi giống hoàn hảo!”

“Sẽ chẳng bao giờ có một thời mà không còn một tỷ lệ lớn dân chúng cảm thấy mình nghèo bất kể họ có bao nhiêu, rồi ghen tị với những người hàng xóm biết cách diện quần áo rẻ tiền cho thật hào nhoáng, và ghen tị với những người hàng xóm khiêu vũ, làm tình hoặc tiêu hóa giỏi hơn.”

Doremus ngờ rằng ngay trong một nhà nước khoa học nhất, các mỏ sắt cũng không thể lúc nào trữ lượng cũng xuất hiện đúng theo tốc độ mà Ủy ban Khoáng sản Kỹ trị Quốc gia đã quyết định từ hai năm trước, bất kể các nguyên tắc của những ủy viên ấy cao cả, bác ái và không tưởng đến đâu.

Doremus chỉ ra rằng Giải pháp của ông là giải pháp duy nhất không chạy trốn trước ý nghĩ rằng một nghìn năm nữa, con người có lẽ vẫn tiếp tục chết vì ung thư, động đất và những tai nạn lố bịch như trượt chân trong bồn tắm. Nó mặc nhiên cho rằng nhân loại sẽ tiếp tục mang gánh nặng của đôi mắt yếu dần, đôi chân mỏi dần, cái mũi ngứa ngáy, bộ ruột dễ bị vi khuẩn tấn công, cùng cơ quan sinh dục cứ bồn chồn cho đến tuổi đạo hạnh và suy lão. Bất chấp mọi thứ “đồ nội thất đương đại” của thập niên 1930, ông thấy rất có khả năng—một khả năng chẳng lý tưởng chút nào—rằng chí ít trong vài trăm năm nữa, phần đông con người vẫn sẽ ngồi trên ghế, ăn bằng bát đĩa đặt trên bàn, đọc sách—dù người ta có phát minh bao nhiêu thứ thay thế bằng máy ghi âm tinh xảo—đi giày hoặc xăng-đan, ngủ trên giường, viết bằng một loại bút nào đó, và nói chung trải qua hai mươi hoặc hai mươi hai giờ mỗi ngày chẳng khác mấy cách họ đã trải qua vào năm 1930, vào năm 1630. Ông ngờ rằng lốc xoáy, lũ lụt, hạn hán, sét và muỗi vẫn sẽ còn đó, cùng với khuynh hướng sát nhân có thể bắt gặp ở những công dân ưu tú nhất khi người yêu của họ bỏ đi khiêu vũ với đàn ông khác.

Và, tai hại cùng cực và thăm thẳm nhất, Giải pháp của ông phỏng đoán rằng những kẻ mưu mẹo hơn người, cáo già và xảo quyệt hơn—dù được gọi là Đồng chí, Huynh đệ, Chính ủy, Vua chúa, Nhà ái quốc, Tiểu Huynh đệ của Người nghèo hay bất kỳ mỹ danh hồng hào nào khác—vẫn sẽ tiếp tục có nhiều ảnh hưởng hơn những người chậm trí, bất kể họ đáng kính đến đâu.

Tất cả những Giải pháp giao chiến với nhau—trừ Giải pháp của ông, Doremus cười thầm—đều được đám Cuồng tín, đám “Khùng”, truyền bá một cách hung hãn.

Ông nhớ đến một bài báo trong đó Neil Carothers khẳng định rằng những “kẻ kích động quần chúng” ở nước Mỹ giữa thập niên ba mươi có cả một dòng tổ tiên lâu đời và ô nhục gồm những nhà tiên tri tự thấy mình được giao sứ mệnh khuấy động đám đông để cứu thế giới, cứu theo cách riêng của họ, cứu ngay lập tức và bằng những phương thức hết sức bạo liệt: Peter Ẩn sĩ, gã tu sĩ rách rưới, điên loạn và hôi hám, kẻ đã dẫn vài trăm nghìn nông dân châu Âu lên đường tham gia Thập tự chinh nhằm giải cứu ngôi mộ (chưa xác định) của Đấng Cứu thế khỏi những “hành vi xúc phạm của dân ngoại” cũng chẳng được xác định, để họ chết đói dọc đường, sau khi đã đốt phá, cưỡng hiếp và sát hại những nông dân đồng loại trong các làng mạc xứ người suốt dọc hành trình.

Có John Ball, người “vào năm 1381 đã chủ trương chia sẻ của cải; ông ta rao giảng bình đẳng tài sản, xóa bỏ phân biệt giai cấp và điều ngày nay sẽ được gọi là chủ nghĩa cộng sản”; môn đồ của ông ta, Wat Tyler, đã cướp phá London, với kết quả mãn nguyện cuối cùng là sau đó giới Lao động bị chính quyền hoảng sợ áp bức nặng nề hơn bao giờ hết. Và gần ba trăm năm sau, những phương pháp Cromwell dùng để trình bày vẻ đáng yêu ngọt ngào của sự Thuần khiết và Tự do là bắn giết, chém chặt, đập bằng dùi cui, bỏ đói và thiêu sống người ta; sau ông ta, những người lao động đã phải lấy máu trả giá cho cuộc chè chén của nền chính nghĩa đẫm máu ấy.

Trầm ngâm về chuyện ấy, thả câu trong vũng bùn ký ức mà phần đông người Mỹ có thay cho hồ nước trong veo của lịch sử, Doremus còn bổ sung được những cái tên khác vào danh sách các nhà kích động quần chúng đầy thiện ý:

Murat, Danton và Robespierre, những người đã góp phần chuyển quyền kiểm soát nước Pháp từ tay bọn quý tộc mốc meo sang đám chủ hiệu ngột ngạt, bủn xỉn từng centime. Lenin và Trotzky, những người ban cho nông dân Nga mù chữ đặc quyền bấm thẻ chấm công và được uyên bác, vui tươi, đường hoàng ngang công nhân nhà máy ở Detroit; cùng người của Lenin là Borodin, kẻ đã mở rộng ân huệ ấy sang Trung Quốc. Và William Randolph Hearst, người vào năm 1898 là Lenin của Cuba, đã chuyển quyền thống trị hòn đảo vàng từ tay những người Tây Ban Nha tàn bạo sang các chính khách Cuba hiền hòa, không vũ trang và yêu thương huynh đệ của ngày nay.

Moses của nước Mỹ, Dowie, cùng nền thần quyền của ông ta tại Zion City, Illinois, nơi những kết quả duy nhất từ sự lãnh đạo trực tiếp của Thượng đế—dưới sự chỉ đạo và khích lệ của ông Dowie cùng người kế nhiệm còn hăng hái hơn, ông Voliva—là các cư dân thánh thiện bị tước mất hàu, thuốc lá và quyền chửi thề, chết mà không có sự trợ giúp của bác sĩ thay vì chết với sự trợ giúp ấy, còn đoạn đường xuyên qua Zion City thì không ngừng làm gãy nhíp xe của những công dân từ Evanston, Wilmette và Winnetka—một Việc Thiện đáng mong muốn hay không thì chưa biết.

Cecil Rhodes, viễn kiến biến Nam Phi thành một thiên đường Anh quốc của ông ta, và thực tế biến nó thành nghĩa địa của binh lính Anh.

Tất cả những miền Không tưởng—Brook Farm, thánh địa huyên thuyên của Robert Owen, Helicon Hall của Upton Sinclair—cùng kết cục thường lệ của chúng trong tai tiếng, hiềm khích, nghèo đói, nhếch nhác và vỡ mộng.

Tất cả các thủ lĩnh phong trào Cấm Rượu, tin chắc sự nghiệp của mình sẽ cải tạo thế giới đến mức sẵn sàng bắn chết những kẻ vi phạm vì nó.

Doremus thấy rằng kẻ kích động quần chúng duy nhất xây dựng được một cơ nghiệp bền vững là Brigham Young cùng các viên chỉ huy Mormon râu rậm, những người không chỉ biến sa mạc Utah thành vườn Eden mà còn làm cho nó sinh lợi và duy trì được nó.

Doremus trầm ngâm: Phúc thay những người không phải là Nhà ái quốc và Nhà lý tưởng, không cảm thấy mình phải lập tức xông vào và Làm Gì Đó Về Chuyện Này—một việc quan trọng cấp bách đến nỗi mọi kẻ hoài nghi đều phải bị thanh trừng—tra tấn—tàn sát! Trò giết người cổ truyền tốt đẹp, từ khi Cain sát hại Abel đến nay vẫn luôn là sáng kiến mới mẻ mà mọi tập đoàn đầu sỏ và nhà độc tài dùng để loại bỏ phe đối lập cho muôn đời về sau!

Trong tâm trạng chua cay ấy, Doremus hoài nghi hiệu quả của mọi cuộc cách mạng; thậm chí còn dám đôi chút hoài nghi hai cuộc cách mạng của nước Mỹ chúng ta—cuộc chống nước Anh năm 1776 và cuộc Nội chiến.

Đối với một chủ bút New England, suy xét dù chỉ một lời phê phán nhỏ nhất về những cuộc chiến ấy cũng chẳng khác nào một mục sư Baptist chính thống miền Nam chất vấn sự Bất tử, tính Thiên khải của Kinh Thánh và giá trị đạo đức của việc hô vang Hallelujah. Thế nhưng, Doremus bồn chồn tự hỏi, liệu có thật cần phải trải qua bốn năm Nội chiến với mức tàn sát không sao hình dung nổi, tiếp đó là hai mươi năm miền Nam bị áp bức về thương mại, để bảo toàn Liên bang, giải phóng nô lệ và xác lập địa vị bình đẳng giữa Công nghiệp với Nông nghiệp hay không? Liệu có công bằng với chính người da đen không khi quá đột ngột ném họ vào địa vị công dân đầy đủ mà hầu như chẳng chuẩn bị gì, khiến các bang miền Nam, trong hành động mà họ coi là tự vệ, tước quyền bỏ phiếu của họ, hành hình họ bằng đám đông và quất roi họ? Chẳng lẽ không thể, như Lincoln lúc đầu mong muốn và hoạch định, giải phóng họ mà chưa trao quyền bầu cử, rồi dần dần giáo dục họ một cách thích đáng dưới sự bảo trợ của liên bang, để đến năm 1890 họ có thể tham gia trọn vẹn mọi hoạt động của đất nước mà không gây quá nhiều thù nghịch hay sao?

Một thế hệ rưỡi (Doremus trầm ngâm) gồm những con người cứng cỏi và dũng cảm nhất đã chết hoặc tàn phế trong Nội chiến, hoặc—có lẽ tệ nhất—trở thành những anh hùng chuyên nghiệp ba hoa và những kẻ chầu rìa giới chính khách, những kẻ đổi lại lá phiếu đoàn kết của họ bằng cách bảo đảm mọi chức việc nhàn hạ cho Hội Cựu binh Đại Quân Cộng hòa. Chính những người gan dạ nhất chịu tổn thất nặng nề nhất; bởi trong khi những John D. Rockefeller, J. P. Morgan, Vanderbilt, Astor, Gould và tất cả đồng đội tài chính nhanh nhẹn của họ ở miền Nam không nhập ngũ mà ở lại trong các phòng kế toán ấm áp, khô ráo, kéo tài sản của đất nước vào mạng nhện của mình, thì Jeb Stuart, Stonewall Jackson, Nathaniel Lyon, Pat Cleburne và James B. McPherson hào hiệp đã bị giết... và cùng với họ là Abraham Lincoln.

Bởi vậy, khi hàng trăm nghìn người đáng lẽ phải là tổ tiên của những thế hệ Mỹ mới đã bị rút cạn, chúng ta chỉ còn có thể phô ra trước thế giới—một thế giới từ năm 1780 đến 1860 từng hết sức ngưỡng mộ những con người như Franklin, Jefferson, Washington, Hamilton, những Adams, Webster—những thứ vớt vát như McKinley, Benjamin Harrison, William Jennings Bryan, Harding... cùng Thượng nghị sĩ Berzelius Windrip và các đối thủ của ông ta.

Chế độ nô lệ từng là một ung nhọt ung thư, và thời ấy người ta không biết phương thuốc nào khác ngoài dao cắt đẫm máu. Chưa có những tia X của trí tuệ và lòng khoan dung. Thế nhưng thi vị hóa nhát cắt ấy, biện minh và hân hoan vì nó, lại là một điều hoàn toàn xấu xa, một thứ mê tín dân tộc về sau sẽ dẫn tới những Cuộc chiến Không thể Tránh khỏi khác—những cuộc chiến để giải phóng người Cuba, giải phóng người Philippines vốn không muốn thứ tự do mang nhãn hiệu của chúng ta, để Chấm dứt Mọi Cuộc chiến.

Doremus nghĩ, ta đừng lại một lần nữa rạo rực trước tiếng kèn xung trận của Nội chiến, cũng đừng thấy thích thú trước vẻ hào hùng của những chàng Yankee xông xáo dưới quyền Sherman khi họ đốt nhà những phụ nữ cô độc, và đặc biệt đừng khâm phục vẻ bình thản của Tướng Lee khi ông ta nhìn hàng nghìn người quằn quại trong bùn.

Ông thậm chí còn tự hỏi liệu việc Mười ba Thuộc địa cắt đứt khỏi Anh quốc có nhất thiết là một điều đáng mong muốn đến thế hay không. Nếu Hoa Kỳ vẫn ở trong Đế quốc Anh, có lẽ một liên bang đã tiến hóa thành hình, đủ sức cưỡng hành Hòa bình Thế giới thay vì chỉ nói suông về nó. Những chàng trai cô gái từ các trại chăn nuôi miền Tây, các đồn điền miền Nam và những rừng phong miền Bắc có thể đã thêm Oxford, Nhà thờ lớn York cùng các làng Devonshire vào lãnh địa của mình. Đàn ông Anh, và ngay cả những phụ nữ Anh đức hạnh, có thể đã học được rằng những người không mang giọng của một nhà xứ ở Kent hay một làng dệt Yorkshire vẫn có thể biết chữ và hiểu biết về nhiều phương diện; và rằng có vô số người trên thế giới không tài nào bị thuyết phục rằng mục đích tối cao trong đời họ phải là gia tăng hàng xuất khẩu Anh vì lợi ích cổ phần của các Giai cấp Thượng lưu.

Doremus nhớ rằng người ta thường khẳng định nếu không hoàn toàn độc lập về chính trị, Hoa Kỳ đã chẳng thể phát triển những đức tính đặc thù của riêng mình. Thế nhưng ông chẳng thấy rõ nước Mỹ có cá tính hơn Canada hay Australia ở điểm nào; hay Pittsburgh và Kansas City đáng được chuộng hơn Montreal và Melbourne, Sydney và Vancouver ở điểm nào.

Doremus tự cảnh cáo rằng không một lời chất vấn nào về sự sáng suốt rốt cuộc của những người “cấp tiến” đầu tiên chủ trương hai cuộc cách mạng Mỹ ấy được phép đem lại bất kỳ sự an ủi nào cho kẻ thù muôn thuở kia: những kẻ bảo thủ thao túng đặc quyền, những kẻ nguyền rủa là “bọn kích động nguy hiểm” bất cứ ai đe dọa tài sản của chúng; những kẻ bật khỏi ghế vì cú chích của một con muỗi mắt như Debs, rồi thản nhiên nuốt chửng một con lạc đà như Windrip.

Giữa những kẻ kích động quần chúng—chủ yếu có thể nhận ra qua lòng ham muốn quyền lực và danh tiếng cho riêng mình—và những người chiến đấu chống bạo quyền mà không cầu lợi riêng, giữa William Walker hay Danton với John Howard hay William Lloyd Garrison, Doremus nhận thấy, là sự khác biệt giữa một lũ trộm cướp om sòm và một người lương thiện đang ầm ĩ tự vệ trước bọn trộm. Ông đã được nuôi dạy để tôn kính những người chủ trương bãi nô: Lovejoy, Garrison, Wendell Phillips, Harriet Beecher Stowe—dẫu cha ông từng cho John Brown là kẻ điên và một mối hiểm họa, lại còn kín đáo bôi bùn lên những pho tượng cẩm thạch của Henry Ward Beecher, vị tông đồ khoác chiếc áo gi-lê diêm dúa. Và giờ đây Doremus vẫn không thể không tôn kính những người chủ trương bãi nô, tuy ông cũng đôi chút tự hỏi liệu Stephen Douglas, Thaddeus Stephens và Lincoln—những con người thận trọng hơn và ít lãng mạn hơn—có thể đã làm việc ấy tốt hơn chăng.

“Có lẽ nào,” ông thở dài, “những nhà lý tưởng mạnh mẽ và táo bạo nhất, thay vì là những người kiến tạo vĩ đại nhất của tiến bộ nhân loại, lại chính là những kẻ thù tệ hại nhất của nó? Có lẽ nào những con người bình thường, với đức tính khiêm nhường là chỉ lo việc của mình, sẽ được xếp cao hơn trên thang bậc thiên đường so với hết thảy những linh hồn mũ mão lông chim đã chen vai xô lấn vào giữa quần chúng và nhất quyết đòi cứu rỗi họ?”