Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 14
Chương 14 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây
Tôi gia nhập Giáo hội Kitô, hay như một số người gọi là Giáo hội Campbell, từ khi còn là một cậu bé miệng còn hôi sữa. Nhưng khi ấy tôi đã mong, và giờ đây vẫn mong, sao cho mình có thể thuộc về toàn thể tình huynh đệ quang vinh; đồng thời được hiệp thông với những tín đồ Trưởng Lão dũng cảm, những người chiến đấu chống lại bọn gọi là Nhà Phê bình Cấp cao hèn nhát, dối trá, phá hoại và ngu xuẩn; với những tín đồ Giám Lý phản đối chiến tranh vô cùng mạnh mẽ, song đến thời chiến thì bao giờ cũng có thể tin cậy họ sẽ Yêu nước đến cùng; với những tín đồ Baptist khoan dung tuyệt vời, những tín đồ Cơ Đốc Phục Lâm thành tâm, và tôi nghĩ mình thậm chí còn có thể nói đôi lời tử tế về các tín đồ Nhất Thể, bởi nhà điều hành vĩ đại William Howard Taft đã thuộc giáo phái ấy, mà vợ ông cũng vậy.
Giờ Số Không, Berzelius Windrip.
Trên danh nghĩa, Doremus thuộc Giáo hội Phổ Độ, còn vợ con ông thuộc Giáo hội Giám nhiệm—một sự chuyển đổi rất tự nhiên ở Mỹ. Ông đã được nuôi dạy để ngưỡng mộ Hosea Ballou, vị Thánh Augustine của phái Phổ Độ, người từ căn nhà xứ bé nhỏ ở Barnard, Vermont, đã tuyên xưng niềm tin rằng ngay cả kẻ gian ác nhất, sau cái chết trần thế, cũng sẽ có thêm một cơ hội được cứu rỗi. Nhưng giờ đây Doremus gần như không thể bước vào Nhà thờ Phổ Độ Fort Beulah. Nơi ấy chất chứa quá nhiều ký ức về cha ông, vị mục sư, và thật não lòng khi thấy những giáo đoàn thuở trước—nơi mỗi sáng Chủ nhật có hai trăm bộ râu rậm đung đưa trên những hàng ghế gỗ thông nổi vân, còn đàn bà con trẻ xếp hàng bên các vị gia trưởng—nay teo tóp chỉ còn mấy bà góa già, vài nông dân và dăm giáo viên.
Nhưng trong thời buổi kiếm tìm này, Doremus quả có đánh liều đến đó. Nhà thờ là một tòa nhà thấp bè bè, âm u bằng đá hoa cương, chẳng được làm vui mắt hơn bao nhiêu bởi những vòm đá phiến màu phía trên cửa sổ; vậy mà thuở nhỏ Doremus từng cho rằng nó cùng ngọn tháp cụt ngủn của nó còn trội hơn cả Chartres. Ông đã yêu nó như thời ở Đại học Isaiah ông từng yêu Thư viện, nơi mặc cho dáng vẻ tựa một con cóc gạch đỏ đang thu mình, vẫn có ý nghĩa với ông là tự do khám phá tinh thần—một phòng đọc tĩnh lặng như hang động, nơi người ta có thể quên thế giới hàng giờ liền mà không bao giờ bị ai cằn nhằn lôi về ăn tối.
Trong lần duy nhất đến dự lễ tại nhà thờ Phổ Độ, ông thấy một nhóm rải rác chừng ba mươi tín đồ đang nghe một mục sư “thế giảng,” sinh viên thần học từ Boston đến, đều đều hét lên những lời hùng biện đầy thiện ý, sợ sệt và hơi có phần đạo văn về căn bệnh của Abijah, con trai Jeroboam. Doremus nhìn những bức tường nhà thờ sơn màu xanh lục chói và bóng loáng, không một vật trang trí nhằm tránh mọi thứ phù hoa tội lỗi của giáo phái Giáo hoàng, trong khi lắng nghe giọng rền rĩ ngập ngừng của nhà truyền đạo:
“Nào, ờ, điều mà rất nhiều người trong chúng ta không nhận ra chính là, ờ, tội lỗi, bất kỳ tội lỗi nào mà chúng ta, ờ, chính chúng ta có thể phạm phải, thì bất kỳ tội lỗi nào cũng không phản ánh lên bản thân ta mà lên những người chúng ta, ờ, những người chúng ta hằng yêu quý thiết tha—”
Doremus khao khát đến mức sẵn lòng đánh đổi bất cứ thứ gì để được nghe một bài giảng, dù phi lý đến đâu, có thể say sưa nâng ông dậy, ban cho ông lòng can đảm mới, có thể tắm ông trong niềm an ủi suốt những tháng ngày bị vây hãm này. Nhưng trong một cơn giận dữ bàng hoàng, ông nhận ra đó chính là điều mình đã lên án chỉ vài ngày trước: sức mạnh kịch tính phi lý của một lãnh tụ thánh chiến, dù thuộc giáo hội hay chính trường.
Thôi được vậy—ông buồn bã nghĩ. Ông đành phải xoay xở mà không có niềm an ủi tinh thần từ giáo hội như mình từng biết thời đại học.
Không, trước hết ông sẽ thử nghi lễ của ông Falck, bạn mình—hay Cha, như Buck Titus đôi khi vẫn gọi.
Trong bầu không khí Anh giáo ấm cúng của Nhà thờ Giám nhiệm St. Crispin, với những tấm bảng đồng tưởng niệm giả kiểu Anh, bồn rửa tội giả kiểu Celt, bục đọc sách hình đại bàng bằng đồng và tấm thảm màu hạt dẻ ám mùi bụi, Doremus lắng nghe ông Falck: “Đức Chúa Trời Toàn năng, Cha của Chúa Jesus Christ chúng ta, Đấng không muốn kẻ có tội phải chết, mà muốn kẻ ấy từ bỏ sự gian ác để được sống; và đã ban quyền năng cùng điều răn cho các Mục sư của Ngài, để tuyên cáo và công bố với dân Ngài, khi họ biết ăn năn, rằng tội lỗi của họ được Xá giải và Tha thứ—”
Doremus liếc nhìn vẻ ngoài ngoan đạo, bình thản của vợ mình, Emma. Nghi lễ cổ xưa đáng yêu, quen thuộc giờ đây dường như vô nghĩa đối với ông, chẳng liên quan gì đến một cuộc đời đang bị Buzz Windrip và các Minute Men của hắn đe dọa, cũng chẳng an ủi gì cho việc ông đã đánh mất niềm kiêu hãnh sâu xa thuở trước vì được làm người Mỹ, chẳng khác nào người ta dựng lại trên sân khấu một vở kịch thời Elizabeth cũng đáng yêu và quen thuộc như thế. Ông bồn chồn nhìn quanh. Dù bản thân ông Falck có thể cao cả đến đâu, phần lớn giáo đoàn chỉ là những khối bánh pudding Yorkshire. Với họ, Giáo hội Anh giáo không phải sự khiêm nhường hướng thượng của Newman, cũng chẳng phải lòng nhân bản của Giám mục Brown (cả hai người đều đã rời bỏ giáo hội ấy!), mà là dấu hiệu và bằng chứng của sự sung túc—phiên bản giáo hội của việc sở hữu một chiếc Cadillac mười hai xi-lanh—hoặc hơn thế nữa, của việc biết rằng ông nội mình từng sở hữu cỗ xe mui trần riêng cùng một con ngựa già gia thế đáng kính.
Với Doremus, cả nơi này sặc mùi bánh muffin ôi. Bà R. C. Crowley đeo găng tay trắng, và trên bộ ngực bà—bởi một bà Crowley, ngay cả vào năm 1936, vẫn chưa có vú—là một bó hoa huệ trắng bó chặt. Francis Tasbrough mặc áo lễ phục ban ngày cùng quần sọc, và trên tấm đệm ghế màu tử đinh hương bên cạnh ông ta đặt một chiếc mũ chóp lụa (độc nhất vô nhị tại Fort Beulah). Ngay cả người vợ tâm phúc của Doremus, hay ít nhất là người bạn đời bên cà phê bữa sáng, Emma hiền hậu, cũng mang vẻ mô phạm của một đức hạnh cao hơn khiến ông phát bực.
“Cả bọn này làm tôi ngạt thở!” ông gắt. “Thà đến một cuộc truy hoan của đám Thánh Lăn vừa gào vừa nhảy còn hơn—không—đó lại là kiểu cuồng loạn rừng rú của Buzz Windrip. Tôi muốn một giáo hội, nếu đời này còn có nổi một giáo hội như thế, đã tiến xa khỏi rừng rú và khỏi cả đám tuyên úy của Vua Henry Đệ Bát. Tôi hiểu tại sao Lorinda, dù tận tâm đến khổ sở, chẳng bao giờ đi nhà thờ.”
Chiều tháng Mười Hai mưa tuyết ấy, Lorinda Pike đang mạng một chiếc khăn bàn trà trong phòng khách của Quán trọ Thung lũng Beulah, cách Fort năm dặm ngược dòng sông. Dĩ nhiên, đó chẳng phải quán trọ: xét mười hai phòng ngủ dành cho khách thì nó là một nhà trọ hạng sang, còn xét việc ăn uống thì là một phòng trà hơi quá điệu nghệ. Dù yêu mến Lorinda đã lâu, Doremus vẫn luôn khó chịu trước những bát đồng rửa tay xứ Ceylon, những tấm lót bàn Bắc Carolina và những gạt tàn Ý bày bán trên các bàn bìa cứng cập kênh trong phòng ăn. Nhưng ông phải công nhận trà rất ngon, bánh scone nhẹ xốp, phô mai Stilton đúng điệu, rượu punch rum riêng của Lorinda thật tuyệt, còn bản thân Lorinda vừa thông minh vừa đáng yêu—nhất là khi, như vào buổi chiều xám xịt này, nàng không bị quấy rầy bởi những vị khách khác hay bởi sự hiện diện của con sâu kia, ông Nipper, người cộng sự có quan niệm thú vị rằng vì đã đầu tư vài nghìn đô vào Quán trọ nên ông ta không phải gánh chút công việc hay trách nhiệm nào mà vẫn được hưởng một nửa lợi nhuận.
Doremus xộc vào, vừa phủi tuyết vừa thở phì phò để trấn tĩnh sau khi xe trượt bánh suốt quãng đường từ Fort Beulah. Lorinda hờ hững gật đầu, bỏ thêm một thanh củi vào lò sưởi rồi quay lại mạng khăn, không nói câu nào thân mật hơn: “Chào. Ngoài trời ghê quá.”
“Ừ—kinh thật.”
Nhưng khi họ ngồi hai bên lò sưởi, ánh mắt họ chẳng cần đến nụ cười làm nhịp cầu nối giữa hai người.
Lorinda trầm ngâm: “Này anh yêu, tình hình sẽ tệ lắm đây. Em đoán Windrip và đồng bọn sẽ đẩy cuộc đấu tranh của phụ nữ lùi thẳng về thế kỷ mười bảy, về thời Anne Hutchinson và phái Chống Luật.”
“Chắc rồi. Trở về bếp.”
“Ngay cả khi anh chẳng có bếp!”
“Có tệ hơn cánh đàn ông bọn anh không? Em có để ý Windrip chẳng hề NHẮC đến tự do ngôn luận và tự do báo chí trong các tín điều của hắn không? Ồ, hẳn hắn đã ra mặt ủng hộ chúng thật mạnh mẽ, nhiệt thành nếu hắn có lúc nào nghĩ đến chúng!”
“Đúng thế. Uống trà nhé, anh yêu?”
“Không. Linda, quỷ thật, anh chỉ muốn đưa cả nhà lẻn sang Canada TRƯỚC KHI bị tóm—ngay sau lễ nhậm chức của Buzz.”
“Không. Anh không được làm thế. Chúng ta phải giữ lại tất cả những nhà báo còn chịu tiếp tục đấu tranh với hắn, không khụt khịt bò đến bên thùng rác. Với lại! Không có anh thì em biết làm sao?” Lần đầu tiên giọng Lorinda mang vẻ khẩn khoản.
“Nếu anh không ở quanh đây, em sẽ bớt bị nghi ngờ nhiều. Nhưng anh đoán em nói đúng. Anh chưa thể đi chừng nào chúng chưa đá anh ra ngoài. Đến lúc ấy anh sẽ phải biến mất. Anh già quá rồi, không chịu nổi cảnh tù tội đâu.”
“Hy vọng anh chưa già đến mức không làm tình nổi! Thế thì KHỔ cho con gái nhà người ta lắm!”
“Chẳng ai già đến mức ấy cả, trừ cái loại trước kia từng quá nhỏ để làm tình! Dù sao anh cũng sẽ ở lại—một thời gian.”
Bỗng nhiên, từ Lorinda, ông có được sự kiên quyết mà mình từng kiếm tìm trong nhà thờ. Ông sẽ tiếp tục cố quét đại dương lùi lại, chỉ để thỏa lòng mình. Tuy nhiên, điều đó có nghĩa là nơi ẩn cư trong Tháp Ngà của ông đã đóng cửa với một tốc độ hơi lố bịch. Nhưng ông lại cảm thấy mạnh mẽ và hạnh phúc. Cơn trầm tư của ông bị cắt ngang bởi câu hỏi cụt lủn của Lorinda:
“Emma đón nhận tình hình chính trị ra sao?”
“Cô ấy còn chẳng biết có một tình hình chính trị! Nghe anh rền rĩ, rồi tối qua cũng nghe lời cảnh báo của Walt Trowbridge trên đài—em có nghe không?—thì cô ấy bảo: ‘Ôi trời, khiếp quá!’ rồi quên sạch và quay sang lo cái xoong bị cháy! Cô ấy may mắn thật! Mà thôi, có lẽ cô ấy giúp anh bình tâm và ngăn anh biến thành một kẻ rối loạn thần kinh HOÀN TOÀN! Chắc đó là lý do anh cứ yêu quý cô ấy dai dẳng đến thế. Vậy mà anh vẫn ngốc đến mức ước ao em và anh được ở bên nhau—ờ—công khai được thừa nhận là ở bên nhau, mọi lúc—và có thể cùng chiến đấu để giữ cho một đốm sáng nhỏ nhoi còn cháy trong kỷ băng hà mới đang tới. Anh thật sự ước thế. Luôn luôn. Anh nghĩ rằng, ngay lúc này, xét mọi sự, anh muốn hôn em.”
“Đó là một cách ăn mừng khác thường lắm sao?”
“Phải. Lúc nào cũng vậy. Lần nào cũng lại là lần đầu! Này, Linda, em có bao giờ dừng lại nghĩ xem thật kỳ lạ biết bao không, rằng với—mọi chuyện giữa chúng ta—như cái đêm trong khách sạn ở Montreal—mà cả hai ta dường như chẳng thấy tội lỗi, chẳng ngượng ngùng—vẫn có thể ngồi tán gẫu thế này?”
“Không, anh yêu... Anh yêu!... Chẳng có gì kỳ lạ cả. Mọi chuyện đều tự nhiên đến thế. Tốt đẹp đến thế!”
“Vậy mà chúng ta vẫn là những người tương đối có trách nhiệm—”
“Dĩ nhiên. Vì thế nên chẳng ai nghi ngờ chúng ta, ngay cả Emma. Tạ ơn Chúa là cô ấy không nghi ngờ, Doremus! Em sẽ không làm tổn thương cô ấy vì bất cứ điều gì, kể cả vì những ân huệ nhân hậu của anh!”
“Đồ quỷ!”
“Ồ, riêng anh thì có thể bị nghi ngờ đấy. Thiên hạ đều biết đôi khi anh uống rượu mạnh, chơi poker và kể ‘chuyện tục.’ Nhưng ai lại ngờ nổi mụ đàn bà gàn dở của địa phương, kẻ đòi quyền bầu cử cho phụ nữ, kẻ chủ hòa, kẻ chống kiểm duyệt, bạn của Jane Addams và Mẹ Bloor, lại có thể là một người đàn bà phóng đãng! Trí thức! Những nhà cải cách không chút máu nóng! Ồ, em từng biết biết bao nữ hoạt động xã hội, người nào cũng khoác đầy mình những chiếc rìu Carrie Nation và những tờ thống kê đoan trang, vậy mà còn đam mê gấp mười lần, đam mê đến không chịu nổi, hơn bất kỳ cô vợ bé tròn trĩnh, mặt trắng mịn nào trong chiếc quần lót voan!”
Trong một thoáng, ánh mắt ôm riết lấy nhau của họ không chỉ thân thiện, quen thuộc và thản nhiên.
Ông bứt rứt: “Ôi, lúc nào anh cũng nghĩ đến em và khao khát em, vậy mà anh cũng nghĩ đến Emma—mà anh thậm chí còn chẳng có được thói vị kỷ cao quý kiểu tiểu thuyết là cảm thấy tội lỗi và bị mắc kẹt khốn khổ giữa những rắc rối chằng chịt. Phải, mọi chuyện quả thật tự nhiên đến thế, Linda yêu dấu!”
Ông bồn chồn sải bước đến bên cửa sổ khung kính, cứ đi hai bước lại ngoái nhìn nàng. Trời đã nhá nhem, những con đường bốc hơi mù mịt. Ông lơ đãng nhìn ra ngoài—rồi bỗng chăm chú hết sức.
“Lạ thật. Càng lúc càng lạ. Nấp sau bụi cây lớn kia, anh đoán là bụi tử đinh hương, bên kia đường, có một gã đang theo dõi nơi này. Mỗi khi xe chạy qua, anh thấy hắn trong ánh đèn pha. Và anh nghĩ đó là người làm thuê của anh, Oscar Ledue—Shad.” Ông bắt đầu kéo đôi rèm đỏ trắng vui mắt lại.
“Không! Không! Đừng kéo! Hắn sẽ nghi ngờ.”
“Đúng vậy. Buồn cười thật, hắn đứng đó theo dõi—nếu đúng LÀ hắn. Giờ này lẽ ra hắn phải ở nhà anh trông nom lò sưởi—mùa đông, mỗi ngày hắn chỉ làm cho anh vài giờ, thời gian còn lại thì làm ở xưởng khung cửa, nhưng lẽ ra hắn phải—Chắc định tống tiền chút đỉnh. Thôi, hắn cứ việc công bố mọi thứ hắn thấy hôm nay ở bất cứ đâu hắn muốn!”
“Chỉ những gì hắn thấy hôm nay thôi sao?”
“Bất cứ chuyện gì! Bất cứ ngày nào! Anh vô cùng tự hào—một miếng giẻ rửa bát già như anh, hơn em hai mươi tuổi!—mà lại được làm tình nhân của em!”
Và ông quả thật tự hào, tuy suốt lúc ấy ông vẫn nhớ đến lời cảnh cáo viết bằng phấn đỏ mà mình đã thấy trên hiên trước nhà sau cuộc bầu cử. Trước khi ông kịp nghĩ ngợi quá rắc rối về chuyện ấy, cánh cửa đã bật mở đánh rầm một tiếng vang dội, và con gái ông, Sissy, lướt vào.
“Chào-ô, chào-ô, chào-ô! Tạm-biệt-nhé! Chào buổi sáng, Jeeves! Chàooo, cô Lindy. Bà con khắp đồn điền xưa trên mọi nẻo tôi qua khỏe cả chứ? Chào bố. Không, không phải cocktail đâu—cùng lắm chỉ một ly cocktail bé tí thôi—đây là sức sống tuổi trẻ! Lạy Chúa, lạnh khiếp! Trà, Linda, bà chị tốt bụng của tôi—trà!”
Họ uống trà. Một quây quần hoàn toàn đầm ấm kiểu gia đình.
“Đua về nhà với con nhé, bố,” Sissy nói khi họ chuẩn bị ra về.
“Ừ—không—chờ một lát! Lorinda, cho anh mượn đèn pin.”
Khi ông bước ra cửa, hùng hổ tiến qua đường, trong lòng Doremus sôi sục tất cả nỗi giận dữ kích động mà ông đã giấu Sissy. Và nấp một phần sau bụi cây, tựa vào chiếc mô tô, quả nhiên là Shad Ledue.
Shad giật mình; lần này vẻ khinh khỉnh, hách dịch của hắn không còn sánh được với một cảnh sát giao thông Đại lộ Năm, khi Doremus quát: “Anh làm gì ở đó?” và hắn ấp úng đáp: “Ồ, tôi chỉ—xe máy của tôi có chút trục trặc.”
“Vậy à! Lẽ ra anh phải ở nhà chăm lò sưởi, Shad.”
“Ờ, tôi đoán giờ tôi sửa xong xe rồi. Tôi đi đây.”
“Không. Con gái tôi sẽ lái xe đưa tôi về, nên anh có thể đặt chiếc mô tô vào phía sau xe tôi rồi lái nó về.” (Bằng cách nào đó, ông phải nói chuyện riêng với Sissy, mặc dù ông không hề chắc mình cần nói điều gì.)
“Cô ta á? Vớ vẩn! Sissy lái xe dở ẹc! Điên như chim lặn!”
“Ledue! Cô Sissy lái xe rất thành thạo. Ít nhất thì tôi thấy hoàn toàn ổn, còn nếu anh thực sự cảm thấy cô ấy chưa đạt đúng tiêu chuẩn của ANH—”
“Cô ta lái thế nào thì mặc xác, chẳng liên quan chó gì đến tôi! Chào nhé!”
Băng trở lại qua đường, Doremus tự mắng mình: “Mình thật trẻ con. Lại còn cố nói chuyện với hắn như với một người tử tế! Nhưng giá được giết hắn thì khoái biết bao!”
Tới cửa, ông báo cho Sissy: “Shad tình cờ đi ngang qua—xe mô tô trục trặc nặng—bố cho hắn lấy chiếc Chrysler rồi—bố sẽ đi xe với con.”
“Hay quá! Tuần này mới chỉ có sáu chàng trai bạc tóc vì đi xe do con lái thôi.”
“Mà bố—bố định nói là, có lẽ để bố lái thì hơn. Tối nay đường khá trơn.”
“Thế thì bố chết mất! Ôi, bậc sinh thành ngốc nghếch thân yêu của con, con là tay lái cừ nhất—”
“Con lái dở ẹc! Điên rồ, chỉ có thế! Lên xe! Bố lái, nghe chưa? Chào nhé, Lorinda.”
“Vâng, thưa Cha yêu quý,” Sissy nói với vẻ tinh quái khiến đầu gối ông nhũn ra.
Tuy vậy, ông tự trấn an rằng cái lối ăn nói xấc xược ấy của Sissy—đặc trưng ngay cả ở những cô cậu tỉnh lẻ được nuôi lớn bằng xăng—chỉ là bắt chước những ả gái làng chơi hạng sang ở New York, và sẽ chẳng kéo dài quá một hai năm nữa. Có lẽ cái thế hệ mồm mép lanh lảnh này cần một cuộc Cách mạng Buzz Windrip cùng mọi đau đớn mà nó đem lại.
“Bố cưng, con biết lái cẩn thận thì tuyệt lắm, nhưng bố có nhất thiết phải noi gương con ốc sên thận trọng không?” Sissy nói.
“Ốc sên không trượt bánh.”
“Không, chúng bị xe cán. Thà trượt còn hơn!”
“Vậy cha con là một hóa thạch!”
“Ồ, con đâu có—”
“Ừ, mà có lẽ đúng là thế thật. Cũng có cái lợi. Dù sao thì: bố tự hỏi liệu có phải người ta nói nhảm quá nhiều về chuyện Tuổi già luôn thận trọng, bảo thủ, còn Tuổi trẻ bao giờ cũng ưa phiêu lưu, táo bạo và độc đáo hay không? Cứ nhìn bọn Quốc xã trẻ tuổi thích thú thế nào khi đánh đập những người Cộng sản. Cứ nhìn hầu như bất kỳ lớp đại học nào—sinh viên bất bình với giảng viên vì ông ta bài trừ thần tượng và giễu cợt những quan niệm thiêng liêng ở quê nhà. Mới chiều nay, trên đường lái xe đến đây, bố đã nghĩ—”
“Này bố, bố có thường đến nhà Lindy không?”
“Ơ—ơ, cũng không hẳn. Sao?”
“Sao bố không—Hai người sợ cái gì đến thế? Hai nhà cải cách đầu tóc bù xù—bố với Lindy sinh ra là dành cho nhau. Sao hai người không—bố biết đấy—đại khái làm tình nhân?”
“Lạy Đức Chúa Trời toàn năng! Cecilia! Cả đời bố chưa từng nghe một cô gái ĐỨNG ĐẮN nào nói năng như thế!”
“Chậc! Chậc! Bố chưa từng nghe ư? Ôi chao, ôi chao! Thật đáng tiếc!”
“Trời đất ơi—Ít ra con cũng phải thừa nhận rằng một cô con gái bề ngoài có vẻ hiếu thảo mà lại xúi cha mình lừa dối mẹ thì hơi khác thường đấy! Nhất là một người mẹ tốt đẹp, đáng yêu như mẹ con!”
“Thế ư? Ừ, có lẽ vậy. Nói ra điều ấy—thành lời—thì khác thường. Nhưng con tự hỏi chẳng phải nhiều cô gái đôi khi cũng đại khái NGHĨ như thế hay sao, khi thấy Bậc Sinh Thành Đáng Kính của mình đang héo mòn!”
“Sissy—”
“Này, coi chừng cột điện thoại!”
“Quỷ thật, bố có đến gần nó đâu! Giờ con nghe đây, Sissy: con nhất định không được ngang ngược—hay đường đột, từ nào mới đúng nhỉ; bố cứ lẫn lộn hai từ ấy mãi. Đây là chuyện nghiêm túc. Bố chưa từng nghe một đề nghị nào phi lý như chuyện Linda—Lorinda và bố làm tình nhân. Con yêu, con tuyệt đối KHÔNG THỂ bỡn cợt trước những chuyện hệ trọng đến thế!”
“Ồ, con KHÔNG THỂ sao! Ôi, xin lỗi bố. Ý con chỉ là—Về mẹ Emma ấy. Dĩ nhiên con không muốn ai làm mẹ tổn thương, kể cả Lindy với bố. Nhưng lạy bố, hỡi Bậc Đáng Kính, mẹ thậm chí chẳng bao giờ mơ đến chuyện như vậy đâu. Bố có thể ăn chiếc bánh ngon lành của mình mà mẹ chẳng thiếu mất lấy một miếng. Những nếp suy nghĩ của mẹ không, ờ, chà, không bị tình dục chi phối cho lắm, nếu người ta nói thế—mà thiên về cái mặc cảm máy hút bụi đời mới hơn, nếu bố hiểu ý con—xin mời Freud vào cuộc! Ồ, mẹ tuyệt lắm, nhưng không hay phân tích và—”
“Vậy đó là đạo đức của con sao?”
“Hả? Ôi, lạy mèo, sao lại không? Vui vẻ một phen để bố lại tràn trề sinh lực mà vẫn không làm tổn thương tình cảm của bất kỳ ai ư? Này, đó chính là toàn bộ chương hai trong cuốn sách đạo đức học của con!”
“Sissy! Con có mảy may ý niệm nào về điều mình đang nói, hay tưởng là mình đang nói, hay không? Dĩ nhiên—và có lẽ bố mẹ nên xấu hổ vì sự chểnh mảng hèn nhát của mình—nhưng bố, và bố cho là cả mẹ con nữa, chưa dạy con được bao nhiêu về ‘tình dục’ và—”
“Ơn trời! Bố đã tha cho con câu chuyện bông hoa bé bỏng đáng yêu cùng mối dan díu hết sức kinh thiên động địa của nó với gã mèo đực dữ dằn là cây huệ hổ ở luống bên—xin lỗi—ý con là ở khoảnh bên. Con mừng quá vì bố đã không kể. Vì Chúa! Chắc con ghét phải đỏ mặt mỗi lần nhìn thấy một khu vườn lắm!”
“Sissy! Con ơi! Làm ơn! Con đừng có CỐ TỎ RA LANH LỢI một cách đáng ghét như thế! Đây đều là những chuyện hệ trọng—”
Cô hối lỗi: “Con biết, bố ạ. Con xin lỗi. Chỉ là—giá bố biết con khổ sở thế nào khi thấy bố khổ sở, lặng lẽ và đủ mọi thứ như vậy. Cái vụ Windrip ghê tởm, cái Liên đoàn Vì-Chúa quỷ quái ấy đã làm bố suy sụp, phải không! Nếu định chống lại chúng, bố phải lấy lại tinh thần—phải cởi đôi găng ren ra mà đeo quả đấm sắt vào—và con linh cảm Lorinda có thể giúp bố làm điều đó, mà chỉ có cô ấy thôi. Hừ! Cô ấy còn giả bộ cao thượng nữa chứ! (Bố nhớ câu đùa cũ Buck Titus từng mê lắm không—‘Nếu anh đang cứu vớt những người đàn bà sa ngã, hãy để dành cho tôi một cô’? Ồ, không hay lắm. Con nghĩ ta sẽ bỏ hẳn câu ấy khỏi màn kịch!) Nhưng dù sao thì Lindy nhà ta cũng có một ánh mắt khá ướt át và thèm khát—”
“Không thể nào! Không thể nào! À mà Sissy! Con biết gì về tất cả những chuyện này? Con còn trinh không?”
“Bố! Bố thấy đó là câu nên hỏi—Ồ, con đoán là mình đã tự chuốc lấy. Và câu trả lời là: Có. Cho đến giờ. Nhưng con không hứa một lời nào về tương lai đâu. Con nói thẳng với bố ngay bây giờ, nếu tình hình đất nước này quả có trở nên tồi tệ như bố vẫn quả quyết, và Julian Falck bị đe dọa phải ra trận hoặc vào tù hay gặp một chuyện thối tha tương tự, thì nhất định con sẽ không để chút e lệ trinh nữ nào chắn giữa con với anh ấy, và tốt hơn hết là bố nên chuẩn bị tinh thần đi!”
“Vậy đúng là Julian, chứ không phải Malcolm?”
“Ồ, con nghĩ vậy. Malcolm làm con phát bực. Anh ta đang chuẩn bị sẵn sàng để đảm nhiệm địa vị thích đáng của mình, làm đại tá hay gì đó trong đám lính gỗ của Windrip. Còn con thì rất mến Julian! Cho dù anh ấy là kẻ khờ khạo, thiếu thực tế nhất trần đời—giống ông nội anh ấy—hoặc giống bố! Anh ấy thật đáng yêu. Đêm qua bọn con ngồi rù rì những lời ngọt ngào vô nghĩa đến khoảng hai giờ, con đoán thế.”
“Sissy! Nhưng con chưa—Ôi, con gái bé bỏng của bố! Julian có lẽ cũng đủ đứng đắn—không phải hạng xấu—nhưng con—Con chưa để Julian có hành vi suồng sã nào với con đấy chứ?”
“Ôi, một từ cổ kính đáng yêu! Làm như còn điều gì có thể suồng sã hơn một nụ hôn ngon lành, điêu luyện, công suất mười nghìn mã lực ấy! Nhưng bố yêu, để bố khỏi lo—chưa. Vài lần vào những đêm khuya, trong phòng khách nhà mình, khi con ngủ với Julian—thì, bọn con đã NGỦ!”
“Bố mừng, nhưng—Vốn hiểu biết có vẻ—mà có lẽ chỉ là có vẻ—khá rộng của con về nhiều đề tài tế nhị khiến bố hơi lúng túng.”
“Giờ bố nghe con đây! Và đây là điều lẽ ra bố phải nói với con, chứ không phải con nói với bố, ông Jessup ạ! Có vẻ như đất nước này, và phần lớn thế giới—Bây giờ con NGHIÊM TÚC đấy, bố ạ; nghiêm túc lắm, cầu Chúa cứu giúp tất cả chúng ta!—có vẻ như chúng ta đang lao thẳng trở lại thời man rợ. Đây là chiến tranh! Sẽ chẳng còn mấy thời gian cho chuyện e ấp, thẹn thùng, cũng như một nữ y tá ở bệnh viện hậu phương chẳng có thời gian cho những chuyện ấy khi thương binh được đưa vào. Các tiểu thư đoan trang—HẾT THỜI rồi! Chính Lorinda và con mới là những người mà cánh đàn ông các bố sẽ cần ở bên, phải không—phải không—chẳng phải thế sao?”
“Có lẽ—có thể,” Doremus thở dài, buồn bã khi thấy thêm một mảnh thế giới thân thuộc trượt khỏi chân mình trong lúc nước lũ dâng lên.
Họ đang rẽ vào lối xe chạy nhà Jessup. Shad Ledue vừa từ ga-ra bước ra.
“Con vào nhà nhanh đi, được không!” Doremus bảo con gái.
“Vâng. Nhưng bố phải cẩn thận đấy, bố yêu!” Giọng cô không còn giống cô con gái bé bỏng của ông, cần được che chở, cần được điểm trang bằng những dải ruy băng xanh nhạt, cần được kín đáo cười xòa khi cô cố tỏ ra mình đã trưởng thành. Đột nhiên cô đã trở thành một đồng đội đáng tin cậy, như Lorinda.
Doremus quả quyết bước ra khỏi xe và bình thản nói:
“Shad!”
“Gì?”
“Anh đã mang chìa khóa xe vào bếp chưa?”
“Hả? Chưa. Chắc tôi để trong xe rồi.”
“Tôi đã bảo anh cả trăm lần là phải đem chúng vào trong.”
“Thế à? Chà, ông thấy CÔ CECILIA lái xe thế nào? Sang thăm bà Pike già vui vẻ chứ?”
Giờ đây giọng hắn đầy giễu cợt, không còn che giấu được nữa.
“Ledue, tôi nghĩ anh bị sa thải—ngay bây giờ!”
“Chà! Cứ thử tưởng tượng xem! Được thôi, Sếp! Tôi cũng vừa định báo với ông rằng chúng tôi đang lập một chi hội thứ hai của Liên đoàn Những Người Bị Lãng quên trong thị trấn, và tôi sẽ làm thư ký. Họ trả không nhiều lắm—chỉ khoảng gấp đôi số ông trả tôi—khá keo kiệt—nhưng công việc ấy sẽ có chút trọng lượng trên chính trường. Chào nhé!”
Sau đó, Doremus lấy làm tiếc khi nhớ ra rằng, bất chấp vẻ vụng về như phu bến tàu, Shad từng học được nét chữ chính xác trong ngôi trường nhỏ sơn đỏ ở Vermont, và đủ thạo tính toán để có lẽ giữ nổi chức thư ký khá hão huyền này. Tệ thật!
Hai tuần sau, trên cương vị thư ký Liên đoàn, khi Shad viết thư đòi ông quyên hai trăm đô-la cho Liên đoàn và Doremus từ chối, lượng phát hành của Daily Informer bắt đầu sụt giảm chỉ trong vòng hai mươi bốn giờ.