Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 15

Chương 15 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây

Thường thì tôi khá ôn hòa; thật ra, nhiều bạn bè tốt bụng đến mức gọi lối viết lách hay diễn thuyết của tôi là “bình dân thân mật”. Hoài bão của tôi là “sống bên vệ đường và làm bạn với mọi người”. Nhưng tôi hy vọng không một quý ông nào từng ban cho tôi vinh dự được làm kẻ thù của họ lại nghĩ, dù chỉ trong một khoảnh khắc, rằng khi đụng phải một tệ nạn công cộng đủ ghê tởm hoặc một kẻ gièm pha đủ dai dẳng, tôi không thể chồm lên hai chân sau và gầm như một con gấu xám hai đuôi vào tháng Tư. Vậy nên, ngay khi mở đầu bản tường thuật về cuộc chiến mười năm của tôi với bọn họ, trên cương vị thường dân, Thượng nghị sĩ tiểu bang và Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, xin cho phép tôi tuyên bố rằng Công ty Ánh sáng, Điện lực và Nhiên liệu Sông Sangfrey là—và tôi xin mời họ kiện tôi tội phỉ báng—một lũ đê tiện nhất, hèn hạ nhất, nhát gan nhất, gồm toàn những quân ruột vàng, vỗ vai thân mật, đạo đức giả, mang súng, ném bom, ăn cắp phiếu bầu, làm giả sổ sách, đưa hối lộ, xúi khai man, thuê phường phá đình công, cùng đủ hạng lưu manh mạt hạng, dối trá và lừa đảo từng mưu toan cướp mất một cuộc bầu cử khỏi tay một công bộc trung thực của Nhân dân—dẫu sao tôi vẫn luôn đánh bại được chúng, nên sự phẫn nộ của tôi đối với lũ cuồng sát mắc chứng trộm cắp này hoàn toàn không phải vì tư thù, mà chỉ vì lợi ích của công chúng nói chung.

Giờ Số Không, Berzelius Windrip.

Thứ Tư, ngày 6 tháng Giêng năm 1937, đúng hai tuần trước lễ nhậm chức, Tổng thống đắc cử Windrip công bố các quyết định bổ nhiệm thành viên nội các và các nhà ngoại giao.

Bộ trưởng Ngoại giao: Lee Sarason, nguyên thư ký kiêm nhân viên báo chí của ông, đồng thời đảm nhiệm chức Đại Thống chế, tức Tổng Tư lệnh Minute Men; tổ chức này sẽ được thành lập vĩnh viễn dưới danh nghĩa một câu lạc bộ diễu hành vô hại.

Bộ trưởng Ngân khố: một người tên Webster R. Skittle, chủ tịch Ngân hàng Quốc gia Lông thú và Da thuộc làm ăn phát đạt ở St. Louis—ông Skittle từng bị truy tố vì tội gian lận thuế thu nhập của chính phủ, nhưng ít nhiều đã được tuyên trắng án; và trong chiến dịch tranh cử, người ta nói ông đã chọn một cách đầy sức thuyết phục để biểu thị lòng tin của mình vào Buzz Windrip, Đấng Cứu tinh của Những Người Bị Lãng quên.

Bộ trưởng Chiến tranh: Đại tá Osceola Luthorne, nguyên chủ bút tờ Argus ở Topeka, Kansas, và tờ Công báo Hàng mỹ nghệ và Đồ mới lạ; gần đây là một nhân vật lớn trong ngành địa ốc. Danh hiệu đại tá của ông bắt nguồn từ chức vụ trong ban tham mưu danh dự của Thống đốc Tennessee. Từ lâu ông đã là bạn và chiến hữu vận động tranh cử của Windrip.

Mọi người đều lấy làm tiếc khi Giám mục Paul Peter Prang từ chối chức Bộ trưởng Chiến tranh bằng một lá thư trong đó ông gọi Windrip là “Người Bạn và Cộng sự thân mến của tôi”, đồng thời quả quyết rằng ông thực sự nói thật khi tuyên bố mình không mong muốn chức vụ nào. Về sau, người ta cũng tiếc nuối tương tự khi Cha Coughlin khước từ chức Đại sứ tại Mexico, chẳng gửi thư từ gì mà chỉ có một bức điện với lời lẽ bí hiểm: “Muộn đúng sáu tháng.”

Một chức vụ nội các mới được lập ra: Bộ trưởng Giáo dục và Quan hệ Công chúng. Phải nhiều tháng nữa Quốc hội mới điều tra tính hợp pháp của việc lập chức vụ ấy, nhưng trong thời gian đó, chiếc ghế mới được Hector Macgoblin, Bác sĩ Y khoa, Tiến sĩ, Tiến sĩ Văn chương Danh dự, đảm nhiệm một cách xuất sắc.

Thượng nghị sĩ Porkwood làm vẻ vang chức vụ Bộ trưởng Tư pháp, còn mọi chức vụ khác đều được giao một cách thỏa đáng cho những người tuy đã nhiệt liệt ủng hộ các dự án gần như xã hội chủ nghĩa của Windrip nhằm phân phối những gia sản quá lớn, song vẫn nổi tiếng là những người hoàn toàn biết điều, chứ không phải phường cuồng tín.

Người ta đồn—dù Doremus Jessup không bao giờ chứng minh được—rằng Windrip đã học của Lee Sarason cái lệ Tây Ban Nha là tống khứ những bạn bè và kẻ thù gây vướng víu bằng cách bổ nhiệm họ vào các chức vụ ở nước ngoài, tốt nhất là thật xa xôi. Dù sao đi nữa, Windrip đã bổ nhiệm Herbert Hoover làm Đại sứ tại Brazil, và ông này nhận lời chẳng mấy hào hứng; Thượng nghị sĩ Borah làm Đại sứ tại Đức; Thượng nghị sĩ Robert La Follette làm Thống đốc Philippines, nhưng ông từ chối; còn các chức Đại sứ tại Triều đình St. James, Pháp và Nga thì được trao cho chẳng ai khác ngoài Upton Sinclair, Milo Reno và Thượng nghị sĩ Bilbo của Mississippi.

Ba vị ấy đã có một quãng thời gian tuyệt diệu. Ông Sinclair làm người Anh hài lòng khi quan tâm đến chính trị của họ một cách thân thiện đến nỗi ông công khai vận động cho Đảng Lao động Độc lập và xuất bản một tập sách nhỏ đầy sinh khí nhan đề “Tôi, Upton Sinclair, Chứng minh rằng Thủ tướng Walter Elliot, Ngoại trưởng Anthony Eden và Đệ nhất Đại thần Hải quân Nancy Astor đều là những kẻ nói dối và đã khước từ lời khuyên tôi hào phóng dành cho họ.” Ông Sinclair còn khơi dậy mối quan tâm đáng kể trong đời sống nội bộ Anh khi đề xướng một đạo luật của Quốc hội cấm mặc lễ phục buổi tối và cấm mọi hình thức săn cáo, trừ săn bằng súng săn; nhân buổi tiếp kiến chính thức tại Điện Buckingham, ông nồng nhiệt mời Vua George và Hoàng hậu Mary sang California sinh sống.

Ông Milo Reno, nhân viên bán bảo hiểm kiêm cựu chủ tịch Hiệp hội Quốc gia Bãi công Nông nghiệp, được tất cả những người bảo hoàng Pháp đem so với vị tiền nhiệm vĩ đại Benjamin Franklin về tính thẳng thắn, đã trở thành nhân vật được giới thượng lưu quốc tế ở Paris, Basses-Pyrénées và Riviera ưa chuộng nhất; có lần ông còn được chụp ảnh khi đang chơi quần vợt tại Antibes cùng Công tước de Tropez, Huân tước Rothermere và Tiến sĩ Rudolph Hess.

Thượng nghị sĩ Bilbo có lẽ là người vui thú hơn cả.

Dựa trên kinh nghiệm chín muồi của ông trong việc Gleichschaltung hóa Mississippi, Stalin đã hỏi ý kiến ông về cách tổ chức văn hóa cho những cư dân có phần lạc hậu ở Tadjikistan; lời khuyên tỏ ra quý báu đến mức Ngài Bilbo được mời duyệt lễ diễu binh tại Moscow vào ngày 7 tháng Mười một kế đó, trên cùng khán đài với tầng lớp đại diện cao cấp nhất của nhà nước phi giai cấp. Đó là một thắng lợi huy hoàng của Ngài. Đại Thống chế Voroshilov ngất xỉu sau khi 200.000 quân Liên Xô, 7.000 xe tăng và 9.000 máy bay đi qua; Stalin phải được khiêng về nhà sau khi duyệt 317.000 quân; nhưng Đại sứ Bilbo vẫn đứng trên khán đài khi người lính cuối cùng trong số 626.000 quân nhân đã đi qua, tất cả đều chào ông vì lầm tưởng tai hại rằng ông là Đại sứ Trung Hoa; và ông vẫn không biết mệt mỏi đáp lễ họ, mỗi phút mười bốn lần, miệng khe khẽ hát theo bài “Quốc tế ca”.

Tuy nhiên, về sau ông ít được hoan nghênh hơn, khi hát cho Hội Những người Anh-Mỹ Lưu vong sang nước Nga Xô viết để thoát Chủ nghĩa Đế quốc—một cử tọa mặt lạnh như tiền—nghe những lời do chính ông đặt theo điệu “Quốc tế ca” mà ông cho là khôi hài:

“Vùng lên, hỡi tù nhân cơn đói, Khỏi nước Nga mau trốn đi thôi. Dân xứ Bilbo giàu hết thảy. Chúa ban phúc nước Mỹ ta rồi!”

Sau chiến dịch đầy khí thế vận động cho ông Windrip, bà Adelaide Tarr Gimmitch công khai nổi giận vì không được đề nghị chức vụ nào cao hơn một chân tại sở hải quan ở Nome, Alaska, mặc dù người ta thực sự tha thiết mời bà nhận chức ấy. Bà từng yêu cầu lập riêng cho mình một chức vụ nội các là Nữ Bộ trưởng Gia chánh, Phúc lợi Trẻ em và Bài trừ Tệ nạn. Bà dọa sẽ ngả theo phái Jefferson, Đảng Cộng hòa hoặc Cộng sản; nhưng đến tháng Tư, người ta nghe tin bà đang ở Hollywood, viết kịch bản cho một bộ phim vĩ đại mang tên Chuyện ấy Họ đã Làm ở Hy Lạp.

Như một lời lăng nhục kiêm trò đùa của chàng trai quê nhà, Tổng thống đắc cử bổ nhiệm Franklin D. Roosevelt làm công sứ tại Liberia. Những người chống đối ông Roosevelt cười nghiêng ngả, còn các báo đối lập đăng tranh biếm họa vẽ ông ngồi rầu rĩ trong một túp lều cỏ, bên tấm biển có chữ “N.R.A.” bị gạch đi và thay bằng “U.S.A.” Nhưng ông Roosevelt khước từ với nụ cười hòa nhã đến mức trò đùa dường như chẳng trúng đích.

Những người theo Tổng thống Windrip rêu rao rằng việc ông là tổng thống đầu tiên nhậm chức không phải vào ngày 4 tháng Ba mà vào ngày 20 tháng Giêng, theo quy định của Tu chính án thứ Hai mươi mới trong Hiến pháp, mang một ý nghĩa trọng đại. Đó là dấu hiệu truyền thẳng từ Thiên đường (dù thật ra tác giả của tu chính án không phải Thiên đường, mà là Thượng nghị sĩ George W. Norris của Nebraska), chứng minh rằng Windrip đang mở ra một thiên đường mới dưới trần gian.

Lễ nhậm chức diễn ra náo loạn. Tổng thống Roosevelt từ chối tham dự—ông lịch sự cho biết mình gần như mắc bệnh thập tử nhất sinh, nhưng đúng trưa hôm ấy, người ta trông thấy ông trong một hiệu sách ở New York, đang mua sách làm vườn và có vẻ vui tươi khác thường.

Hơn một nghìn phóng viên, nhiếp ảnh gia và nhân viên phát thanh đưa tin về lễ nhậm chức. Hai mươi bảy cử tri của Thượng nghị sĩ Porkwood, đủ mọi giới tính, phải ngủ trên sàn văn phòng của Thượng nghị sĩ, còn một phòng ngủ nhỏ ở ngoại ô Bladensburg được cho thuê với giá ba mươi đô-la trong hai đêm. Tổng thống Brazil, Argentina và Chile bay đến dự lễ nhậm chức trên một chiếc máy bay Liên Mỹ, còn Nhật Bản đưa bảy trăm sinh viên từ Seattle đến bằng một chuyến tàu đặc biệt.

Một hãng xe hơi ở Detroit đã tặng Windrip chiếc limousine có vỏ thép bọc giáp, kính chống đạn, két sắt bằng thép-niken giấu kín để đựng giấy tờ, quầy rượu riêng ngụy trang và lớp bọc ghế làm từ những tấm thảm Troissant năm 1670. Nhưng Buzz chọn đi từ nhà tới Điện Capitol bằng chiếc sedan Hupmobile cũ; tài xế là một chàng trai trẻ cùng quê, mà quan niệm về đồng phục dùng trong quốc lễ chỉ là bộ com-lê serge xanh, cà vạt đỏ và mũ quả dưa. Chính Windrip có đội mũ chóp cao, nhưng ông bảo đảm rằng Lee Sarason phải bảo đảm cho một trăm ba mươi triệu thường dân được biết qua đài phát thanh, ngay giữa lúc đoàn diễu hành nhậm chức đang tiến bước, rằng ông chỉ mượn chiếc mũ ấy cho đúng dịp duy nhất này từ một Hạ nghị sĩ Cộng hòa ở New York có tổ tiên danh giá.

Nhưng theo sau Windrip là một đoàn quân hộ tống chẳng mang chút phong vị Jackson nào: Hội Cựu chiến binh Hoa Kỳ và, đường bệ hơn tất cả rất nhiều, Minute Men, đội mũ sắt chiến hào bằng bạc đánh bóng, do Đại tá Dewey Haik mặc áo chẽn đỏ tươi, quần cưỡi ngựa vàng và đội mũ gắn lông vàng chỉ huy.

Với vẻ trang nghiêm, lần đầu tiên trông hơi kính sợ, hơi giống một cậu trai tỉnh lẻ đứng trên Broadway, Windrip tuyên thệ trước Chánh án Tối cao Pháp viện (người cực kỳ căm ghét ông), rồi nhích sát micro hơn nữa và quang quác: “Hỡi đồng bào, với tư cách Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, tôi xin báo cho quý vị biết rằng Chính sách Mới ĐÍCH THỰC đã bắt đầu ngay phút này, và tất cả chúng ta sẽ tận hưởng muôn vàn quyền tự do mà lịch sử đã ban cho mình—lại còn vui chơi thỏa thích trong khi làm thế nữa! Xin cảm ơn quý vị!”

Đó là hành động đầu tiên của ông trên cương vị Tổng thống. Hành động thứ hai là dọn vào Nhà Trắng, nơi ông ngồi xuống Phòng Đông, chân chỉ đi tất, rồi hét với Lee Sarason: “Đây chính là việc tôi đã toan tính suốt sáu năm nay! Tôi cá Lincoln trước kia cũng làm thế này! Giờ thì cứ để chúng ám sát tôi xem!”

Hành động thứ ba, trong vai trò Tổng Tư lệnh Quân đội, là ra lệnh công nhận Minute Men như một lực lượng phụ trợ chính thức nhưng không hưởng lương của Lục quân Chính quy, chỉ chịu quyền chỉ huy của các sĩ quan của chính họ, của Buzz và Đại Thống chế Sarason; đồng thời súng trường, lưỡi lê, súng lục tự động và súng máy phải được các kho vũ khí chính phủ cấp ngay cho họ. Lệnh ấy ban ra lúc bốn giờ chiều. Từ ba giờ chiều, trên khắp cả nước, từng toán Minute Men đã ngồi hau háu nhìn súng lục và súng trường, giật giật vì thèm muốn được chộp lấy chúng.

Nước cờ thứ tư là một thông điệp đặc biệt gửi Quốc hội vào sáng hôm sau—Quốc hội đã họp từ ngày 4 tháng Giêng, vì ngày mồng 3 rơi vào Chủ nhật—đòi lập tức thông qua một dự luật thể hiện Điểm Mười lăm trong cương lĩnh tranh cử của ông: trao cho ông toàn quyền kiểm soát việc lập pháp và hành pháp, đồng thời khiến Tối cao Pháp viện không còn khả năng ngăn cản bất cứ điều gì ông cao hứng muốn làm.

Bằng Nghị quyết chung, sau chưa đầy nửa giờ tranh luận, cả hai viện Quốc hội đã bác bỏ yêu sách ấy trước ba giờ chiều ngày 21 tháng Giêng. Trước sáu giờ, Tổng thống đã tuyên bố thiết quân luật trong thời gian diễn ra “cuộc khủng hoảng hiện nay”, và hơn một trăm nghị sĩ Quốc hội bị Minute Men bắt giữ theo lệnh trực tiếp của Tổng thống. Những nghị sĩ nóng nảy đến mức chống cự bị buộc tội một cách trơ tráo là “kích động bạo loạn”; những người ngoan ngoãn đi theo thì chẳng bị buộc tội gì cả. Lee Sarason thản nhiên giải thích với giới báo chí đang xôn xao rằng những chàng trai trầm lặng này đã bị “các phần tử vô trách nhiệm và phản loạn” đe dọa đến mức họ chỉ đang được đưa đi bảo vệ mà thôi. Sarason không dùng cụm từ “bắt giữ để bảo vệ”, vốn có thể khiến người ta liên tưởng.

Đối với các phóng viên kỳ cựu, thật lạ lùng khi thấy người mang danh Bộ trưởng Ngoại giao—về lý thuyết là một nhân vật uy nghiêm và trọng yếu đến mức có thể giao thiệp với đại diện các cường quốc nước ngoài—lại hành xử như nhân viên báo chí và kẻ chỉ biết vâng dạ, ngay cả đối với Tổng thống.

Bạo loạn lập tức nổ ra khắp Washington, khắp nước Mỹ.

Các nghị sĩ ngoan cố bị nhốt trong Nhà tù Đặc khu. Giữa buổi tối mùa đông, một đám đông tiến về phía đó, ầm ĩ nổi loạn chống lại chính Windrip mà biết bao người trong số họ từng bỏ phiếu bầu. Len lỏi trong đám đông là hàng trăm người da đen mang dao và súng lục cũ, bởi một trong những nghị sĩ bị bắt cóc là người da đen đến từ Georgia, người Georgia da màu đầu tiên giữ chức vụ cao kể từ thời bọn carpetbagger.

Bao quanh nhà tù, đứng sau những khẩu súng máy, phe nổi loạn trông thấy một ít lính Chính quy, nhiều cảnh sát và cả một đạo quân Minute Men; nhưng họ chế giễu đám sau cùng, gọi chúng là “Chuột Minnie”, “lính thiếc” và “cục cưng của mẹ”. Các Minute Men căng thẳng nhìn sĩ quan của mình và nhìn đám lính Chính quy đang làm ra vẻ không sợ hãi một cách thật nhà nghề. Đám đông ném chai lọ và cá chết. Nửa tá cảnh sát mang súng và dùi cui, cố đẩy lùi lớp người đi đầu, bị một ngọn sóng người vùi lấp; khi trồi lên, họ đã bị đánh đập thảm hại đến kỳ quái và mất sạch quân phục—ấy là nói những người còn trồi lên được. Hai phát súng nổ; một Minute Man đổ gục xuống bậc thềm nhà tù, một tên khác đứng đó trông tức cười, tay kia ôm cổ tay đang phun máu.

Minute Men—chà, họ tự nhủ, dù sao họ đâu từng có ý định làm lính—họ chỉ muốn vui vẻ diễu hành một chút thôi mà! Họ bắt đầu lén lút trà trộn vào rìa đám đông, giấu những chiếc mũ đồng phục đi. Đúng lúc ấy, từ một chiếc loa công suất lớn đặt ở cửa sổ tầng dưới của nhà tù, giọng Tổng thống Berzelius Windrip rống lên:

“Tôi đang nói với chính những chàng trai của tôi, Minute Men trên khắp nước Mỹ! Tôi trông cậy vào các bạn, và chỉ các bạn mà thôi, để giúp tôi khiến nước Mỹ lại trở thành một miền đất kiêu hãnh và giàu có. Các bạn từng bị khinh miệt. Chúng tưởng các bạn thuộc ‘giai cấp hạ đẳng’. Chúng không chịu cho các bạn việc làm. Chúng bảo các bạn hãy cút đi như phường lang thang và sống nhờ cứu tế. Chúng tống các bạn vào những trại C.C.C. bẩn thỉu. Chúng bảo các bạn là đồ vô dụng chỉ vì các bạn nghèo. _Tôi_ nói với các bạn rằng, kể từ trưa hôm qua, các bạn là những lãnh chúa cao quý nhất của đất nước—là giới quý tộc—là những người kiến tạo một nước Mỹ mới của tự do và công lý. Các chàng trai! Tôi cần các bạn! Hãy giúp tôi—giúp tôi giúp các bạn! Hãy giữ vững vị trí! Bất cứ kẻ nào tìm cách cản đường các bạn—hãy cho lũ lợn ấy nếm mũi lê!”

Một xạ thủ súng máy của Minute Men, sau khi thành kính lắng nghe, liền khai hỏa. Đám đông bắt đầu ngã xuống; còn khi những người bị thương lảo đảo bỏ chạy, bộ binh Minute Men vừa chạy vừa đâm lưỡi lê vào lưng họ. Tiếng thịt mềm bị xiên mới mọng nước làm sao, và những kẻ chạy trốn trông sửng sốt, buồn cười biết bao khi ngã nhào thành những đống hình thù quái dị!

Trong những giờ tập đâm lê buồn tẻ, đám M.M. đâu có biết chuyện này lại vui đến thế. Từ nay chúng sẽ còn được vui nhiều hơn nữa—vả lại, chẳng phải chính Tổng thống Hoa Kỳ đã đích thân bảo từng đứa rằng ông cần chúng giúp sức đó sao?

Khi những thành viên còn sót lại của Quốc hội đánh liều tới Điện Capitol, họ thấy nơi đó nhan nhản M.M., trong khi một trung đoàn quân chính quy dưới quyền Thiếu tướng Meinecke diễu binh khắp khuôn viên.

Chủ tịch Hạ viện cùng Ngài Perley Beecroft đáng kính, Phó Tổng thống Hoa Kỳ kiêm Chủ tọa Thượng viện, có quyền tuyên bố rằng số nghị viên tham dự đã đủ túc số. (Nếu một lô nghị viên cứ nấn ná trong nhà giam đặc khu, mải vui thú thay vì đến dự Quốc hội, thì lỗi tại ai?) Cả hai viện thông qua một nghị quyết tuyên bố tạm thời thi hành Điểm Mười lăm trong thời gian diễn ra “cuộc khủng hoảng”—tính hợp pháp của việc thông qua ấy thì đáng ngờ, nhưng thử hỏi ai sẽ đứng ra phản đối, cho dù các thẩm phán Tối cao Pháp viện chưa bị quản thúc để bảo vệ... mà chỉ bị một toán Minute Men giam lỏng mỗi người tại nhà riêng!

Giám mục Paul Peter Prang (về sau bạn bè ông kể vậy) đã kinh hoàng trước cú đảo chính của Windrip. Ông phàn nàn rằng hẳn ông Windrip đã quên khuấy việc đưa Tình Thân ái Cơ Đốc vào chương trình mà ông ta lấy từ Liên đoàn Những Người Bị Lãng quên. Mặc dù ông Prang đã mãn nguyện từ bỏ việc phát thanh ngay sau chiến thắng của Công lý và Tình Huynh đệ, hiện thân nơi Berzelius Windrip, ông vẫn muốn cảnh tỉnh công chúng một lần nữa; nhưng khi ông gọi điện đến đài quen thuộc của mình, WLFM ở Chicago, viên giám đốc báo rằng “chỉ là tạm thời thôi, mọi người đều bị cấm lên sóng,” trừ phi được văn phòng Lee Sarason đặc cách cấp phép. (Ồ, đó chỉ là một trong mười sáu công việc mà Lee cùng sáu trăm trợ lý mới của ông ta đã ôm lấy trong tuần qua.)

Có phần rụt rè, Giám mục Prang lái xe từ nhà mình ở Persepolis, Indiana, đến sân bay Indianapolis rồi đáp chuyến bay đêm đi Washington, để quở trách, có lẽ còn vui vẻ phát cho cậu học trò hư Buzz của mình vài roi.

Ông không mấy khó khăn để được vào gặp Tổng thống. Thực tế, báo chí hối hả loan tin rằng ông đã ở Nhà Trắng suốt sáu giờ, dù họ không sao tìm hiểu được ông có ở bên Tổng thống suốt khoảng thời gian ấy hay không. Ba giờ chiều, người ta thấy Prang rời khu văn phòng hành pháp qua một lối riêng rồi lên taxi. Họ nhận thấy mặt ông tái nhợt, bước chân loạng choạng.

Trước khách sạn, ông bị một đám đông huých vai chen lấn; chúng tru lên bằng những giọng kỳ quặc, máy móc mà chẳng có vẻ gì đe dọa: “Treo cổ nó—đả đảo bọn kẻ thù Windrip!” Một tá M.M. xuyên qua đám đông và vây quanh Giám mục. Viên Thiếu úy chỉ huy chúng gầm lên cho tất cả cùng nghe: “Lũ hèn kia, để Giám mục yên! Thưa Giám mục, xin đi với chúng tôi, chúng tôi sẽ bảo đảm an toàn cho ngài!”

Tối hôm ấy, hàng triệu người nghe đài phát thanh loan báo chính thức rằng, để tránh những kẻ âm mưu bí hiểm—có lẽ là bọn Bolshevik—Giám mục Prang đã được che chở an toàn trong nhà giam đặc khu. Kèm theo đó là lời tuyên bố riêng của Tổng thống Windrip rằng ông tràn ngập niềm vui vì đã có thể “giải cứu khỏi tay bọn kích động đê tiện người bạn và bậc thầy của tôi, Giám mục P. P. Prang, người mà trong số tất cả những người đang sống, không có ai được tôi ngưỡng mộ và kính trọng đến thế.”

Bấy giờ báo chí vẫn chưa bị kiểm duyệt tuyệt đối; mới chỉ có tình trạng bắt bớ hỗn loạn những nhà báo xúc phạm chính phủ hoặc các sĩ quan M.M. địa phương; và những tờ báo vốn thường xuyên chống Windrip đã đăng những lời bóng gió chẳng lấy gì làm tâng bốc, rằng Giám mục Prang đã khiển trách Tổng thống rồi bị tống thẳng vào tù, chẳng có chuyện nhảm nhí nào về một cuộc “giải cứu” cả. Những tiếng xì xào ấy truyền tới Persepolis.

Không phải tất cả dân Persepolis đều chan chứa tình yêu đối với Giám mục hay coi ông là một Thánh Francis thời hiện đại, lái chiếc LaSalle bảnh bao đi gom những con chim nhỏ ngoài đồng. Có những người hàng xóm bóng gió rằng ông là kẻ chuyên rình qua cửa sổ để soi mói bọn buôn rượu lậu và những cô vợ có chồng đi vắng sẵn lòng chiều khách. Nhưng họ chắc chắn vẫn tự hào về ông—món quảng cáo tuyệt hảo nhất của thành phố—và Phòng Thương mại Persepolis đã cho dựng tại cửa ngõ phía đông dẫn vào Main Street tấm biển: “Quê hương của Giám mục Prang, Ngôi sao Vĩ đại nhất của Đài Phát thanh.”

Thế là Persepolis đồng lòng đánh điện tới Washington, yêu cầu thả Prang; nhưng một nhân viên đưa tin trong khu Văn phòng Hành pháp, vốn là người Persepolis (quả thật anh là người da màu, nhưng bỗng chốc lại trở thành người con ưu tú của quê hương, được các bạn học cũ trìu mến nhớ tới), đã mật báo cho Thị trưởng rằng các bức điện ấy nằm trong hàng tạ thông điệp hằng ngày bị chở khỏi Nhà Trắng mà không được hồi đáp.

Rồi một phần tư dân Persepolis lên một chuyến tàu đặc biệt để “tiến quân” tới Washington. Đó là một trong những sự cố nhỏ mà báo chí đối lập có thể dùng làm quả bom đặt dưới chân Windrip, và đi cùng chuyến tàu có tới hai chục phóng viên kỳ cựu từ Chicago, rồi sau đó thêm cả từ Pittsburgh, Baltimore và New York.

Trong lúc đoàn tàu còn đang trên đường—và thật lạ lùng biết bao, nó gặp hết lần trì hoãn này đến lần bị đẩy vào đường tránh khác—một đại đội Minute Men tại Logansport, Indiana, đã nổi loạn vì bị buộc phải bắt một nhóm nữ tu Công giáo, những người bị cáo buộc là đã giảng dạy tư tưởng phản quốc. Đại Thống chế Sarason thấy rằng cần phải có một Bài học, sớm sủa và thật ấn tượng. Một tiểu đoàn M.M. được chở từ Chicago tới bằng những chiếc xe tải chạy hết tốc lực đã bắt giữ đại đội làm loạn và xử bắn cứ ba người một.

Khi dân Persepolis tới Washington, họ được một viên chuẩn tướng M.M. ra đón tại Ga Union đau xót báo cho hay rằng Giám mục Prang tội nghiệp đã bị hành vi phản quốc của những người đồng hương Indiana gây chấn động đến mức phát điên vì u uất, và nhà chức trách đành đau lòng giam ông vào bệnh viện tâm thần St. Elizabeth's của chính phủ.

Không một ai sẵn lòng truyền tin về ông còn được gặp lại Giám mục Prang nữa.

Viên Chuẩn tướng mang tới cho dân Persepolis lời thăm hỏi của chính Tổng thống, cùng lời mời lưu lại khách sạn Willard, mọi phí tổn do chính phủ đài thọ. Chỉ một tá người nhận lời; số còn lại lên ngay chuyến tàu đầu tiên trở về, lòng chẳng mấy hòa nhã; và từ đó trở đi, ở Mỹ có một thành phố mà không tên M.M. nào dám bén mảng tới với chiếc mũ ca-lô ngộ nghĩnh và áo quân phục xanh sẫm của mình.

Tham mưu trưởng Lục quân Chính quy đã bị phế truất; thay thế ông là Thiếu tướng Emmanuel Coon. Doremus và những người cùng cảnh thất vọng vì Tướng Coon đã nhận chức, bởi xưa nay họ vẫn được nghe—ngay cả từ tờ Nation—rằng Emmanuel Coon, tuy là một sĩ quan nhà nghề quả thực thích đánh nhau, vẫn muốn cuộc chiến ấy diễn ra về phía Chúa; rằng ông rộng lượng, uyên bác, công bằng và là một con người trọng danh dự—mà danh dự chính là phẩm chất duy nhất người ta thậm chí chẳng trông mong Buzz Windrip hiểu nổi. Có lời đồn Coon (một người Kentucky “Bắc Âu” chính cống chẳng kém bất cứ ai từng tồn tại, hậu duệ của những người từng chiến đấu bên cạnh Kit Carson và Đề đốc Perry) đặc biệt không chịu nổi sự ấu trĩ của thói bài Do Thái, và không gì làm ông khoái hơn là, mỗi khi nghe những người mới quen lên giọng bề trên về dân Do Thái, liền gầm gừ: “Các vị có tình cờ để ý thấy tên tôi là Emmanuel Coon, và Coon có thể là biến âm của một cái tên khá quen thuộc ở khu East Side của New York hay không?”

“Chà, tôi cho là ngay cả Tướng Coon cũng nghĩ: ‘Mệnh lệnh là mệnh lệnh,’” Doremus thở dài.

Bản tuyên cáo dài đầu tiên của Tổng thống Windrip gửi tới toàn quốc là một áng văn đẹp đẽ và chan chứa ân tình. Ông giải thích rằng những kẻ thù đầy quyền lực và hoạt động bí mật chống lại các nguyên tắc Mỹ—nghe ra thì dường như là sự kết hợp giữa Wall Street và nước Nga Xô-viết—khi tức tối phát hiện ra rằng ông, Berzelius, sắp trở thành Tổng thống, đã trù tính đợt xung phong cuối cùng. Trong vài tháng nữa mọi chuyện sẽ yên ổn, nhưng trong lúc này đang có một Cuộc Khủng hoảng, và suốt thời gian ấy cả nước phải “chịu khó thông cảm với ông.”

Ông nhắc lại chế độ độc tài quân sự của Lincoln và Stanton trong thời Nội chiến, khi những thường dân bị tình nghi bị bắt mà không cần trát. Ông gợi cho thấy mọi chuyện sắp sửa tuyệt diệu biết bao—ngay bây giờ thôi—chỉ một lát nữa—chỉ cần kiên nhẫn một lát—khi ông đã nắm vững tình hình; và ông kết thúc bằng cách ví Cuộc Khủng hoảng với tình thế cấp bách của một người lính cứu hỏa giải cứu một cô gái xinh đẹp khỏi một “đám đại hỏa,” bế nàng xuống thang vì lợi ích của chính nàng, bất kể nàng có thích hay không, bất kể nàng có vùng vẫy đôi cổ chân xinh xắn một cách khêu gợi đến đâu.

Cả nước phá lên cười.

“Buzz đúng là tay đại tài gây cười, nhưng làm việc thì cừ khôi lắm,” cử tri nói.

“Tôi hơi đâu mà lo lão Giám mục Prang hay bất kỳ thằng khùng nào khác có bị nhốt vào nhà thương điên hay không, miễn là tôi được năm ngàn đô một năm như Windrip đã hứa,” Shad Ledue nói với Charley Betts, người bán đồ nội thất.

Tất cả những chuyện ấy đã xảy ra trong vòng tám ngày sau lễ nhậm chức của Windrip.