Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 16
Chương 16 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây
Tôi chẳng hề ham muốn làm Tổng thống. Tôi thà đem hết sức mọn của mình ra ủng hộ Giám mục Prang, Ted Bilbo, Gene Talmadge hay bất kỳ nhà Tự do nào khác có tầm nhìn rộng mà đầy sinh khí. Khát vọng duy nhất của tôi là Phụng sự.
Giờ Số Không, Berzelius Windrip.
Giống như nhiều người độc thân ham săn bắn và cưỡi ngựa mãnh liệt, Buck Titus là một chủ nhà kỹ tính, và căn nhà trang trại kiểu giữa thời Victoria của ông ngăn nắp đến cầu kỳ. Nó cũng trống trải một cách dễ chịu: phòng khách như một đại sảnh tu viện với những chiếc ghế gỗ sồi nặng nề, những chiếc bàn không phủ khăn kiểu cách, vô số sách lịch sử và thám hiểm khá nghiêm trang, cùng những “bộ sách” theo lệ thường, và một lò sưởi khổng lồ xây bằng đá thô. Gạt tàn làm bằng gốm đặc và thiếc, đủ sức ứng phó với cả một tối hút thuốc lá. Rượu whisky đường hoàng đặt trên tủ búp-phê gỗ sồi, bên cạnh các bình xifông, còn đá đập luôn được chuẩn bị sẵn trong một bình giữ nhiệt.
Tuy nhiên, đòi hỏi Buck Titus đừng treo những bức tranh săn bắn giả phong cách Anh màu đỏ đen thì quả là quá đáng.
Chốn ẩn cư này, nơi Doremus bao giờ cũng thấy khoan khoái, giờ đã thành nơi trú ẩn, và chỉ khi ở bên Buck ông mới có thể thỏa sức nguyền rủa Windrip cùng đồng bọn và những kẻ như Francis Tasbrough, người đến tận tháng Hai vẫn còn nói: “Phải, tình hình dưới Washington xem ra có hơi náo loạn, nhưng chẳng qua vì còn quá nhiều tay chính khách đầu bò cứ tưởng mình có thể chống lại Windrip. Vả lại, dù sao thì những chuyện như thế không đời nào xảy ra được ở New England này.”
Và quả thực, khi Doremus đi lo những công việc hợp pháp của mình, qua những ngôi nhà kiểu Georgia xây gạch đỏ, qua những ngọn tháp thanh mảnh của các nhà thờ trắng cổ kính hướng mặt ra bãi cỏ chung; khi nghe giọng giễu cợt uể oải trong những lời chào quen thuộc của bạn bè—những con người bền gan như chính các ngọn đồi Vermont—ông thấy cơn điên loạn ở thủ đô xa lạ, xa xôi và chẳng đáng kể khác nào một trận động đất tại Tây Tạng.
Trên tờ Daily Informer, ông vẫn thường xuyên phê phán chính phủ, nhưng không quá cay độc.
Cơn cuồng loạn này không thể kéo dài; hãy kiên nhẫn, cứ chờ rồi xem, ông khuyên độc giả.
Không phải ông sợ nhà chức trách. Ông chỉ không tin nền bạo chính khôi hài này có thể tồn tại. ĐIỀU ĐÓ KHÔNG THỂ XẢY RA Ở ĐÂY, ngay cả Doremus cũng nói thế—ngay cả lúc này.
Điều khiến ông bối rối nhất là lại có thể tồn tại một nhà độc tài dường như quá khác với những Hitler cuồng nhiệt, những tên Phát-xít khoa tay múa chân và những Caesar quấn vòng nguyệt quế quanh cái sọ hói; một nhà độc tài mang chút óc hài hước Mỹ mộc mạc của Mark Twain, George Ade, Will Rogers hay Artemus Ward. Windrip có thể châm chọc đến là buồn cười về những đối thủ nghiêm trang, cằm trễ xuống, và về phương pháp hay nhất để huấn luyện loài mà ông ta gọi là “chó săn bọ chét Xiêm.” Doremus băn khoăn: điều đó khiến ông ta bớt nguy hiểm hay nguy hiểm hơn?
Rồi ông nhớ đến kẻ điên rồ tàn độc nhất trong mọi tên cướp biển, Ngài Henry Morgan, kẻ từng thấy thật là khôi hài khi khâu một nạn nhân vào tấm da sống ướt rồi đứng nhìn nó co lại dưới nắng.
Cứ nhìn vẻ dai dẳng trong những cuộc cãi vã của họ là biết Buck Titus và Lorinda mến nhau hơn nhiều so với điều cả hai chịu thừa nhận. Vì ít đọc sách nên hễ đọc gì Buck đều coi trọng điều ấy; bởi vậy, ông khổ tâm trước thú tiêu khiển ngày nghỉ của Lorinda vốn thường ham học—những cuốn tiểu thuyết về các nàng công chúa lâm nạn—và khi nàng thản nhiên khăng khăng rằng chúng chỉ dẫn cách xử thế còn hay hơn Anthony Trollope hay Thomas Hardy, Buck gầm lên với nàng rồi, trong nỗi bất lực của một sức mạnh bị chọc tức, cuống quýt nhồi hết tẩu này đến tẩu khác và gõ chúng vào bệ lò sưởi bằng đá. Nhưng ông tán thành mối quan hệ giữa Doremus và Lorinda, chuyện chỉ mình ông (và Shad Ledue!) đoán ra; còn với Doremus, người hơn mình mười tuổi, gã tiều phu đầu tóc bù xù này lại săn sóc lăng xăng như một bà cô không chồng bất đắc chí.
Đối với cả Doremus lẫn Lorinda, căn nhà lều phình quá cỡ của Buck đã thành chốn nương náu. Và đến cuối tháng Hai, chừng năm tuần sau khi Windrip đắc cử, họ quả thực cần đến nó.
Bất chấp những cuộc đình công và bạo loạn khắp cả nước, bị Minute Men đàn áp đẫm máu, quyền lực của Windrip tại Washington vẫn được duy trì. Bốn thành viên tự do nhất của Tối cao Pháp viện từ chức và được thay thế bằng những luật sư vô danh đến đáng ngạc nhiên, những người gọi Tổng thống Windrip bằng tên riêng. Một số nghị sĩ vẫn đang được “bảo vệ” trong nhà tù Đặc khu Columbia; những người khác đã trông thấy ánh sáng chói lòa do nữ thần Lý trí vĩnh viễn tỏa chiếu và vui vẻ trở lại Điện Capitol. Minute Men ngày càng trung thành—họ vẫn là những tình nguyện viên không hưởng lương, nhưng được cấp những “khoản công tác phí” lớn hơn đáng kể so với quân lương của binh sĩ chính quy. Chưa bao giờ trong lịch sử Hoa Kỳ, những người theo một vị Tổng thống lại mãn nguyện đến thế; họ không chỉ được bổ nhiệm vào mọi chức vụ chính trị hiện hữu mà còn vào vô số chức vụ thực ra chẳng hề tồn tại; và một khi những điều phiền nhiễu như các cuộc Điều tra của Quốc hội đã bị dẹp yên, các quan chức phụ trách trao hợp đồng vui vẻ thân tình hết mực với mọi nhà thầu.... Một tay vận động hành lang kỳ cựu cho các tập đoàn thép than phiền rằng chuyện đi săn chẳng còn gì thú vị—người ta không những cho phép mà còn đòi hỏi anh phải bắn mọi nhân viên thu mua của chính phủ ngay khi họ đang ngồi.
Không thay đổi nào được tuyên truyền rầm rộ bằng sắc lệnh của Tổng thống đột ngột chấm dứt sự tồn tại riêng biệt của các bang và chia cả nước thành tám “tỉnh”—theo lời Windrip, nhờ thế sẽ tiết kiệm bằng cách giảm số thống đốc cùng mọi quan chức cấp bang khác; còn theo lời kẻ thù của Windrip, nhờ thế ông ta dễ tập trung đội quân riêng và khống chế đất nước hơn.
“Tỉnh Đông Bắc” mới bao gồm toàn bộ bang New York ở phía bắc đường chạy qua Ossining, cùng toàn bộ New England ngoại trừ một dải bờ biển Connecticut kéo về phía đông đến New Haven. Doremus thừa nhận đây là một sự phân chia tự nhiên và đồng nhất; còn tự nhiên hơn nữa, dường như, là “Tỉnh Đô thị” mang tính thành thị và công nghiệp, bao gồm Đại New York, hạt Westchester đến Ossining, Long Island, dải Connecticut lệ thuộc vào thành phố New York, New Jersey, miền bắc Delaware và vùng Pennsylvania kéo đến Reading và Scranton.
Mỗi tỉnh được chia thành các khu đánh số, mỗi khu thành các hạt ký chữ cái, mỗi hạt thành các thị trấn và thành phố; chỉ tại những đơn vị cuối cùng này, các tên gọi cũ với sức gợi truyền thống mới còn được giữ lại, đe dọa Tổng thống Windrip bằng ký ức về một lịch sử địa phương đáng kính. Và thiên hạ đồn rằng bước tiếp theo, chính phủ sẽ đổi cả tên các đô thị—rằng họ đã trìu mến nghĩ tới việc gọi New York là “Berzelian” và San Francisco là “San Sarason.” Có lẽ lời đồn ấy không đúng.
Sáu khu của Tỉnh Đông Bắc là: 1, phần thượng bang New York ở phía tây Syracuse, kể cả Syracuse; 2, New York ở phía đông thành phố ấy; 3, Vermont và New Hampshire; 4, Maine; 5, Massachusetts; 6, Rhode Island và phần Connecticut chưa bị cưỡng hiếp.
Khu 3, khu của Doremus Jessup, được chia thành bốn “hạt”: miền nam và miền bắc Vermont, miền nam và miền bắc New Hampshire, với thủ phủ đặt tại Hanover—Ủy viên Khu chỉ việc đuổi sinh viên Dartmouth ra ngoài rồi chiếm các tòa nhà của trường làm văn phòng, được Amherst, Williams và Yale hết sức tán thành.
Vậy là giờ đây Doremus sống tại Tỉnh Đông Bắc, Khu 3, Hạt B, thị trấn Beulah; và để ông ngưỡng mộ cùng hân hoan, phía trên ông có một ủy viên tỉnh, một ủy viên khu, một ủy viên hạt, một trợ lý ủy viên hạt phụ trách Thị trấn Beulah, cùng tất cả vệ binh M.M. và thẩm phán quân sự khẩn cấp trực thuộc họ.
Những công dân đã sống tại bất kỳ bang nào hơn mười năm dường như phẫn uất trước việc bang ấy bị xóa mất căn tính còn dữ dội hơn trước việc Quốc hội và Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ bị thiến—quả thực, họ phẫn uất gần bằng trước sự thật rằng suốt cuối tháng Giêng, tháng Hai và gần hết tháng Ba, họ vẫn chưa nhận được những món quà 5.000 đôla (hoặc biết đâu tuyệt diệu thay, sẽ là 10.000 đôla) dành cho mỗi người từ chính phủ; thực ra họ chẳng nhận được gì ngoài những bản tin vui vẻ từ Washington, cho biết “Ủy ban Trưng thu Tư bản,” gọi tắt là C.L.B., đang họp.
Những người Virginia có ông nội từng chiến đấu bên cạnh Lee gào lên rằng có chết họ cũng không từ bỏ tên bang thiêng liêng để trở thành một khu tùy tiện của một đơn vị hành chính gồm mười một bang miền Nam; dân San Francisco, vốn từng coi người Los Angeles còn tệ hơn cả cư dân Miami, giờ rên xiết đau đớn khi California bị xé đôi, phần phía bắc bị gộp cùng Oregon, Nevada và các nơi khác thành “Tỉnh Miền núi và Thái Bình Dương,” trong khi miền nam California, chẳng cần được nàng ưng thuận, bị phân vào Tỉnh Tây Nam cùng Arizona, New Mexico, Texas, Oklahoma và Hawaii. Như một gợi ý về viễn kiến tương lai của Buzz Windrip, thật thú vị khi đọc thấy rằng Tỉnh Tây Nam này còn được phép tuyên bố chủ quyền đối với “mọi phần lãnh thổ Mexico mà thỉnh thoảng Hoa Kỳ thấy cần phải tiếp quản, nhằm bảo vệ mình trước thói phản trắc khét tiếng của Mexico và những âm mưu Do Thái được ấp ủ tại đó.”
“Lee Sarason còn hào phóng hơn cả Hitler và Alfred Rosenberg trong việc bảo vệ tương lai của các nước khác,” Doremus thở dài.
Được bổ nhiệm làm Ủy viên Tỉnh Đông Bắc, bao gồm phần thượng bang New York và New England, là Đại tá Dewey Haik, nhà quân sự-luật sư-chính khách-phi công có dòng máu lạnh lẽo nhất và ngạo mạn nhất trong mọi vệ tinh của Windrip, ấy thế mà trong chiến dịch tranh cử lại mê hoặc được thợ mỏ cùng ngư dân. Ông ta là một con đại bàng tung cánh mạnh mẽ, thích thịt còn đẫm máu. Còn trên cương vị Ủy viên Khu 3—Vermont và New Hampshire—lại xuất hiện, khiến Doremus vừa khinh bỉ vừa điên tiết, không ai khác ngoài John Sullivan Reek, kẻ áo mão ra vẻ nhất trong đám áo mão ra vẻ, cái bị hơi phồng nhất trong mọi cái bị hơi, tay chính khách bộ máy dễ sai bảo nhất miền bắc New England; một cựu thống đốc Đảng Cộng hòa đã hồng hào hóa thành một thành viên Liên đoàn trong bình chưng cất lòng yêu nước của Windrip.
Chưa từng có ai buồn khúm núm trước Ngài J. S. Reek đáng kính, ngay cả khi ông ta còn làm Thống đốc. Tay dân biểu nhà quê còm cõi nhất cũng gọi ông ta là “Johnny” ngay trong dinh thống đốc (mười hai phòng và mái dột); còn phóng viên trẻ nhất thì oang oang: “Nào, hôm nay cựu Thống đốc lại phun ra thứ nhảm nhí gì đấy?”
Chính Ủy viên Reek này đã triệu tập tất cả các chủ bút trong khu đến gặp ông ta tại dinh thự phó vương mới ở Thư viện Dartmouth, để tiếp nhận thông tin đặc quyền quý giá về lòng ngưỡng mộ mà Tổng thống Windrip cùng các ủy viên cấp dưới dành cho các quý ông báo giới.
Trước khi lên đường dự cuộc họp báo ở Hanover, Doremus nhận từ Sissy một “bài thơ”—ít nhất cô gọi nó như thế—do cô, Buck Titus, Lorinda Pike và Julian Falck nhọc nhằn sáng tác vào lúc đêm khuya trong trang viên kiên cố của Buck:
Gặp Reek, cúi mình, Gặp Haik, giả tình. Một vần với lén lút, Một vần với rắn tinh. Haik, mỏ nhọn hoắt, Đang kiếm chác linh đình, Còn Sullivan Reek— Ôi Chúa ơi!
“Dù sao thì Windrip cũng đã cho mọi người có việc làm. Và ông ấy đã dẹp hết những tấm biển quảng cáo chướng mắt khỏi các xa lộ—tốt hơn nhiều cho ngành du lịch,” tất cả các chủ bút già đều nói, kể cả những người tự hỏi liệu Tổng thống có lẽ hơi chuyên quyền một chút chăng.
Trên đường lái xe tới Hanover, Doremus trông thấy hàng trăm tấm biển quảng cáo khổng lồ bên đường. Nhưng trên đó chỉ có lời tuyên truyền cho Windrip, phía dưới ghi “với lời kính tặng của một hãng trung thành” và—bằng chữ thật lớn—“Thuốc lá Montgomery” hoặc “Xà phòng chân Jonquil.” Trong quãng đi bộ ngắn từ chỗ đậu xe tới khuôn viên cũ của Dartmouth, có đến ba người khác nhau lẩm bẩm với ông: “Cho tôi năm xu uống tách cà phê đi, ông chủ—một thằng Chuột Minnie cướp mất việc tôi, mà bọn Chuột không chịu nhận tôi—chúng bảo tôi già quá rồi.” Nhưng đó có thể là lời tuyên truyền từ Moscow.
Trên hàng hiên dài của Hanover Inn, các sĩ quan Minute Men đang ngả mình trên ghế bố, đôi ủng gắn đinh thúc ngựa (trong toàn bộ tổ chức M.M. không hề có kỵ binh) gác lên lan can.
Doremus đi qua một tòa nhà khoa học, trước cửa chất một đống dụng cụ thủy tinh phòng thí nghiệm vỡ nát; trong một phòng thí nghiệm đã bị vét sạch, ông trông thấy một tiểu đội M.M. đang thao luyện.
Ủy viên Khu John Sullivan Reek âu yếm tiếp các chủ bút trong một phòng học.... Những ông già vốn quen được tôn kính như các bậc tiên tri, giờ lo âu ngồi trên những chiếc ghế nhỏ nhặt, đối diện một gã béo mặc quân phục chỉ huy M.M., miệng hút một điếu xì gà chẳng có vẻ nhà binh chút nào, bàn tay mềm nhẽo vẫy lời chào.
Reek chỉ mất chưa đầy một giờ để trình bày điều mà người thông minh nhất cũng phải mất năm sáu giờ—nghĩa là năm phút để nói, còn gần trọn năm giờ kia để hồi phục sau cơn buồn nôn vì buộc phải thốt ra thứ nhảm nhí trơ trẽn đến vậy.... Tổng thống Windrip, Bộ trưởng Ngoại giao Sarason, Ủy viên Tỉnh Haik và chính ông ta, John Sullivan Reek, tất cả đều đang bị Đảng Cộng hòa, phái Jefferson, những người Cộng sản, nước Anh, Đức Quốc xã, và có lẽ cả ngành đay lẫn ngành cá trích xuyên tạc; điều chính phủ mong muốn là bất kỳ phóng viên nào cũng có thể đến gặp bất kỳ thành viên nào của Chính quyền này, đặc biệt là Ủy viên Reek, vào bất cứ lúc nào—có lẽ trừ khoảng từ ba đến bảy giờ sáng—để “nắm được sự tình chân thực.”
Bấy giờ, Ngài Reek công bố: “Và giờ đây, thưa các quý ông, tôi xin tự ban cho mình đặc ân được giới thiệu với quý vị cả bốn vị Ủy viên Hạt, những người mới được lựa chọn hôm qua. Có lẽ mỗi vị ở đây đều đích thân quen biết ủy viên hạt mình, nhưng tôi muốn quý vị hiểu biết thân mật và hợp tác với cả bốn người, bởi dù họ là ai, họ cũng cùng tôi chia sẻ lòng ngưỡng mộ không gì dập tắt nổi đối với báo giới.”
Bốn vị Ủy viên Hạt, khi lần lượt lê bước vào phòng và được giới thiệu, đối với Doremus có vẻ là một nhóm khá kỳ quặc: Một luật sư xác xơ, nổi tiếng vì những câu trích dẫn Shakespeare và Robert W. Service hơn là vì sự sắc sảo trước bồi thẩm đoàn. Ông ta hói sáng loáng, ngoại trừ một dúm tóc màu gỉ sắt đã phai lởm chởm, nhưng người ta có cảm giác rằng, nếu được hưởng đúng quyền lợi của mình, ông ta hẳn phải có một mái tóc bồng bềnh của diễn viên bi kịch năm 1890.
Một mục sư hiếu chiến, nổi danh vì những cuộc đột kích vào các quán rượu ven đường.
Một công nhân khá rụt rè, một người vô sản chính hiệu, có vẻ ngạc nhiên khi thấy mình ở đó. (Một tháng sau, ông ta được thay bằng một chuyên gia nắn xương được lòng dân, có hứng thú với chính trị và chủ nghĩa ăn chay.)
Vị quan chức thứ tư bước vào và âu yếm cúi chào các chủ bút là một người đàn ông hộ pháp, trông đầy uy thế trong bộ quân phục tiểu đoàn trưởng Minute Men; được giới thiệu là Ủy viên miền bắc Vermont, hạt của Doremus Jessup, ấy chính là ông Oscar Ledue, trước kia được biết đến với cái tên “Shad.”
Ông Reek gọi hắn là “Đại úy” Ledue. Doremus nhớ rằng trước khi Windrip đắc cử, thành tích quân ngũ duy nhất của Shad là làm một binh nhì trong Lực lượng Viễn chinh Hoa Kỳ, chưa bao giờ đi xa hơn một trại huấn luyện trên đất Mỹ, và trải nghiệm chiến đấu dữ dội nhất của hắn là nện một hạ sĩ khi đang say rượu.
“Ông Jessup,” Ngài Reek đáng kính tíu tít, “tôi đoán hẳn ông đã gặp Đại úy Ledue—ông ấy xuất thân từ thành phố duyên dáng của ông mà.”
“Ờ-ờ-ờ,” Doremus nói.
“Dĩ nhiên,” Đại úy Ledue nói. “Tôi đã gặp lão Jessup rồi, đúng thế, đúng thế! Lão chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì cả. Lão chẳng biết điều sơ đẳng nhất về nền kinh tế của cuộc Cách mạng xã hội của chúng ta. Lão là một tay Sô-vanh. Nhưng lão già gàn ấy cũng không đến nỗi tệ, và tôi sẽ để lão yên chừng nào lão còn biết điều!”
“Tuyệt vời!” Ngài Reek Đáng kính nói.