Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 17
Chương 17 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây
Cũng như thịt bò bít-tết và khoai tây chắc dạ ngay cả khi ta làm việc đến vắt kiệt đầu óc, lời Sách Thánh cũng ở bên ta giữa lúc hoang mang và hoạn nạn. Nếu có ngày tôi giữ địa vị cao sang trên toàn dân, tôi mong các vị bộ trưởng của mình sẽ trích sách Các Vua II, 18; 31 & 32: “Hãy ra cùng ta, rồi mỗi người sẽ ăn trái nho từ cây nho mình, trái vả từ cây vả mình, và uống nước từ giếng mình, cho đến khi ta đến đưa các ngươi sang một xứ sở của ngũ cốc và rượu vang, một xứ sở của bánh mì và vườn nho, một xứ sở của dầu ôliu và mật ong, để các ngươi được sống chứ không phải chết.”
Giờ Số Không, Berzelius Windrip.
Bất chấp những đòi hỏi của Montpelier, thủ phủ cũ của Vermont, và Burlington, thành phố lớn nhất bang, Đại úy Shad Ledue vẫn chọn Fort Beulah làm trung tâm hành chính của Hạt B, một hạt được ghép từ chín hạt cũ ở miền bắc Vermont. Doremus chẳng bao giờ xác định được liệu nguyên do có phải, như Lorinda Pike quả quyết, là vì Shad thông đồng với chủ ngân hàng R. C. Crowley để kiếm lời từ việc chính quyền mua lại những căn nhà cũ gần như vô dụng làm một phần tổng hành dinh của hắn, hay vì một mục đích còn xác đáng hơn: phô trương trước những chiến hữu xưa kia từng cùng hắn chơi bi-a và uống rượu táo mạnh, cùng đám “trưởng giả” có những bãi cỏ hắn từng xén thuê, trong bộ quân phục chỉ huy tiểu đoàn với hai chữ “C.C.” nằm dưới ngôi sao năm cánh trên cổ áo.
Ngoài những căn nhà bị kết án là không còn đủ điều kiện sử dụng, Shad còn chiếm trọn tòa án cũ của Hạt Scotland và đặt văn phòng riêng trong phòng làm việc của thẩm phán; hắn chỉ việc quẳng hết sách luật ra ngoài, thay vào đó bằng những chồng tạp chí chuyên về điện ảnh và điều tra tội phạm, treo chân dung Windrip, Sarason, Haik và Reek, kê hai chiếc ghế bành sâu bọc nhung xanh độc địa (đặt mua tại cửa hàng của Charley Betts trung thành, nhưng lại ghi nợ cho chính phủ thanh toán vào một ngày nào đó, nếu ngày ấy có đến—khiến Betts tức điên), và tăng gấp đôi số ống nhổ của ngành tư pháp.
Trong ngăn kéo trên cùng ở giữa bàn giấy, Shad cất một tấm ảnh chụp tại trại khỏa thân, một bình rượu Benedictine, một khẩu súng lục ổ quay cỡ .44 và một chiếc roi quất chó.
Tùy theo dân số, mỗi ủy viên hạt được phép có từ một đến mười hai phụ tá. Doremus Jessup hoảng hốt khi phát hiện Shad đã đủ khôn ngoan để chọn làm phụ tá những kẻ có đôi chút học vấn và ra vẻ biết cung cách, trong đó “Giáo sư” Emil Staubmeyer giữ chức Phó ủy viên Hạt phụ trách Thị trấn Beulah, bao gồm các làng Fort Beulah, West Beulah, North Beulah, Beulah Center, Trianon, Hosea và Keezmet.
Shad đã chẳng cần đến lưỡi lê mà vẫn trở thành đại úy, thì ông Staubmeyer (tác giả tập Hitler và những bài thơ đam mê—chưa xuất bản) cũng nghiễm nhiên trở thành tiến sĩ.
Có lẽ, Doremus nghĩ, ông sẽ hiểu Windrip & Đồng bọn rõ hơn khi nhìn thấy hình ảnh lờ mờ của chúng phản chiếu qua Shad và Staubmeyer, thay vì giữa ánh sáng chói lòa hỗn loạn của Washington; và nhờ đó hiểu rằng một Buzz Windrip—một Bismarck—một Cæsar—một Pericles—cũng chẳng khác gì phần nhân loại còn lại, vẫn ngứa ngáy, khó tiêu và đầy khát vọng, ngoại trừ việc mỗi vị anh hùng ấy đều tham vọng hơn và sẵn lòng giết người hơn.
Đến tháng Sáu, quân số Minute Men đã tăng lên 562.000, và giờ đây lực lượng này chỉ nhận thêm những nhà ái quốc đáng tin cậy và những tay giỏi đấm đá mà họ ưng ý. Bộ Chiến tranh công khai cho họ không chỉ “tiền chi phí” mà còn cả lương, từ mười đôla một tuần cho các “thanh tra viên” chỉ phải bỏ ra vài giờ mỗi tuần để luyện tập, đến 9.700 đôla một năm cho các “lữ đoàn trưởng” làm toàn thời gian, và 16.000 đôla cho Đại nguyên soái Lee Sarason... may thay, chẳng hề ảnh hưởng đến tiền lương từ những trọng trách khác của ông ta.
Các cấp bậc của M.M. gồm: thanh tra viên, ít nhiều tương đương binh nhì; đội trưởng, tức hạ sĩ; hiệu úy kèn, tức trung sĩ; thiếu úy cầm cờ, tức trung úy; chỉ huy tiểu đoàn, kết hợp cả đại úy, thiếu tá và trung tá; tư lệnh, tức đại tá; lữ đoàn trưởng, tức tướng; đại nguyên soái, tức tổng tư lệnh. Những kẻ hay giễu cợt cho rằng các danh hiệu đáng kính này bắt nguồn từ Đội quân Cứu thế nhiều hơn là từ quân đội chiến đấu, nhưng lời chế nhạo rẻ tiền ấy có chính đáng hay không thì sự thật vẫn là một tên nô lệ M.M. kiêu hãnh hơn biết bao khi được gọi là “thanh tra viên”—một danh xưng khiến người ta kính sợ trong mọi giới cảnh sát—thay vì “binh nhì”.
Vì mọi thành viên Vệ binh Quốc gia không những được phép mà còn được khuyến khích đồng thời gia nhập Minute Men, vì mọi cựu binh Đại chiến đều được hưởng đặc quyền, và vì “Đại tá” Osceola Luthorne, Bộ trưởng Chiến tranh, rất hào phóng cho Bộ trưởng Ngoại giao Sarason mượn sĩ quan chính quy làm huấn luyện viên cho M.M., nên một đạo quân mới ra đời lại có một tỷ lệ binh sĩ được huấn luyện cao đến đáng ngạc nhiên.
Bằng những số liệu thống kê từ cuộc Đại chiến, Lee Sarason đã chứng minh cho Tổng thống Windrip thấy rằng giáo dục đại học, thậm chí cả việc nghiên cứu những nỗi kinh hoàng của các cuộc xung đột khác, không hề làm suy yếu nam tính của sinh viên, mà thực ra còn khiến họ yêu nước hơn, hăng hái phất cờ hơn và thành thạo việc chỉ đạo tàn sát hơn thanh niên bình thường; và đến mùa thu sắp tới, gần như mọi trường đại học trong nước đều sẽ có một tiểu đoàn M.M. riêng, với môn thao luyện được tính tín chỉ tốt nghiệp. Sinh viên đại học sẽ được đào tạo làm sĩ quan. Một nguồn sĩ quan M.M. tuyệt vời khác là các phòng thể dục và các lớp Quản trị Kinh doanh của Hội Thanh niên Cơ Đốc.
Tuy nhiên, phần đông binh lính thường là những nông dân trẻ khoái chí vì có cơ hội lên phố và phóng ôtô nhanh tùy thích; những công nhân nhà máy trẻ thích quân phục và quyền đá các công dân cao tuổi hơn là mặc quần yếm rồi còng lưng bên máy móc; cùng một số khá đông cựu tội phạm, cựu buôn rượu lậu, cựu trộm cắp, cựu lưu manh công đoàn—những kẻ, nhờ tài sử dụng súng và dùi cui da, cùng lời cam đoan rằng uy quyền của Ngôi Sao Năm Cánh đã hoàn toàn cải hóa chúng, được tha thứ cho những sai lầm đạo đức thuở trước và được nồng nhiệt đón nhận vào Đội quân Xung kích M.M.
Người ta kể rằng một trong những đứa con lầm lạc hèn mọn nhất ấy chính là nhà ái quốc đầu tiên gọi Tổng thống Windrip là “Lãnh tụ”—với hàm ý Führer, hay Đại Pháp sư của K.K.K., hay Il Duce, hay Đại Quyền uy Hoàng gia của Hội Thánh địa Huyền bí, hay Đề đốc, hay Huấn luyện viên Đại học, hay bất cứ thứ gì cao quý và nhân từ tột bậc khác. Thế là vào dịp kỷ niệm huy hoàng ngày 4 tháng Bảy năm 1937, hơn năm trăm nghìn cảnh binh tự phong trẻ tuổi mặc quân phục, rải khắp các thành phố từ Guam đến Bar Harbor, từ Point Barrow đến Key West, đứng ở tư thế nghỉ trong đội hình và hát vang như đoàn thiên thần sáu cánh hợp xướng:
“Buzz, Buzz, hoan hô Lãnh tụ, Cùng ngôi sao năm cá-ánh của ngài, Hoa Kỳ chẳng thể suy vong, Khi chúng ta sẵn sàng chinh chiế-ến.”
Một số đầu óc hay phê phán cảm thấy phiên bản điệp khúc “Buzz và Buzz” này, nay đã trở thành bài ca chính thức của M.M., có phần thô vụng, cho thấy nó thiếu bàn tay tinh tế của Adelaide Tarr Gimmitch. Nhưng chẳng thể làm gì được. Nghe đâu bà ta đang ở Trung Quốc tổ chức các chiến dịch thư dây chuyền. Và ngay khi nỗi bất an ấy vẫn còn bao trùm M.M., đòn sét đánh đã giáng xuống vào chính ngày hôm sau.
Một người nào đó trong ban tham mưu của Đại nguyên soái Sarason nhận ra rằng biểu tượng của Liên bang Xô viết không phải ngôi sao sáu cánh mà là ngôi sao năm cánh, giống hệt của Hoa Kỳ, thành thử họ chẳng hề xúc phạm người Xô viết chút nào.
Khắp nơi đều kinh hoàng. Từ văn phòng Sarason phát ra lời quở trách nảy lửa nhắm vào tên ngốc vô danh đầu tiên phạm sai lầm ấy (người ta nói chung đều tin đó là Lee Sarason), cùng mệnh lệnh buộc mọi thành viên M.M. phải đề xuất một biểu tượng mới. Suốt ba ngày đêm, các doanh trại M.M. náo loạn vì điện tín, điện thoại, thư từ và áp phích; hàng nghìn thanh niên ngồi với bút chì và thước kẻ, nghiêm túc vẽ ra hàng vạn hình thay thế ngôi sao năm cánh: hình tròn trong tam giác, tam giác trong hình tròn, ngũ giác, lục giác, alpha và omega, đại bàng, phi cơ, tên, bom nổ giữa trời, bom nổ trong bụi rậm, dê đực, tê giác và Thung lũng Yosemite. Tin đồn lan ra rằng một thiếu úy cầm cờ trẻ tuổi trong ban tham mưu của Đại nguyên soái Sarason, vì quá đau đớn trước sai lầm ấy, đã tự sát. Ai nấy đều cho rằng màn mổ bụng này là một ý hay, chứng tỏ những thành viên M.M. ưu tú vẫn còn biết liêm sỉ; và họ tiếp tục nghĩ thế ngay cả sau khi sự thật lộ ra rằng viên thiếu úy chỉ say bí tỉ tại Câu lạc bộ Cờ thỏ cáo Buzz rồi nói chuyện tự sát mà thôi.
Cuối cùng, bất chấp vô số đối thủ, chính nhà thần bí vĩ đại Lee Sarason đã tìm ra biểu tượng mới hoàn hảo—một bánh lái tàu thủy.
Ông ta chỉ rõ rằng nó không chỉ tượng trưng cho Con tàu Quốc gia mà còn cho các bánh xe của nền công nghiệp Hoa Kỳ, các bánh xe và vô-lăng ôtô, sơ đồ hình bánh xe mà Cha Coughlin đã đề xuất hai năm trước làm biểu tượng cho chương trình của Liên minh Quốc gia vì Công bằng Xã hội, và đặc biệt là biểu tượng bánh xe của Câu lạc bộ Rotary.
Bản tuyên cáo của Sarason còn chỉ ra rằng sẽ không quá khiên cưỡng nếu khẳng định rằng, chỉ cần gia công đôi chút, những cánh chữ thập ngoặc chắc chắn có thể được xem là có liên hệ với hình tròn; còn ba chữ K của Ku Klux Klan thì sao? Ba chữ K hợp thành một tam giác, chẳng phải ư? Mà ai cũng biết tam giác có liên hệ với hình tròn.
Bởi vậy, đến tháng Chín, trong các cuộc tuần hành Ngày Trung thành (thay thế Ngày Lao động), cũng đoàn thiên thần sáu cánh rải khắp ấy lại hát:
“Buzz, Buzz, hoan hô Lãnh tụ, Cùng bánh lái huyền bí-í của ngài, Hoa Kỳ chẳng thể suy vong, Khi chúng ta bảo vệ phúc lợ-ợi nước nhà.”
Giữa tháng Tám, Tổng thống Windrip tuyên bố rằng, vì mọi mục tiêu của Liên đoàn Những người Bị Lãng quên đều đang được hoàn thành, tổ chức ấy (do một mục sư tên Prang sáng lập, người trong bản tuyên cáo chỉ được nhắc đến như một nhân vật thuộc về quá khứ) nay chính thức giải thể. Mọi chính đảng cũ cũng vậy—Đảng Dân chủ, Đảng Cộng hòa, Đảng Nông dân–Lao động hay bất kỳ đảng nào khác. Từ nay chỉ có một đảng: Đảng Nhà nước Hợp đoàn và Ái quốc Hoa Kỳ—không! Tổng thống nói thêm với phần nào tính khôi hài thuở trước: “Có hai đảng: đảng Hợp đoàn và những kẻ hoàn toàn không thuộc đảng nào, mà nói theo cách thông thường thì chúng chỉ có nước chịu xui xẻo!”
Ý tưởng về Nhà nước Hợp đoàn, hay Nhà nước Nghiệp đoàn, ít nhiều đã được Bộ trưởng Sarason lấy từ nước Ý. Mọi ngành nghề được chia thành sáu loại: nông nghiệp; công nghiệp; thương mại; vận tải và truyền thông; ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư; cùng một loại tạp nham bao gồm nghệ thuật, khoa học và giáo dục. Liên đoàn Lao động Hoa Kỳ, các Nghiệp đoàn Đường sắt và mọi tổ chức lao động khác, cùng Bộ Lao động Liên bang, đều bị thay thế bằng các Nghiệp đoàn địa phương gồm những người lao động riêng lẻ; bên trên là các Liên hiệp Tỉnh, tất cả đều đặt dưới sự chỉ đạo của chính phủ. Song song với chúng trong mỗi ngành nghề là các Nghiệp đoàn và Liên hiệp của giới chủ. Cuối cùng, sáu Liên hiệp của người lao động và sáu Liên hiệp của giới chủ được hợp nhất thành sáu Hợp đoàn liên bang chung, bầu ra hai mươi bốn thành viên Hội đồng Hợp đoàn Quốc gia, cơ quan khởi xướng hoặc giám sát mọi đạo luật liên quan đến lao động hay kinh doanh.
Hội đồng Quốc gia này có một chủ tịch thường trực, nắm lá phiếu quyết định và quyền điều hành mọi cuộc tranh luận theo ý mình; nhưng ông ta không do bầu cử—mà do Tổng thống bổ nhiệm; và người đầu tiên giữ chức vụ này (mà không ảnh hưởng đến những nhiệm vụ khác của mình) là Bộ trưởng Ngoại giao Lee Sarason. Chỉ nhằm bảo vệ quyền tự do của giới Lao động, vị chủ tịch này có quyền bãi nhiệm bất kỳ thành viên vô lý nào của Hội đồng Quốc gia.
Mọi cuộc đình công và đóng cửa nhà máy đều bị cấm, ai vi phạm sẽ chịu hình phạt liên bang, để công nhân nghe theo những đại diện biết điều của chính phủ chứ không phải những kẻ kích động vô lương tâm.
Những người theo Windrip tự gọi mình là phe Hợp đoàn, hay gọi thân mật là “Corpo”; biệt danh này được dùng phổ biến.
Những kẻ xấu miệng gọi các Corpo là “xác chết”. Nhưng họ chẳng giống xác chết chút nào. Danh xưng ấy, càng ngày càng đúng hơn, phải dành cho những kẻ thù của họ mới phải.
Mặc dù các Corpo vẫn tiếp tục hứa tặng mỗi gia đình ít nhất 5.000 đôla, “ngay khi hoàn tất việc huy động vốn cho đợt phát hành trái phiếu cần thiết”, công việc thực tế là quản lý người nghèo—đặc biệt những người nghèo cứng đầu và bất mãn hơn—được giao cho Minute Men đảm trách.
Giờ đây có thể công bố với toàn thế giới—và dứt khoát là người ta đã công bố—rằng dưới triều đại nhân từ của Tổng thống Berzelius Windrip, nạn thất nghiệp gần như đã biến mất. Gần như mọi người đàn ông không có việc làm đều được tập trung vào những trại lao động khổng lồ đặt dưới quyền các sĩ quan M.M. Vợ con đi theo họ và lo việc nấu nướng, quét dọn, vá quần áo. Những người đàn ông không chỉ làm việc trong các công trình của nhà nước; họ còn được cho các chủ tư nhân thuê với mức giá hợp lý một đôla mỗi ngày. Dĩ nhiên, ngay cả tại chốn Utopia, bản tính con người vẫn ích kỷ đến nỗi chuyện này khiến phần lớn giới chủ sa thải những công nhân mà trước đó họ phải trả hơn một đôla mỗi ngày; nhưng vấn đề tự nó giải quyết được, bởi đến lượt những kẻ bất mãn được trả lương quá cao ấy cũng bị cưỡng bức vào các trại lao động.
Từ đồng lương một đôla mỗi ngày, công nhân trong trại phải trả từ bảy mươi đến chín mươi xu tiền ăn ở.
Trong số những người từng sở hữu ôtô và phòng tắm, từng ăn thịt hai bữa mỗi ngày, đã nảy sinh đôi chút bất mãn khi nay họ phải đi bộ mười hoặc hai mươi dặm một ngày, mỗi tuần tắm một lần cùng năm mươi người khác trong một máng dài, chỉ được ăn thịt hai lần mỗi tuần—nếu có thịt—và ngủ trên giường tầng, mỗi phòng một trăm người. Thế nhưng sự phản kháng vẫn ít hơn mức một kẻ duy lý thuần túy như Walt Trowbridge, đối thủ bị Windrip đánh bại một cách tức cười, hẳn đã dự liệu; bởi mỗi tối, loa phóng thanh đem đến cho công nhân những giọng nói quý báu của Windrip và Sarason, Phó tổng thống Beecroft, Bộ trưởng Chiến tranh Luthorne, Bộ trưởng Giáo dục và Tuyên truyền Macgoblin, Tướng Coon hoặc một thiên tài nào khác; và các vị thần Olympus ấy, nói chuyện với những kẻ cùng đinh bẩn thỉu nhất, mệt mỏi nhất bằng giọng nồng hậu giữa bạn bè với nhau, bảo rằng họ chính là những viên đá nền móng đáng kính của một Nền Văn minh Mới, là đội tiên phong trong công cuộc chinh phục toàn thế giới.
Họ cũng đón nhận điều ấy như binh lính của Napoléon. Và họ có người Do Thái cùng người da đen để ngày càng thêm khinh miệt. M.M. đã bảo đảm chuyện đó. Người nào cũng là vua, miễn là còn có kẻ cho hắn nhìn xuống.
Mỗi tuần, chính phủ lại nói ít đi về những phát hiện của ủy ban điều tra có nhiệm vụ quyết định xem làm cách nào xoay xở được khoản 5.000 đôla cho mỗi người. Đối phó với những kẻ bất mãn bằng một cú tát của Minute Men đã trở nên dễ dàng hơn việc đưa ra những tuyên bố lặp đi lặp lại từ Washington.
Nhưng phần lớn những điều khoản trong cương lĩnh của Windrip quả thực đã được thực hiện—nếu diễn giải chúng một cách hợp lý. Chẳng hạn như lạm phát.
Ở nước Mỹ thời kỳ này, lạm phát thậm chí còn không thể sánh với cuộc lạm phát ở Đức những năm 1920, nhưng thế cũng đã đủ. Tiền công trong các trại lao động phải tăng từ một đô-la mỗi ngày lên ba đô-la, số tiền ấy tương đương với sáu mươi xu một ngày theo giá trị năm 1914. Ai nấy đều vui vẻ hưởng lợi, ngoại trừ những người cùng khổ nhất, công nhân phổ thông, công nhân lành nghề, các tiểu thương, giới chuyên môn, và những cặp vợ chồng già sống bằng niên kim hoặc tiền dành dụm—những người sau cùng này quả có khổ sở đôi chút, vì thu nhập của họ bị cắt xuống còn một phần ba. Công nhân, với mức lương bề ngoài đã tăng gấp ba, thấy giá mọi thứ trong cửa hàng còn tăng hơn gấp ba rất nhiều.
Nông nghiệp, ngành lẽ ra phải được lợi hơn hết từ lạm phát, theo lý thuyết rằng giá nông sản vốn biến động sẽ tăng nhanh hơn mọi thứ khác, trên thực tế lại chịu thiệt hại nặng nề nhất, bởi sau một đợt mua hàng rầm rộ ban đầu từ nước ngoài, các nhà nhập khẩu sản phẩm Mỹ nhận thấy không thể nào giao dịch trong một thị trường thất thường đến thế, và hàng thực phẩm xuất khẩu của Mỹ—những gì còn sót lại—hoàn toàn ngừng hẳn.
Chính Đại Tư bản, con rồng cổ xưa mà Giám mục Prang và Thượng nghị sĩ Windrip đã lên đường tiêu diệt, mới được trải qua những ngày thú vị.
Vì giá trị đồng đô-la thay đổi từng ngày, những hệ thống định giá thành và tín dụng công phu của Đại Tư bản rối loạn đến mức các chủ tịch và giám đốc bán hàng phải ngồi trong văn phòng quá nửa đêm, khăn ướt quấn quanh đầu. Nhưng họ cũng được an ủi phần nào, bởi nhờ đồng đô-la mất giá, họ có thể thu hồi toàn bộ khoản nợ trái phiếu và, thanh toán theo mệnh giá cũ, xóa được chúng với giá ba mươi xu trên mỗi đô-la. Nhờ thế, lại thêm đồng tiền chao đảo đến mức người làm công không biết chính xác mình đáng được nhận bao nhiêu tiền lương, và các công đoàn đã bị loại bỏ, những nhà đại công nghiệp vượt qua thời kỳ lạm phát với khối tài sản, tính theo giá trị thực, có lẽ gấp đôi những gì họ từng có vào năm 1936.
Và hai điều khoản khác trong thông điệp của Windrip được tuân thủ hết sức nghiêm chỉnh là loại bỏ người da đen và bảo trợ người Do Thái.
Chủng tộc thứ nhất đón nhận việc ấy kém vui vẻ hơn. Đã xảy ra những vụ khủng khiếp, trong đó toàn bộ những hạt miền Nam có đa số dân là người da đen bị người da đen tràn ngập và mọi tài sản đều bị chiếm đoạt. Đúng là các lãnh tụ của họ quả quyết rằng chuyện ấy xảy ra sau những vụ Minute Men tàn sát người da đen. Nhưng như Tiến sĩ Macgoblin, Bộ trưởng Văn hóa, đã nói rất chí lý, toàn bộ đề tài này thật khó chịu, vì vậy đem ra bàn luận chẳng ích lợi gì.
Trên khắp đất nước, tinh thần chân chính của Điều khoản Chín của Windrip về người Do Thái được thi hành trung thành. Mọi người đều hiểu rằng người Do Thái không còn bị cấm vào những khách sạn sang trọng như trong thời kỳ kỳ thị chủng tộc ghê tởm trước kia, mà chỉ phải trả giá gấp đôi. Mọi người đều hiểu rằng người Do Thái tuyệt nhiên không bị ngăn cản kinh doanh, mà chỉ phải đút lót nhiều hơn cho các ủy viên và thanh tra, đồng thời không được tranh cãi mà phải chấp nhận mọi quy định, mức lương và bảng giá do những người Anglo-Saxon trong sạch của các hiệp hội thương gia khác nhau quyết định. Và mọi người Do Thái, thuộc mọi tầng lớp, đều phải thường xuyên cất lời bày tỏ niềm ngây ngất vì đã tìm thấy một chốn dung thân ở Mỹ, sau những trải nghiệm đáng buồn của họ giữa các thành kiến tại châu Âu.
Ở Fort Beulah, Louis Rotenstern, vì xưa nay luôn là người đầu tiên đứng lên ủng hộ những bản quốc ca chính thức cũ, “The Star-Spangled Banner” hoặc “Dixie,” và giờ đây là “Buzz and Buzz,” vì từ lâu đã được Francis Tasbrough và R. C. Crowley coi gần như một người bạn đích thực, và vì ông thường vui vẻ là miễn phí chiếc quần diện ngày Chủ nhật cho Shad Ledue thuở gã còn chưa được ai biết đến, nên được phép giữ lại hiệu may, tuy ai cũng hiểu rằng ông chỉ được tính cho các thành viên M.M. mức giá có tính tượng trưng, hoặc chỉ bằng một phần tư giá tượng trưng.
Nhưng có một Harry Kindermann, người Do Thái đã kiếm lời khá hậu hĩnh trong nghề đại lý đường phong và máy móc ngành sữa, đến mức năm 1936 đang trả kỳ cuối cho căn nhà gỗ mới và chiếc Buick của mình, thì xưa nay vẫn là kẻ mà Shad Ledue gọi là “một thằng Do Thái láo xược.” Y từng chế nhạo quốc kỳ, Giáo hội, và cả Rotary. Giờ y thấy các nhà sản xuất hủy quyền đại lý của mình mà không một lời giải thích.
Đến giữa năm 1937, y phải bán xúc xích frankfurter bên đường, còn vợ y, người từng vô cùng tự hào về cây đàn dương cầm và chiếc tủ gỗ thông cổ kiểu Mỹ trong căn nhà gỗ của họ, đã chết vì bệnh viêm phổi mắc phải trong túp lều một phòng lợp giấy dầu mà họ phải dọn đến ở.
Vào thời điểm Windrip đắc cử, các chính quyền liên bang và địa phương ở Mỹ đã thuê hơn 80.000 nhân viên quản lý cứu trợ. Khi các trại lao động thu nhận phần lớn những người sống nhờ cứu trợ, đạo quân nhân viên xã hội này, gồm cả những tay nghiệp dư lẫn các nhà cải hóa xã hội chuyên nghiệp được đào tạo lâu năm, bỗng mắc cạn.
Các Minute Men kiểm soát trại lao động tỏ ra hào phóng: họ đề nghị trả cho những nhà từ thiện đúng một đô-la mỗi ngày như giới vô sản, kèm mức phí ăn ở đặc biệt thấp. Nhưng những nhân viên xã hội khôn ngoan hơn nhận được một đề nghị tốt hơn nhiều: giúp lập danh sách mọi gia đình và mọi người chưa kết hôn trong nước, kèm theo tình hình tài chính, năng lực chuyên môn, trình độ huấn luyện quân sự và—điều quan trọng nhất, cũng là điều phải dò hỏi khéo léo nhất—ý kiến thầm kín của người ấy về M.M. và về các Corpo nói chung.
Khá nhiều nhân viên xã hội phẫn nộ nói rằng như thế là bắt họ làm gián điệp, làm chỉ điểm cho Ô Gay Pay Oo của Mỹ. Với đủ thứ cáo buộc chẳng quan trọng, những người này bị tống vào nhà tù hoặc, về sau, vào các trại tập trung—cũng là nhà tù, nhưng là nhà tù riêng của M.M., không bị trói buộc bởi bất kỳ quy định nhà tù cổ lỗ, vô nghĩa nào.
Trong cảnh hỗn loạn của mùa hè và đầu mùa thu năm 1937, các sĩ quan M.M. địa phương tha hồ tự đặt luật lệ; và những kẻ phản bội bẩm sinh, chỉ giỏi kêu ca như các bác sĩ Do Thái, nhạc sĩ Do Thái, nhà báo da đen, giáo sư đại học theo chủ nghĩa xã hội, những thanh niên thích đọc sách hoặc nghiên cứu hóa học hơn là phụng sự đầy nam tính trong hàng ngũ M.M., những phụ nữ than phiền khi người đàn ông của mình bị M.M. bắt đi rồi mất tích, ngày càng thường xuyên bị đánh đập ngoài đường hoặc bị bắt với những tội danh mà các luật gia thời tiền Corpo hẳn chẳng mấy quen thuộc.
Và ngày càng nhiều phần tử phản cách mạng tư sản bắt đầu trốn sang Canada; hệt như một thuở, qua “đường sắt ngầm,” những người nô lệ da đen đã chạy thoát đến bầu không khí tự do phương Bắc ấy.
Tại Canada, cũng như tại Mexico, Bermuda, Jamaica, Cuba và châu Âu, những tên tuyên truyền Đỏ dối trá này bắt đầu xuất bản những tờ tạp chí nhỏ đê tiện nhất, cáo buộc các Corpo tiến hành khủng bố giết người—nào là một toán sáu tên M.M. đã đánh đập một giáo sĩ Do Thái già rồi cướp của ông; nào là biên tập viên một tờ báo lao động nhỏ ở Paterson đã bị trói vào máy in và bỏ mặc ở đó trong khi M.M. thiêu rụi nhà in; nào là cô con gái xinh đẹp của một cựu chính khách đảng Nông dân–Lao động tại Iowa đã bị những gã trai trẻ đeo mặt nạ vừa cười khúc khích vừa cưỡng hiếp.
Để chấm dứt cuộc tháo chạy hèn nhát của những kẻ phản cách mạng dối trá này (trong số đó nhiều kẻ, từng được thừa nhận là những mục sư, luật sư, bác sĩ, nhà văn, cựu nghị sĩ Quốc hội và cựu sĩ quan quân đội đáng kính, có thể gieo cho thế giới bên ngoài nước Mỹ một ấn tượng sai lệch đầy ác ý về chủ nghĩa Corpo và M.M.), chính phủ tăng gấp bốn lực lượng canh gác chặn xét kẻ tình nghi tại mọi hải cảng và ngay cả những đường mòn nhỏ nhất vượt biên giới; rồi trong một cuộc đột kích thần tốc, chính phủ tràn lính xung kích M.M. vào tất cả sân bay, tư nhân lẫn công cộng, và mọi nhà máy chế tạo máy bay, nhờ đó, họ hy vọng, đã khóa chặt đường không đối với những tên phản bội lẩn lút.
Là một trong những phần tử phản cách mạng độc hại nhất trong nước, cựu Thượng nghị sĩ Walt Trowbridge, đối thủ của Windrip trong cuộc bầu cử năm 1936, bị một toán mười hai lính gác M.M. luân phiên theo dõi suốt ngày đêm. Nhưng dường như chẳng mấy nguy cơ đối thủ này—xét cho cùng chỉ là một kẻ lập dị chứ không phải một tên cuồng điên ngoan cố—lại tự biến mình thành trò cười bằng cách chống lại Quyền lực vĩ đại mà (theo Giám mục Prang) Thiên đường đã vui lòng phái xuống để chữa lành nước Mỹ khốn khổ.
Trowbridge vẫn bình dị sống tại một trại chăn nuôi của ông ở South Dakota, và viên đặc vụ chính phủ chỉ huy toán M.M. (một tay lão luyện, được đào tạo trong nghề phá đình công) báo cáo rằng qua đường dây điện thoại bị nghe lén và những lá thư bị hấp hơi bóc mở, Trowbridge chẳng truyền đạt điều gì có tính phản loạn hơn những bản báo cáo về việc trồng cỏ linh lăng. Bên ông không có ai ngoài những người làm công trong trại và, ở trong nhà, một cặp vợ chồng già vô hại.
Washington hy vọng Trowbridge đang bắt đầu nhìn ra chân lý. Có lẽ họ sẽ bổ nhiệm ông làm Đại sứ tại Anh, thay Sinclair.
Vào ngày Bốn tháng Bảy, khi M.M. dâng lên Thủ lĩnh và Ngôi sao Năm cánh màn tôn vinh huy hoàng nhưng chẳng may gặp sự cố, Trowbridge làm đám cao bồi của mình khoái chí bằng cách tổ chức một lễ mừng có pháo hoa khác thường. Suốt buổi tối, pháo thăng thiên bừng sáng trên trời, và quanh đồng cỏ cạnh nhà, những chậu lửa La Mã rực lên. Chẳng những không lạnh nhạt với toán lính gác M.M., Trowbridge còn nồng nhiệt mời họ cùng đốt pháo và nhập bọn uống bia, ăn xúc xích. Những chàng lính cô quạnh ngoài thảo nguyên ấy—họ sung sướng biết bao khi được bắn pháo!
Một chiếc máy bay mang đăng ký Canada, một chiếc máy bay lớn bay không bật đèn, lao về phía khu vực sáng rực ánh pháo rồi tắt động cơ, khiến lính gác không biết nó đã bay tiếp hay chưa; nó lượn vòng trên đồng cỏ có những chậu lửa La Mã viền quanh và nhanh chóng hạ cánh.
Sau chai bia cuối cùng, lính gác đã thấy buồn ngủ. Ba tên đang chợp mắt trên lớp cỏ ngắn và thô ráp.
Họ bàng hoàng thấy mình bị những người đội mũ bay che kín mặt bao vây, những người mang súng lục tự động; nhóm này còng tay những tên lính gác còn thức, nhấc những tên kia lên, rồi nhét cả mười hai tên vào khoang hành lý có song sắt của máy bay.
Người chỉ huy toán đột kích, một người có dáng vẻ quân nhân, nói với Walt Trowbridge, “Sẵn sàng chưa, thưa ngài?”
“Rồi. Phiền Đại tá mang giúp bốn chiếc hòm kia nhé?”
Trong các hòm là những bản chụp sao thư từ và tài liệu.
Ăn vận chẳng chút vương giả trong bộ quần áo liền thân và chiếc mũ rơm khổng lồ, Thượng nghị sĩ Trowbridge bước vào khoang phi công. Cao vút, mau lẹ và đơn độc, chiếc máy bay lao về phía Bắc cực quang xuất hiện sớm.
Sáng hôm sau, vẫn mặc bộ quần áo liền thân ấy, Trowbridge dùng bữa sáng tại Khách sạn Fort Garry cùng Thị trưởng Winnipeg.
Hai tuần sau, tại Toronto, ông bắt đầu tái bản tuần báo A Lance for Democracy của mình, và trên bìa số đầu tiên là bản sao của bốn lá thư cho thấy trước khi trở thành Tổng thống, Berzelius Windrip đã trục lợi từ những món quà riêng của giới tài phiệt với tổng số tiền hơn 1.000.000 đô-la. Những bản tờ Lance được bí mật chuyển đến Doremus Jessup, đến hàng nghìn Doremus Jessup, mặc dù sở hữu nó có thể bị trừng phạt—có lẽ không hợp pháp, nhưng chắc chắn hữu hiệu—bằng cái chết.
Nhưng phải đến mùa đông, vì các đặc vụ bí mật của ông buộc phải hoạt động hết sức thận trọng ở Mỹ, Trowbridge mới đưa vào vận hành toàn diện tổ chức được các thành viên gọi là “Tân Địa hạ,” hay “N.U.,” tổ chức đã giúp hàng nghìn phần tử phản cách mạng trốn sang Canada.