Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 18

Chương 18 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây

Ở những thị trấn nhỏ, chao ôi, có sự thanh bình bền vững mà tôi yêu quý, một sự thanh bình không bao giờ có thể bị khuấy động, ngay cả bởi những tay Khôn Lỏi om sòm nhất đến từ các đại đô thị ngạo mạn như Washington, New York, vân vân.

Giờ Số Không, Berzelius Windrip.

Chủ trương “hãy cứ chờ xem” của Doremus, cũng như phần lớn các chủ trương tiệm tiến kiểu Fabian, đã trở nên lung lay. Nó có vẻ đặc biệt lung lay vào tháng Sáu năm 1937, khi ông lái xe tới North Beulah dự lễ kỷ niệm bốn mươi năm tốt nghiệp của khóa mình ở Đại học Isaiah.

Theo thông lệ, các cựu sinh viên trở về trường đều mặc những bộ đồ ngộ nghĩnh. Khóa của ông mặc đồ thủy thủ, nhưng họ đi tới đi lui, đầu hói bóng và mặt mày rầu rĩ, trong những bộ trang phục vui tươi đầy thiện ý ấy; ngay cả trong mắt ba thành viên vốn là các Corpo nhiệt thành (vì họ là các ủy viên Corpo địa phương) cũng lộ vẻ bất ổn.

Sau giờ đầu tiên, Doremus hầu như chẳng còn gặp các bạn cùng khóa. Ông đã tìm đến Victor Loveland, người vẫn thường trao đổi thư từ với ông, một giảng viên khoa cổ điển học mà một năm trước đã báo cho ông biết lệnh cấm chỉ trích chương trình huấn luyện quân sự của Hiệu trưởng Owen J. Peaseley.

Ngay cả vào thời khấm khá nhất, căn nhà nhái túp lều Anne Hathaway, dựng lên chắp vá của Loveland cũng chẳng phải cung điện gì—các phó giáo sư ở Isaiah vốn không có lệ thuê cung điện. Giờ đây, với phòng khách ra vẻ tân thời chất đầy những chiếc ghế phủ vải bố, thảm cuộn và các thùng sách, nó trông chẳng khác nào một cửa hàng đồ đồng nát. Giữa cảnh tan hoang ấy là Loveland, vợ ông, ba đứa con và một Tiến sĩ Arnold King, nhà hóa học thực nghiệm.

“Tất cả chuyện này là sao?” Doremus hỏi.

“Tôi bị đuổi rồi. Vì quá ‘cấp tiến’,” Loveland gầm gừ.

“Phải đấy! Mà đòn công kích hiểm độc nhất của ông ấy lại nhằm vào cách Glicknow luận về việc sử dụng thì bất định trong Hesiod!” vợ ông than vãn.

“Chà, tôi đáng bị thế—vì từ năm 300 Công nguyên đến giờ, tôi chưa từng hiểm độc về bất cứ chuyện gì! Điều duy nhất khiến tôi hổ thẹn là họ không đuổi tôi vì đã dạy sinh viên rằng các Corpo lấy phần lớn ý tưởng từ Tiberius, hay có lẽ vì đã tử tế tìm cách ám sát Ủy viên Đặc khu Reek!” Loveland nói.

“Ông định đi đâu?” Doremus hỏi.

“Khốn nỗi chính là ở chỗ ấy! Chúng tôi không biết! Ồ, trước hết sẽ đến nhà cha tôi—một cái thùng đóng hàng sáu phòng ở Burlington—cha tôi mắc bệnh tiểu đường. Nhưng còn chuyện dạy học—Hiệu trưởng Peaseley cứ lần lữa không chịu ký hợp đồng mới của tôi, rồi mãi mười ngày trước mới báo tôi thôi việc—quá muộn để kiếm được chỗ làm cho năm tới. Riêng tôi thì cóc cần! Thật đấy, tôi cóc cần! Tôi mừng vì đã bị buộc phải thừa nhận rằng, với tư cách giáo sư đại học, tôi chẳng phải một Erasmus Con như tôi vẫn thích tự thuyết phục mình, chẳng phải người truyền cảm hứng cho những tâm hồn trẻ cao quý mơ về vẻ đẹp cổ điển thanh khiết—xin cứ ghi nhận cho!—mà chỉ là một kẻ làm thuê tầm thường, một gã bán hàng khác ở Quầy Hàng Cổ Điển Đại Hạ Giá, với đám sinh viên làm khách hàng chán ngấy, và cũng có thể bị thuê rồi bị đuổi như bất kỳ người gác cổng nào. Ông có nhớ rằng ở La Mã Đế quốc, các thầy giáo, kể cả gia sư của giới quý tộc, đều là nô lệ không—chắc họ được thả sức bàn đủ thứ lý thuyết về nhân học đảo Crete, nhưng vẫn có thể bị bóp cổ như mọi nô lệ khác! Tôi đâu có kêu ca—”

Tiến sĩ King, nhà hóa học, cắt ngang bằng một tiếng hét: “Rõ ràng là ông đang kêu ca! Tại sao lại không, quỷ tha ma bắt? Với ba đứa con? Tại sao lại KHÔNG kêu ca! Còn tôi thì may mắn! Tôi mang nửa dòng máu Do Thái—một trong những tên Do Thái lén lút, xảo quyệt mà Buzz Windrip cùng anh bạn trai Hitler của ông ta vẫn kể cho các vị nghe; xảo quyệt đến mức tôi đã ngờ ra chuyện này từ mấy tháng trước, cho nên—tôi cũng vừa bị đuổi, ông Jessup ạ—tôi đã thu xếp được một chân ở Công ty Điện lực Universal... Ở đó họ không phiền chuyện người Do Thái, miễn là người Do Thái vừa làm vừa hát và tìm ra những dự án vô bổ đem về cho công ty một triệu mỗi năm—với mức lương ba nghìn rưỡi một năm! Xin trìu mến vĩnh biệt tất cả lũ sinh viên nhếch nhác của tôi! Dù rằng—” và Doremus nghĩ rằng, trong thâm tâm, ông còn buồn hơn Loveland—“tôi cũng hơi tiếc phải bỏ công trình nghiên cứu. Ồ, mặc xác chúng!”

Câu chuyện theo Owen J. Peaseley, Thạc sĩ Văn chương (Oberlin), Tiến sĩ Luật (Đại học Tiểu bang Connecticut), hiệu trưởng Đại học Isaiah, lại hoàn toàn khác.

“Ồ không đâu, ông Jessup! Ở Isaiah lâu đời này, chúng tôi tuyệt đối tin vào tự do ngôn luận và tự do tư tưởng. Sự thật là chúng tôi cho Loveland thôi việc chỉ vì Khoa Cổ điển học thừa nhân sự—ông biết đấy, nhu cầu về tiếng Hy Lạp, tiếng Phạn và những môn tương tự quá ít, giữa lúc thiên hạ hiện đại đang say mê lý-sinh định lượng, sửa chữa máy bay và những ngành tương tự. Nhưng về Tiến sĩ King—ừm—tôi e rằng chúng tôi quả có đôi chút cảm thấy ông ấy tự chuốc họa vào thân, cứ khoe khoang mình là người Do Thái và đủ thứ, ông biết đấy, rồi—Nhưng sao ta không nói đến những đề tài vui vẻ hơn nhỉ? Hẳn ông đã biết Bộ trưởng Văn hóa Macgoblin nay đã hoàn tất kế hoạch bổ nhiệm một giám đốc giáo dục tại mỗi tỉnh và đặc khu rồi chứ?—và Giáo sư Almeric Trout của Đại học Aumbry đã được dự kiến giữ chức Giám đốc ở Tỉnh Đông Bắc của chúng ta? Chà, tôi còn một tin hết sức đáng mừng. Tiến sĩ Trout—một học giả uyên thâm biết bao, một nhà hùng biện xuất chúng biết bao!—ông có biết trong tiếng Teuton, ‘Almeric’ có nghĩa là ‘vương công cao quý’ không?—ông ấy đã ưu ái chỉ định tôi làm Giám đốc Giáo dục Đặc khu Vermont–New Hampshire! Chẳng phải tuyệt diệu sao! Tôi muốn ông là một trong những người đầu tiên được nghe tin này, ông Jessup ạ, bởi dĩ nhiên một trong những nhiệm vụ chính của Giám đốc sẽ là cộng tác với và thông qua các chủ bút báo chí trong sự nghiệp vĩ đại truyền bá những lý tưởng Corpo đúng đắn và đấu tranh chống các học thuyết sai lầm—vâng, ồ vâng.”

Doremus nghĩ, dạo này hình như có rất nhiều người hăng hái muốn cộng tác với và thông qua các chủ bút.

Ông nhận thấy Hiệu trưởng Peaseley giống một hình nộm làm bằng thứ vải flanen xám bạc màu, loại chuyên dùng may váy lót cho cô nhi viện.

Tổ chức Minute Men ít được ưa chuộng ở những làng quê nghiêm cẩn hơn tại các trung tâm công nghiệp, nhưng suốt mùa hè, ai cũng biết một đại đội M.M. đã được thành lập ở Fort Beulah và đang thao luyện trong Trại Vệ binh dưới sự chỉ huy của các sĩ quan Vệ binh Quốc gia và Ủy viên Hạt Ledue; người ta thấy hắn thức khuya trong căn phòng mới sang trọng ở nhà trọ của bà Ingot, đọc cẩm nang sử dụng vũ khí. Nhưng Doremus nhất quyết không tới xem họ; khi anh phóng viên quê mùa nhưng đầy tham vọng của ông, “Doc” (tên thật là Otis) Itchitt, hăm hở xông vào kể về đám M.M. và muốn đăng một bài tường thuật có hình minh họa trên tờ Informer thứ Bảy, Doremus khịt mũi.

Phải đến cuộc diễu hành công khai đầu tiên của họ vào tháng Tám, Doremus mới trông thấy họ, và ông chẳng vui vẻ gì.

Cả vùng quê đã kéo đến; ông nghe tiếng họ cười nói và lê chân dưới cửa sổ văn phòng, nhưng vẫn bướng bỉnh cắm cúi biên tập một bài về phân bón cho các vườn anh đào. (Mà ông lại mê diễu hành một cách trẻ con!) Ngay cả tiếng ban nhạc nện bài “Boola, Boola” cũng không lôi được ông ra cửa sổ. Rồi Dan Wilgus lôi ông bật dậy; Dan là thợ sắp chữ quảng cáo kỳ cựu kiêm trưởng ban thợ in của Informer, cao như một căn nhà và có bộ ria đen xòe rộng đến mức từ ngày giống chủ quầy rượu kiểu xưa tuyệt tích, chẳng còn thấy bộ ria nào như thế nữa. “Sếp phải ra mà xem; trò hay lắm!” Dan nài nỉ.

Xuyên qua vẻ kiểu cách bằng gạch đỏ thời Chester Arthur của phố President, Doremus thấy một đại đội thanh niên mặc quân phục kỵ binh Nội chiến đang tiến bước, thao luyện thuần thục đến bất ngờ; vừa khi họ đi ngang văn phòng Informer, ban nhạc thị trấn liền rộn ràng chuyển sang bài “Hành quân qua Georgia”. Những chàng trai mỉm cười, bước nhanh hơn và giương cao lá cờ có hình vô-lăng cùng hai chữ M.M.

Năm mười tuổi, Doremus từng thấy ngay trên con phố này một cuộc diễu hành Ngày Tưởng niệm của Đại Quân đoàn Cộng hòa. Khi ấy tuổi trung bình của các cựu binh còn chưa tới năm mươi, một số chỉ mới ba mươi lăm; họ đã tiến lên nhẹ nhàng, vui vẻ—cũng theo điệu “Hành quân qua Georgia”. Vậy nên giờ đây, vào năm 1937, ông lại đang từ trên cao nhìn xuống các cựu binh Gettysburg và Missionary Ridge. Ôi—ông có thể thấy tất cả họ—Bác Tom Veeder, người từng làm cho ông những chiếc còi liễu; cụ Crowley với đôi mắt xanh màu hoa thanh cúc; Jack Greenhill, người từng chơi nhảy cừu với bọn trẻ và sau này chết ở Ethan Creek—Khi người ta tìm thấy anh, mái tóc dày còn nhỏ nước. Doremus rạo rực trước những lá cờ M.M., tiếng nhạc, những chàng trai quả cảm, ngay cả khi ông căm ghét mọi lý tưởng mà họ diễu hành để phụng sự, và căm ghét Shad Ledue, kẻ mà ông kinh ngạc không dám tin mình đã nhận ra trong người kỵ sĩ lực lưỡng dẫn đầu đoàn diễu hành.

Giờ thì ông đã hiểu vì sao những chàng trai lại hành quân ra trận. Nhưng xuyên qua tiếng nhạc, ông như nghe thấy Shad cười khẩy: “Ồ phải—ông TƯỞNG thế thôi!”

Thứ óc hài hước nặng nề đặc trưng của các chính khách Mỹ vẫn tồn tại ngay cả giữa cơn bùng phát. Doremus đọc tin rồi mỉa mai cho đăng thật nổi bật trên Informer về một màn ca vũ nhạc kịch da đen được trình diễn tại Đại hội Toàn quốc các Câu lạc bộ Cổ động ở Atlantic City vào cuối tháng Tám. Trong vai hai anh hề ngồi ở hai đầu cùng người dẫn chuyện là những nhân vật lừng lẫy chẳng kém gì Bộ trưởng Ngân khố Webster R. Skittle, Bộ trưởng Chiến tranh Luthorne và Bộ trưởng Giáo dục kiêm Quan hệ Công chúng, Tiến sĩ Macgoblin. Đó là thứ hài hước Câu lạc bộ Elks kiểu xưa chính hiệu, chưa hề bị những quan niệm về phẩm giá và nghĩa vụ quốc tế làm cho xói mòn—những quan niệm mà, bất chấp các công lao to lớn của mình, cái gã lập dị Lee Sarason bị nghi là đang tìm cách du nhập. Chà (các nhà Cổ động trầm trồ), các Đại Nhân vật dân chủ đến mức thậm chí còn đem chính mình và các Corpo ra đùa cợt—họ khiêm nhường đến thế đấy!

“Cái bà mà tôi thấy ông đi ngoài phố cùng là ai thế?” ngài Bộ trưởng Skittle mập mạp (cải trang thành một cô ả da màu mặc váy vải bông chấm bi) chất vấn ngài Bộ trưởng Luthorne (bôi mặt đen, đeo đôi găng đỏ khổng lồ).

“Đó đâu phải quý bà, đó là tờ báo của Walt Trowbridge.”

“Tui hổng nghĩ tui hiểu nổi ý ngài đâu, ngài Bones.”

“Thì—ông biết đấy—‘Một Ả Đĩ của Chế độ Tài phiệt’.”

Một trò vui lành mạnh, không tinh tế đến mức gây bối rối, đưa dân chúng (hàng triệu người nghe chương trình của Câu lạc bộ Cổ động qua radio) đến gần hơn với những ông chủ cao cả của họ.

Nhưng cao trào của chương trình là khi Tiến sĩ Macgoblin cả gan trêu chọc chính phe mình bằng bài hát:

Buzz, rượu, doanh thương, vui quá đi thôi! Công việc này càng lúc càng buồn tẻ, Khi tôi rời khỏi Washington, Tôi sẽ đi Siberia!

Doremus cảm thấy mình đang nghe nói quá nhiều về vị Bộ trưởng Giáo dục. Rồi vào cuối tháng Chín, ông nghe được một chuyện chẳng mấy dễ chịu về Tiến sĩ Macgoblin. Theo lời kể đến tai ông, câu chuyện diễn ra như sau:

Hector Macgoblin, nhà phẫu thuật–võ sĩ quyền Anh–thi sĩ–thủy thủ vĩ đại ấy, từ trước đến nay luôn xoay xở kiếm được vô số kẻ thù; nhưng sau khi bắt đầu cuộc điều tra các trường học nhằm thanh lọc khỏi đó bất kỳ giáo viên nào tình cờ không được ông ta ưa, ông ta gây thù nhiều khác thường đến mức phải có vệ sĩ đi kèm. Tháng Chín ấy, ông ta đang ở New York, tìm ra hàng đống “phần tử lật đổ” trong Đại học Columbia—bất chấp sự phản đối của Hiệu trưởng Nicholas Murray Butler, người khăng khăng rằng mình đã quét sạch mọi kẻ tư tưởng ngoan cố và nguy hiểm, đặc biệt là những người theo chủ nghĩa hòa bình trong trường y—và vệ sĩ của Macgoblin là hai cựu giảng viên triết học, những kẻ ở trường đại học của mình từng được ngay cả các trưởng khoa ngưỡng mộ về mọi mặt, ngoại trừ thói say rượu rồi sinh sự. Mỗi khi rơi vào trạng thái ấy, một trong hai gã bao giờ cũng tháo một chiếc giày ra, lấy gót nện lên đầu bất kỳ ai tranh luận để bảo vệ Jung.

Hai gã mặc quân phục chỉ huy tiểu đoàn M.M.—còn quân phục của chính ông ta là cấp chuẩn tướng—sau một ngày hữu ích dành để đá khỏi Columbia tất cả các giảng viên từng bỏ phiếu cho Trowbridge, Tiến sĩ Macgoblin cùng cặp vệ sĩ lên đường thử thực hiện lời đánh cược rằng ông ta có thể uống một ly ở mọi quán rượu trên phố Năm Mươi Hai mà vẫn không bất tỉnh.

Ông ta đã làm rất khá cho đến mười giờ rưỡi, khi đang tràn trề tình thương và lòng nhân ái, ông ta quyết định sẽ thật tuyệt nếu gọi điện cho người thầy cũ đáng kính của mình tại Leland Stanford, nhà sinh vật học Tiến sĩ Willy Schmidt, trước ở Vienna, nay làm việc tại Viện Rockefeller. Macgoblin nổi giận khi một người tại căn hộ của Tiến sĩ Schmidt báo rằng ông bác sĩ đã ra ngoài. Ông ta quát tháo dữ dội: “Ra ngoài? Ra ngoài? Ra ngoài là thế quái nào? Lão dê già ấy không có quyền ra ngoài! Giữa đêm hôm! Ông ta ở đâu? Sở Cảnh sát đây! Ông ta ở đâu?”

Tiến sĩ Schmidt đang dùng buổi tối cùng vị học giả hiền hậu, Giáo sĩ kiêm Tiến sĩ Vincent de Verez.

Macgoblin cùng hai con khỉ đột bác học tới thăm De Verez. Trên đường đi chẳng xảy ra chuyện gì đáng kể, ngoại trừ lúc Macgoblin bàn về tiền xe với tài xế taxi, ông ta cảm thấy mình buộc phải đấm anh ta bất tỉnh. Cả ba—đang mang tâm trạng vui vẻ, trẻ trung nhất đời—hớn hở xông vào căn nhà cổ sơ của Tiến sĩ de Verez ở khu phố Sáu Mươi. Tiền sảnh khá xập xệ, bày ra một cách khiêm nhường những chiếc ô và giày cao su đi mưa của vị giáo sĩ đáng kính; nếu những kẻ xâm nhập nhìn thấy các phòng ngủ, chúng hẳn sẽ thấy chúng chẳng khác gì những phòng tu của dòng Trappist. Nhưng phòng khách dài—gồm phòng khách trước và phòng khách sau thông liền nhau—thì nửa là bảo tàng, nửa là phòng nghỉ. Chính vì bản thân thích những món như thế và tức tối khi thấy một kẻ xa lạ sở hữu chúng, Macgoblin mới khịt mũi nhìn tấm thảm cầu nguyện Beluchi, chiếc tủ kiểu Jacobean, cùng một tủ kính nhỏ đựng sách in thời kỳ sơ khai và những bản thảo tiếng Ả Rập viết bằng mực bạc trên giấy da đỏ thắm.

“Chỗ này xịn đấy! Chào Bác sĩ! Ông Hà Lan khỏe chứ? Nghiên cứu kháng thể đến đâu rồi? Đây là Bác sĩ Nemo và Bác sĩ, ờ, Bác sĩ Gì-Đó, hai tay nẫng keo nổi tiếng. Bẹn chí cốt của tui. Giới thiệu bọn tui với ông bạn Do Thái của ông đi.”

Rất có thể Giáo sĩ de Verez chưa bao giờ nghe nói tới Bộ trưởng Giáo dục Macgoblin.

Người quản gia đã cho những kẻ xâm nhập vào và vẫn hồi hộp lảng vảng bên cửa phòng khách—ông là nguồn duy nhất xác nhận phần lớn câu chuyện—kể rằng Macgoblin lảo đảo, trượt chân trên một tấm thảm, suýt ngã, rồi cười khúc khích ngớ ngẩn khi ngồi xuống, phẩy tay bảo hai gã du côn ngồi vào ghế và đòi hỏi: “Này, Giáo sĩ, cho ít whisky thì sao? Chút Scotch pha soda. Tôi biết mấy ông Geonim chẳng bao giờ nhấp thứ gì ngoài mật hoa ướp tuyết do một trinh nữ gảy đàn dulcimer bưng ra, vừa hát về núi Abora, hoặc có khi chỉ là một ngụm nhỏ máu hiến tế của trẻ con Kitô giáo—ha, ha, đùa tí thôi, Giáo sĩ; tôi biết cái ‘Nghị định thư của các Trưởng lão Zion’ ấy toàn chuyện nhảm, nhưng dùng để tuyên truyền thì vẫn tiện lợi khủng khiếp, và—Nhưng ý tôi là, với đám Goyim tầm thường như chúng tôi, cho chút rượu thứ thiệt đi! CÓ NGHE TÔI KHÔNG?”

Tiến sĩ Schmidt định lên tiếng phản đối. Vị Giáo sĩ, khi ấy đang chải bộ râu bạc, ngăn ông lại rồi phẩy bàn tay già yếu mảnh khảnh ra hiệu cho người quản gia đang chờ; ông này miễn cưỡng mang whisky và các bình soda vào.

Ba nhà điều phối văn hóa rót whisky gần đầy cốc rồi mới pha soda.

“Nghe đây, De Verez, sao lũ Do Thái chúng mày không chịu tỉnh ra mà cút đi, xéo đi, hạ màn khiêng theo xác chết, rồi dựng một xứ Zion thực sự, chẳng hạn ở Nam Mỹ?”

Vị giáo sĩ Do Thái ngơ ngác trước đòn công kích. Bác sĩ Schmidt khịt mũi: “Bác sĩ Macgoblin—từng là một sinh viên đầy triển vọng của tôi—giờ là Bộ trưởng Giáo dục với cả lô chức vụ gì gì nữa—tôi chẳng biết là những gì!—ở Washington. Corpo!”

“Ồ!” Vị giáo sĩ Do Thái thở dài. “Tôi có nghe nói đến giáo phái ấy, nhưng dân tộc tôi đã học được cách phớt lờ sự bức hại. Chúng tôi đã hỗn xược đến mức áp dụng chiến thuật của các vị Tử đạo Kitô giáo thời sơ khai! Ngay cả nếu được mời dự đại tiệc Corpo của các ông—mà theo chỗ tôi hiểu thì tuyệt nhiên không được đón mời nồng nhiệt chút nào!—e rằng chúng tôi cũng không thể tham dự. Ông thấy đấy, chúng tôi chỉ tin vào một Đấng Độc tài là Thượng đế, và e rằng chúng tôi không thể coi ông Windrip là đối thủ của Jehovah!”

“Á, toàn chuyện bá láp!” một tay súng có học lẩm bẩm, còn Macgoblin quát: “Ôi, dẹp mấy chữ đao to búa lớn ấy đi! Chỉ có một điểm chúng tôi đồng ý với bọn Cộng sản bẩn thỉu mê lũ Do Thái—ấy là quẳng đi cả lũ thần thánh, Jehovah cùng hết thảy bọn còn lại, những kẻ đã ăn cứu tế quá lâu rồi!”

Vị giáo sĩ Do Thái thậm chí không sao đáp nổi, nhưng bác sĩ Schmidt nhỏ thó (ông có bộ ria mép hình bánh vòng, cái bụng bia và đôi ủng đen cài khuy với đế dày nửa inch) lên tiếng: “Macgoblin, tôi cho rằng tôi có thể nói thẳng với một sinh viên cũ, vì quanh đây không có phóng viên hay loa phóng thanh nào. Anh có biết tại sao anh uống như lợn không? Vì anh thấy nhục! Nhục vì anh, từng là một nhà nghiên cứu đầy triển vọng, lại bán mình cho lũ cướp cạn có bộ óc như lá gan thối và—”

“Thế đủ rồi đấy, Giáo sư!”

“Này, ta phải trói hai thằng chó phản loạn đó lại rồi đánh cho chúng tối tăm mặt mũi!” một tên chó săn rít lên.

Macgoblin rú: “Lũ trí thức thượng lưu—lũ trí thức thối tha! Mày, thằng Do Thái kia, với cái thư viện xa-xa hoa của mày, trong khi Dân Thường chết đói—và giờ vẫn còn chết đói nếu Thủ lĩnh không cứu họ! Cái bộ sưu tập sách của mày—ăn cắp từ từng đồng xu của đám giáo dân nghèo khổ, ngu độn, chuyên liếm chân, toàn phường bán hàng xe đẩy!”

Vị giáo sĩ Do Thái ngồi chết lặng, tay vuốt râu, nhưng bác sĩ Schmidt bật dậy, quát: “Ba tên vô lại các anh không được mời đến đây! Các anh xông bừa vào! Cút ra! Đi đi! Cút ra!”

Một tên chó săn đi cùng gặng Macgoblin: “Ông định để hai thằng Do Thái con này sỉ nhục chúng ta—sỉ nhục cả nhà nước Corpo, mẹ kiếp, lẫn quân phục M.M. hay sao? Giết chúng đi!”

Ngoài lượng rượu đã nốc đầy bụng từ trước, Macgoblin còn làm thêm hai ly whisky cực lớn kể từ khi tới đây. Hắn giật khẩu súng lục tự động ra, bắn hai phát. Bác sĩ Schmidt đổ vật xuống. Giáo sĩ De Verez trượt khỏi ghế, máu từ thái dương phập phồng tuôn ra. Người quản gia run rẩy đứng nơi cửa, và một tên lính gác bắn ông ta, rồi đuổi theo ông ta xuống phố, vừa bắn vừa hú hét vì thấy trò đùa ấy thật khôi hài. Tên lính gác uyên bác này bị một cảnh sát giao thông bắn chết tức khắc tại một ngã tư.

Macgoblin cùng tên lính gác còn lại bị bắt và giải đến trước mặt Ủy viên Đặc khu Đô thành, vị phó vương Corpo vĩ đại có quyền lực bằng ba bốn thống đốc bang cộng lại.

Bác sĩ de Verez, tuy chưa chết, đã suy kiệt đến mức không thể làm chứng. Nhưng ngài Ủy viên cho rằng trong một vụ án can hệ mật thiết đến chính phủ liên bang như thế, trì hoãn xét xử là điều không phải phép.

Đối chọi với lời khai khiếp đảm của người quản gia gốc Nga-Ba Lan nhà vị giáo sĩ Do Thái là những lời tường trình đầy thành khẩn (và giờ đã tỉnh rượu) của Bộ trưởng Giáo dục liên bang cùng viên phụ tá còn sống, nguyên là Phó giáo sư Triết học tại Đại học Pelouse. Người ta chứng minh được rằng không chỉ De Verez mà cả bác sĩ Schmidt cũng là người Do Thái—mà nhân tiện nói thêm, ông tuyệt đối một trăm phần trăm không phải. Người ta gần như còn chứng minh được rằng cặp đôi nham hiểm này đã dụ dỗ các Corpo vô tội vào nhà De Verez và tiến hành trên người họ cái mà một tên Do Thái chỉ điểm bé nhỏ, sợ rúm ró gọi là “những vụ giết người hiến tế”. Macgoblin cùng bạn được tuyên trắng án vì lý do tự vệ, lại còn được ngài Ủy viên hết lời khen ngợi—và sau đó là những bức điện từ Tổng thống Windrip và Ngoại trưởng Sarason—vì đã bảo vệ Khối Thịnh vượng chung trước lũ ma cà rồng hút máu người và một trong những âm mưu kinh hoàng nhất từng được lịch sử biết đến.

Viên cảnh sát đã bắn tên lính gác kia không bị trừng phạt nặng nề—công lý Corpo cẩn trọng đến thế cơ mà—mà chỉ bị điều sang một tuyến tuần tra buồn tẻ ở Bronx. Vậy là ai nấy đều vui vẻ.

Nhưng Doremus Jessup, sau khi nhận được thư của một phóng viên New York từng nói chuyện riêng với tên lính gác sống sót, lại chẳng vui vẻ chút nào. Vả lại, tâm trạng ông vốn đã không được khoan hòa cho lắm. Với lý do nhân đạo, Ủy viên Hạt Shad Ledue đã buộc ông sa thải những cậu bé giao báo và thuê các M.M. phân phát tờ Informer (hoặc vui vẻ quẳng nó xuống sông).

“Giọt nước tràn ly—tràn lâu rồi,” ông nổi giận.

Ông đã đọc tin về Giáo sĩ de Verez và xem ảnh ông ấy. Ông từng nghe bác sĩ Willy Schmidt diễn thuyết khi Hội Y khoa Bang họp tại Fort Beulah, rồi sau đó ngồi gần ông trong bữa tối. Ông thề rằng nếu họ là những tên Do Thái sát nhân thì chính ông cũng là một tên Do Thái sát nhân, và đã đến lúc phải làm điều gì đó cho Dân Tộc Của Chính Mình.

Tối hôm ấy—vào cuối tháng Chín năm 1937—ông hoàn toàn không về nhà ăn tối mà ngồi khom lưng bên bàn làm việc trong tòa soạn Informer, trước mặt là cốc cà phê giấy và miếng bánh nướng còn nguyên, viết một bài xã luận; khi viết xong, ông ghi lên đó: “Bắt buộc. Chữ đậm 12 point—đóng khung đầu trang nhất.”

Bài xã luận sẽ đăng vào sáng hôm sau mở đầu như sau:

Vì tin rằng sự bất lực và những tội ác của chính quyền Corpo bắt nguồn từ các khó khăn đi kèm một thể chế mới, chúng tôi đã kiên nhẫn chờ đợi chúng chấm dứt. Chúng tôi xin độc giả thứ lỗi cho sự kiên nhẫn ấy.

Giờ đây, qua tội ác ghê tởm mà một thành viên nội các say rượu đã gây ra cho hai ông già vô tội và đáng kính như bác sĩ Schmidt và Mục sư, Tiến sĩ de Verez, thật dễ thấy rằng chúng ta không thể trông đợi gì ngoài việc mọi người lương thiện chống lại ách chuyên chế của Windrip và bè lũ Corpo của hắn sẽ bị tận diệt bằng bạo lực.

Không phải tất cả bọn chúng đều độc ác như Macgoblin. Một số chỉ đơn thuần bất tài—như những người bạn Ledue, Reek và Haik của chúng ta. Nhưng sự bất lực lố bịch của họ cho phép thói tàn bạo giết người của các thủ lĩnh tiếp diễn mà không bị kiềm chế.

Buzzard Windrip, “Thủ lĩnh”, cùng bè lũ hải tặc của hắn—

Một người đàn ông hơi nhỏ thó, gọn ghẽ, râu hoa râm, đang giận dữ gõ lách cách trên chiếc máy chữ cũ kỹ, chỉ dùng hai ngón trỏ.

Dan Wilgus, trưởng phòng sắp chữ, trông giống và quát tháo cũng giống một viên trung sĩ già; và cũng như một viên trung sĩ già, sự phục tùng của ông ta đối với cấp trên chỉ tồn tại trên lý thuyết. Ông run rẩy khi mang bản thảo này vào và, gần như dí nó vào mũi Doremus, phản đối: “Này, sếp, sếp không thật lòng nghĩ rằng chúng tôi sẽ sắp chữ cái này đấy chứ?”

“Chắc chắn là có!”

“Nhưng tôi thì không! Nọc rắn chuông đấy! Sếp muốn bị tống vào nhà đá rồi có khi bị xử bắn lúc bình minh cũng được thôi, nếu sếp thích trò thể thao ấy, nhưng anh em nhà in đã họp rồi, và tất cả đều bảo có chết cũng không liều cái cổ theo sếp!”

“Được thôi, đồ chó con nhát gan! Được thôi, Dan, tôi sẽ tự sắp chữ!”

“Ôi, đừng mà! Trời ạ, tôi không muốn sau khi bọn M.M. xử xong sếp lại phải đến đám tang rồi bảo: ‘Trông ông ấy chẳng tự nhiên chút nào!’”

“Làm việc cho tôi suốt hai mươi năm, Dan! Đồ phản bội!”

“Nghe đây! Tôi chẳng phải Enoch Arden hay—ôi, tên quỷ ấy là gì nhỉ?—Ethan Frome hay Benedict Arnold hay bất cứ tên nào đó!—và đã hơn một lần tôi đập cho mấy thằng cha đứng quanh quán rượu, oang oang với thiên hạ rằng sếp là tay chủ bút trí thức rởm tồi tệ nhất Vermont; mà nói vậy có khi hắn cũng đúng thật, nhưng đồng thời—” Nỗ lực tỏ ra hài hước và dỗ dành của Dan tan vỡ, ông rên rỉ: “Trời ơi, sếp, xin sếp đừng làm thế!”

“Tôi biết, Dan. Có lẽ ông bạn Shad Ledue của chúng ta sẽ bực mình. Nhưng tôi không thể tiếp tục chịu đựng những chuyện như việc tàn sát ông già De Verez nữa, và—Đây! Đưa bản thảo cho tôi!”

Trong khi thợ sắp chữ, thợ máy in và cậu học việc trẻ khi thì bồn chồn, khi lại cười khúc khích trước sự vụng về của ông, Doremus tiến đến đứng trước một khay chữ, tay trái cầm chiếc thanh sắp chữ đầu tiên ông đụng đến trong mười năm qua, rồi ngờ vực nhìn khay chữ. Với ông, nó chẳng khác nào mê cung. “Quên mất cách sắp xếp rồi. Chẳng tìm thấy gì ngoài ô chữ e!” ông phàn nàn.

“Quỷ thật! Tôi sẽ làm! Tất cả lũ rụt cổ các người cút hết khỏi đây! Các người chẳng biết cóc khô gì về kẻ đã sắp cái này đâu!” Dan Wilgus gầm lên, và những thợ in khác biến mất!—xa đến tận cửa nhà vệ sinh.

Trong phòng biên tập, Doremus đưa bản in thử của hành động khinh suất ấy cho Doc Itchitt, tay phóng viên năng nổ dù vụng về, và cho Julian Falck, lúc này sắp trở lại Amherst nhưng đã làm việc cho tờ Informer suốt mùa hè, kết hợp những bài không thể đăng về Adam Smith với các bài tường thuật cực kỳ đăng được về môn golf và những buổi khiêu vũ tại câu lạc bộ đồng quê.

“Trời, cháu mong bác đủ can đảm tiếp tục và cho đăng nó—mà đồng thời cháu lại mong bác đừng đăng! Chúng sẽ tóm bác!” Julian lo lắng.

“Không! Cứ tới luôn, đăng đi! Chúng chẳng dám làm gì đâu! Ở New York với Washington chúng có thể giở trò, nhưng ông có thế lực quá lớn ở Thung lũng Beulah, Ledue và Staubmeyer chẳng dám động một ngón tay!” Doc Itchitt oang oang, trong khi Doremus nghĩ: “Không biết tên Judas báo chí trẻ tuổi láu cá này có muốn thấy mình gặp rắc rối để chiếm lấy tờ Informer rồi biến nó thành báo Corpo không nhỉ?”

Ông không ở lại tòa soạn cho đến khi số báo có bài xã luận của mình lên khuôn. Ông về nhà sớm và đưa bản in thử cho Emma cùng Sissy xem. Trong lúc họ vừa đọc vừa bật lên những tiếng phản đối, Julian Falck lẻn vào.

Emma phản đối: “Ôi, ông không thể—ông không được làm thế! Rồi tất cả chúng ta sẽ ra sao? Thành thật mà nói, Dormouse, tôi không sợ cho bản thân mình, nhưng tôi biết làm gì nếu họ đánh ông hay tống ông vào tù hoặc gì đó? Chỉ nghĩ đến cảnh ông ngồi trong xà lim là tim tôi tan nát rồi! Lại chẳng có đồ lót sạch nữa! Vẫn chưa quá muộn để ngăn bài báo lại, phải không?”

“Chưa. Thực ra đến mười một giờ tờ báo mới lên khuôn.... Sissy, con nghĩ sao?”

“Con chẳng biết phải nghĩ thế nào! Ôi, quỷ thật!”

“Kìa Sis-sy,” Emma nói, hoàn toàn theo phản xạ.

“Ngày trước, hễ làm điều đúng là được thưởng một thanh kẹo ngon lành,” Sissy nói. “Giờ thì hình như điều gì đúng cũng thành sai. Julian—mặt hề—anh nghĩ sao về chuyện Bố đá vào đôi tai lông lá đáng yêu của Shad?”

“Kìa, Sis—”

Julian buột miệng: “Anh nghĩ sẽ thật khủng khiếp nếu không có ai cố ngăn bọn này lại. Anh ước gì mình làm được. Nhưng anh thì làm sao được chứ?”

“Có lẽ cháu đã trả lời toàn bộ vấn đề rồi đấy,” Doremus nói. “Nếu một người tự nhận lấy quyền bảo mấy nghìn độc giả rằng sự tình thực chất là thế nào—từ trước đến giờ là một việc vô cùng dễ chịu—thì có thể nói anh ta mang một thứ nghĩa vụ của giáo sĩ là phải nói sự thật. ‘Ôi số phận nghiệt ngã đáng nguyền rủa.’ Thôi! Tôi nghĩ mình sẽ ghé lại tòa soạn. Khoảng nửa đêm tôi về. Không ai phải thức chờ đâu—còn Sissy, và cháu nữa, Julian, lời này đặc biệt dành cho hai kẻ chuyên mò đi đêm các con đấy! Còn ta và nhà ta, chúng ta sẽ phụng sự Chúa—mà ở Vermont, điều đó có nghĩa là đi ngủ.”

“Và ngủ một mình!” Sissy lẩm bẩm.

“SAO—CE-CI-LI-A—JES-SUP!”

Khi Doremus lon ton đi ra, Foolish, nãy giờ ngồi ngưỡng mộ ông, liền bật dậy, hy vọng được chạy chơi một chuyến.

Bằng cách nào đó, còn hơn mọi lời van nài của Emma, lòng quyến luyến thân thuộc của con chó khiến Doremus cảm nhận được chuyện vào tù có thể sẽ như thế nào.

Ông đã nói dối. Ông không trở lại tòa soạn. Ông lái xe ngược lên thung lũng, đến Quán trọ và đến với Lorinda Pike.

Nhưng dọc đường, ông ghé vào nhà chàng con rể trẻ tuổi luôn tất bật, bác sĩ Fowler Greenhill; không phải để cho anh xem bản in thử, mà để có thêm một kỷ niệm—biết đâu là trong tù?—về cuộc sống gia đình mà ông từng được hưởng vô cùng sung túc. Ông lặng lẽ bước vào tiền sảnh nhà Greenhill—một bản mô phỏng Mount Vernon đầy vẻ hãnh tiến; cực kỳ thịnh vượng và vững chãi, rực rỡ với những món đồ gỗ óc chó núm đồng cùng những hộp sơn màu kiểu Nga mà Mary Greenhill ưa chuộng. Doremus nghe thấy David (nhưng hẳn đã quá giờ đi ngủ của thằng bé rồi chứ?—thời buổi suy đồi này thì trẻ con chín tuổi ĐI ngủ lúc mấy giờ nhỉ?) đang hào hứng trò chuyện với cha nó và cộng sự của cha nó, bác sĩ Marcus Olmsted già, người gần như đã nghỉ hưu nhưng vẫn phụ trách khoa sản cùng các bệnh về mắt và tai cho phòng khám.

Doremus nhìn trộm vào phòng khách với những tấm rèm vải lanh vàng tươi. Mẹ David đang viết thư, dáng người thanh lịch, hợp thời trang ngồi bên chiếc bàn gỗ thích có đủ bút lông ngỗng vàng, giấy viết thư dập nổi và tấm thấm mực lưng bạc. Fowler và David đang ngồi chênh vênh trên hai tay vịn rộng của chiếc ghế bác sĩ Olmsted.

“Vậy cháu không nghĩ mình sẽ làm bác sĩ như cha cháu và bác à?” Bác sĩ Olmsted dò hỏi.

Mái tóc mềm của David rung rung khi nó gật đầu lia lịa, bối rối vì được người lớn coi trọng.

“Ồ—ồ—ồ có chứ, cháu muốn lắm. Ồ, cháu nghĩ làm bác sĩ tuyệt cú mèo. Nhưng cháu muốn làm một tờ báo như Ông ngoại. Thế mới cừ chứ! Chuẩn không cần chỉnh!”

(“Da-vid! Con học đâu ra cái lối ăn nói ấy vậy!”)

“Bác sĩ-Bác thấy đấy, một bác sĩ, ôi trời, phải thức suốt đêm, còn một chủ bút thì chỉ việc ngồi trong văn phòng ung dung, chẳng bao giờ phải lo lắng chuyện gì hết!”

Đúng lúc ấy, Fowler Greenhill trông thấy cha vợ đang đứng ngoài cửa nhăn nhó làm mặt khỉ với mình, bèn răn David: “Nào, không phải lúc nào cũng thế! Đôi khi các chủ bút phải làm việc khá vất vả—thử nghĩ những lúc có tàu hỏa đâm nhau, lũ lụt và đủ mọi chuyện xem! Cha nói con nghe. Con có biết cha có phép thuật không?”

“‘Phép thuật’ là gì hả cha?”

“Cha sẽ cho con xem. Cha sẽ triệu ông ngoại con từ chốn vực sâu mù sương đến đây—”

(“Nhưng liệu ông ấy có đến không?” bác sĩ Olmsted càu nhàu.)

“—rồi để ông ấy kể cho các cháu nghe mọi nỗi khổ của một ông chủ bút. Bố cứ làm ông ấy bay vèo qua không trung tới đây đi!”

“Ôi trời, bố không làm được THẾ đâu!”

“Ồ, bố không làm được à!” Fowler đứng nghiêm trang, ánh đèn trên trần khiến mái tóc đỏ thô cứng của anh dịu đi, rồi quay tít hai cánh tay như cối xay gió và hú lên: “Presto—vesto—adsit—Ông ngoại Jes-sup—voilà!”

Và kia, từ ngoài cửa bước vào, quả đúng là ÔNG NGOẠI JESSUP!

Doremus chỉ nán lại mười phút, bụng tự nhủ: “Dẫu sao, trong cái gia đình vững chãi này thì chẳng chuyện xấu nào có thể xảy ra.” Khi Fowler tiễn ông ra cửa, Doremus thở dài nói với anh: “Ước gì Davy nói đúng—rằng bố chỉ việc ngồi trong văn phòng, chẳng phải lo nghĩ gì. Nhưng bố cho rằng rồi một ngày nào đó bố sẽ đụng độ với bọn Corpo.”

“Con mong là không. Một lũ ghê tởm. Bố nghĩ sao? Hôm qua, thằng súc sinh Shad Ledue bảo con rằng chúng muốn con gia nhập Minute Men làm sĩ quan quân y. Có mà mơ! Con đã nói thẳng với hắn như thế.”

“Hãy coi chừng Shad, Fowler. Hắn thù dai lắm. Hắn đã bắt tòa nhà của bố phải đi lại toàn bộ đường dây điện.”

“Con chẳng sợ Đại úy–Tướng quân Ledue hay năm chục thằng như hắn! Mong sao có ngày hắn gọi con đến chữa đau bụng! Con sẽ cho hắn một liều thuốc an thần thật tốt—xyanua kali. Biết đâu một ngày nào đó con lại được hân hạnh nhìn quý ông ấy nằm trong quan tài. Bố biết đấy, làm bác sĩ có cái lợi như thế! Chúc bố ngủ ngon! Ngủ cho say nhé!”

Khá nhiều du khách vẫn từ New York kéo lên ngắm sắc thu rực rỡ của Vermont, và khi Doremus tới Quán trọ Thung lũng Beulah, ông bực bội phải chờ trong lúc Lorinda lục tìm khăn tắm dự phòng, tra lịch xe điện, và nhã nhặn với những bà già phàn nàn rằng ban đêm tiếng Thác sông Beulah quá ồn—hoặc chưa đủ ồn. Mãi sau mười giờ ông mới có thể nói chuyện riêng với nàng. Trong lúc ấy, có một thứ khoái cảm xa hoa kỳ lạ, gần như hân hoan, khi ông ngồi trong phòng trà, thản nhiên giở loạt xoạt những trang tạp chí Fortune mới nhất và nhìn từng phút bị phí hoài đe dọa đưa thời hạn chót lên khuôn đến gần.

Mười giờ mười lăm, Lorinda dẫn ông vào văn phòng nhỏ của nàng—chỉ có một chiếc bàn nắp cuộn, một ghế bàn giấy, một ghế tựa lưng thẳng, và một cái bàn chất từng đống tạp chí khách sạn đã chết yểu. Căn phòng ngăn nắp theo kiểu một bà cô không chồng, nhưng vẫn phảng phất mùi khói xì gà và những tập hồ sơ thư từ cũ của các chủ nhân đã ra đi từ lâu.

“Mau lên, Dor. Em đang có một trận cãi cọ nho nhỏ với tên Nipper đê tiện ấy.” Nàng phịch xuống bên bàn.

“Linda, đọc bản in thử này đi. Cho báo ngày mai... Không. Khoan. Đứng lên.”

“Hả?”

Chính ông ngồi vào ghế bàn giấy rồi kéo nàng xuống lòng mình. “Ôi, ANH thật là!” nàng khịt mũi, nhưng lại dụi má vào vai ông và khe khẽ rù rì mãn nguyện.

“Đọc đi, Linda. Cho báo ngày mai. Anh nghĩ chắc chắn anh sẽ đăng—phải quyết định dứt khoát trước mười một giờ—nhưng liệu có nên không? Lúc rời tòa soạn anh còn chắc lắm, nhưng Emma sợ—”

“Ôi, EMMA! Ngồi yên nào. Để em xem.” Nàng đọc rất nhanh. Bao giờ nàng cũng vậy. Đọc xong, nàng nói không chút xúc động: “Phải. Anh nhất định phải đăng. Doremus! Chúng đã thực sự mò đến tận đây rồi—bọn Corpo ấy—giống như đang đọc chuyện bệnh sốt phát ban ở Trung Quốc, rồi đột nhiên phát hiện ra nó ngay trong nhà mình!”

Nàng lại cọ má vào vai ông, giận dữ nói: “Thử nghĩ mà xem! Cái tên Shad Ledue ấy—em từng dạy hắn suốt một năm ở trường huyện, dù em chỉ hơn hắn hai tuổi—mà hắn còn là một thằng bắt nạt bẩn thỉu nữa chứ! Mấy hôm trước hắn đến gặp em, trơ tráo đề nghị rằng nếu em chịu hạ giá cho Minute Men—hắn còn bóng gió rằng em nên phục vụ miễn phí các sĩ quan Minute Men—thì chúng sẽ nhắm mắt làm ngơ chuyện em bán rượu ở đây, không giấy phép hay bất cứ thứ gì! Anh yêu, hắn cả gan đến mức không thể tưởng tượng nổi, lại còn nói bằng cái giọng BỀ TRÊN!—rằng hắn cùng đám bạn cao quý của hắn sẵn lòng thường xuyên lui tới đây! Cả Staubmeyer nữa—ồ, ‘giáo sư’ của chúng ta đang nở rộ thành một tay chơi ra trò đấy! Rồi khi em đuổi Ledue ra ngoài, cho hắn một trận nhớ đời—Ấy thế mà ngay sáng nay em nhận được giấy triệu tập, ngày mai phải ra tòa án hạt—do ông Nipper, người cộng sự đáng mến của em, khiếu nại—hình như ông ta không hài lòng với cách phân chia công việc giữa chúng em ở đây—mà thật tình, anh yêu, ông ta chẳng làm một việc chết tiệt nào ngoài ngồi lỳ ra đó, khiến những khách hàng tốt nhất của em chán đến chết vì cứ kể mãi rằng trước kia ông ta từng có một khách sạn tuyệt vời đến thế nào ở Florida. Nipper đã dọn đồ khỏi đây và chuyển vào thị trấn. Em e rằng ở tòa em sẽ có một buổi không mấy dễ chịu, vì phải cố nhịn không nói cho ông ta biết em nghĩ gì về ông ta.”

“Lạy Chúa! Nghe này, em yêu, em đã thuê luật sư lo vụ đó chưa?”

“Luật sư ư? Trời đất, chưa! Chỉ là một sự hiểu lầm—từ phía Nipper bé nhỏ thôi mà.”

“Em nên thuê đi. Bọn Corpo đang lợi dụng tòa án để thực hiện đủ kiểu vòi tiền và khép người ta vào tội phản loạn. Hãy mời Mungo Kitterick, luật sư của anh.”

“Ông ta đần lắm. Trong huyết quản chỉ toàn nước đá.”

“Anh biết, nhưng ông ta là hạng người thích thu xếp mọi thứ cho ngăn nắp, như rất nhiều luật sư. Thích nhìn mọi thứ đâu vào đấy trong từng ngăn hồ sơ. Có thể ông ta chẳng thèm quan tâm đến công lý, nhưng bất kỳ điều gì trái quy củ cũng sẽ khiến ông ta đau đớn khủng khiếp. Làm ơn mời ông ta đi, Lindy, vì ngày mai chúng đã cử Effingham Swan chủ tọa phiên tòa.”

“Ai cơ?”

“Swan—Thẩm phán Quân sự của Khu Ba—một chức vụ mới của Corpo. Một kiểu thẩm phán lưu động có quyền hạn của tòa án binh. Effingham Swan này—hôm nay, lúc ông ta mới tới, anh đã phái Doc Itchitt đến phỏng vấn—là mẫu quý ông-phát xít hoàn hảo—kiểu Oswald Mosley. Gia đình danh giá—dù điều đó có nghĩa là gì đi nữa. Tốt nghiệp Harvard. Trường Luật Columbia, học một năm ở Oxford. Nhưng rồi làm ngành tài chính ở Boston. Chủ ngân hàng đầu tư. Trong chiến tranh là thiếu tá hay chức gì đó. Chơi polo và từng tham gia một cuộc đua du thuyền tới Bermuda. Itchitt bảo ông ta là một gã hộ pháp, phong thái mượt mà hơn cả một ly kem bơ đường và ăn nói còn văn hoa hơn giám mục.”

“Nhưng em sẽ mừng vì được giải thích mọi chuyện với một QUÝ ÔNG, thay vì với Shad.”

“Dùi cui của quý ông nện xuống cũng đau chẳng kém gì của một thằng lưu manh!”

“Ôi, ANH thật là!” nàng nói với vẻ âu yếm cáu kỉnh, ngón trỏ lướt dọc theo đường quai hàm ông.

Bên ngoài có tiếng chân người.

Nàng bật dậy, đoan trang ngồi xuống chiếc ghế lưng thẳng. Tiếng chân đi ngang qua. Nàng trầm ngâm:

“Tất cả những rắc rối này, rồi bọn Corpo—Chúng sẽ làm gì đó với anh và em. Chúng ta sẽ bị kích động đến mức—hoặc chúng ta sẽ tuyệt vọng, thực sự bám lấy nhau, mặc cho tất cả mọi người khác trên đời xuống địa ngục; hoặc, điều em e là dễ xảy ra hơn, chúng ta sẽ lún quá sâu vào cuộc nổi loạn chống Windrip, sẽ cảm thấy mãnh liệt đến thế rằng mình đang đứng lên vì một điều gì đó, đến nỗi muốn từ bỏ mọi thứ khác vì nó, thậm chí từ bỏ cả anh và em. Để không một ai có thể phát hiện rồi chỉ trích. Chúng ta sẽ phải không chê trách vào đâu được.”

“Không! Anh không nghe đâu. Chúng ta sẽ chiến đấu, nhưng làm sao chúng ta có thể dấn sâu đến thế—những người vốn đứng ngoài như chúng ta—”

“Ngày mai anh SẼ đăng bài xã luận ấy chứ?”

“Ừ.”

“Chưa quá muộn để bỏ nó chứ?”

Ông nhìn chiếc đồng hồ phía trên bàn nàng—nó giống đồng hồ trường tiểu học một cách lố bịch đến nỗi lẽ ra hai bên phải treo chân dung George và Martha. “Ừm, không, đã quá muộn rồi—gần mười một giờ. Anh không thể về đến tòa soạn trước—muộn hơn nhiều.”

“Anh chắc tối nay lên giường sẽ không lo lắng về nó chứ? Anh yêu, em không muốn anh lo lắng chút nào! Anh chắc mình không muốn gọi điện bảo họ bỏ bài xã luận chứ?”

“Chắc. Tuyệt đối!”

“Em mừng lắm! Riêng em, em thà bị bắn còn hơn lén lút quanh quẩn, tê liệt vì sợ hãi. Cầu Chúa phù hộ anh!”

Nàng hôn ông rồi vội vã đi làm thêm một hai giờ nữa, còn ông lái xe về nhà, huýt sáo đầy vẻ dương dương tự đắc.

Nhưng trên chiếc giường gỗ óc chó đen đồ sộ, ông ngủ không ngon. Ông giật mình vì những tiếng động ban đêm của một căn nhà khung gỗ cũ—tiếng tường vách co giãn, tiếng chân những tên sát thủ không hình hài rón rén trên sàn gỗ suốt đêm dài.