Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 23

Chương 23 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây

Doremus thấp thỏm. Minute Men đã kéo đến, không phải cùng Shad mà cùng Emil và một viên tiểu đoàn trưởng lạ mặt từ Hanover, để khám xét thư từ riêng trong phòng làm việc của ông. Chúng khá lễ độ, nhưng kỹ lưỡng đến đáng sợ. Rồi, nhìn cảnh lộn xộn trong bàn giấy ở tòa soạn Informer, ông biết đã có kẻ lục lọi giấy tờ của mình tại đó. Emil tránh mặt ông ở văn phòng. Doremus bị gọi lên phòng Shad và bị cật vấn cộc cằn về việc thư từ qua lại với các nhân viên của Walt Trowbridge mà một tên tố giác nào đó đã báo cáo.

Bởi vậy Doremus thấp thỏm. Bởi vậy Doremus tin chắc ngày mình bị đưa vào trại tập trung đang đến gần. Trên phố, ông ngoái nhìn mọi người lạ có vẻ đang bám theo mình. Gã bán hoa quả Tony Mogliani—kẻ bênh vực hoa mỹ cho Windrip, cho Mussolini và cho miếng thuốc lá nhai như một phương thuốc trị đứt tay và bỏng—hỏi ông quá nhiều về những dự định sau khi ông “thôi làm ở tờ báo”; và có lần một gã lang thang tìm cách dò hỏi bà Candy, trong lúc cứ ngó lên các giá thức ăn trong kho, có lẽ để xem chúng có dấu hiệu vơi đi vì gia đình sắp đóng cửa bỏ trốn hay không... Nhưng cũng có thể gã lang thang ấy thật sự chỉ là một gã lang thang.

Giữa buổi chiều tại văn phòng, Doremus nhận được điện thoại của Buck Titus, nhà học giả kiêm nông dân kia:

“Khoảng chín giờ tối nay ông có ở nhà không? Tốt! Tôi phải gặp ông. Quan trọng! Này, liệu ông có thể gọi cả gia đình, Linda Pike và cậu Falck đến đó luôn được không? Tôi có một ý này. Quan trọng!”

Vì vào lúc này, những ý tưởng quan trọng thường liên quan đến chuyện bị bỏ tù, Doremus và đám phụ nữ trong nhà thấp thỏm chờ đợi. Lorinda bước vào, ríu rít nói cười—vì hễ trông thấy Emma là cô lại hơi ríu rít như thế—và Lorinda chẳng đem lại chút nhẹ nhõm nào. Julian rụt rè bước vào, và Julian cũng chẳng đem lại chút nhẹ nhõm nào. Không ai yêu cầu, bà Candy vẫn mang trà pha một chút rượu rum vào, và ở bà quả có đôi phần an ủi; nhưng tất cả vẫn chỉ là nỗi trì trệ của cảnh chờ đợi bồn chồn, cho đến khi Buck xộc vào, muộn mười phút và tuyết phủ trắng người.

“Xinchờlâu, nhưng tôi bận gọi điện. Có tin này, ngay ở tòa soạn ông cũng chưa biết đâu, Chuột Ngủ. Lửa rừng đang cháy đến gần hơn rồi. Chiều nay chúng bắt chủ bút tờ Rutland Herald—chưa đưa ra cáo buộc nào—không công bố gì cả—tôi nghe từ một lái buôn hoa quả mà tôi giao dịch ở Rutland. Tiếp theo sẽ đến lượt ông, Doremus. Tôi đoán chúng chỉ tạm để ông yên cho tới khi Staubmeyer moi hết đầu óc ông. Hoặc có lẽ Ledue có một ý hay ho nào đó để hành hạ ông bằng cách bắt ông chờ đợi. Dù sao ông cũng phải đi. Ngay ngày mai! Sang Canada! Ở luôn bên ấy! Đi ô tô. Giờ không thể đi máy bay nữa—chính phủ Canada đã chặn đường đó rồi. Ông, Emma, Mary, Dave, Sis và cả cái đoàn xiếc chết tiệt—có khi thêm cả Foolish, bà Candy và con hoàng yến nữa!”

“Không thể nào! Tôi phải mất hàng tuần mới chuyển những khoản đầu tư hiện có thành tiền được. Tôi nghĩ mình có thể gom hai mươi nghìn, nhưng phải mất hàng tuần.”

“Sang tên chúng cho tôi, nếu ông tin tôi—mà tốt nhất là nên tin! Tôi có thể bán hết mọi thứ thuận lợi hơn ông—tôi được lòng bọn Corpo hơn—vẫn bán ngựa cho chúng, và chúng tưởng tôi là hạng cha căng chú kiết mồm loa mép giải thích rông, sẵn sàng nhập bọn! Tôi có ngay một nghìn năm trăm đô-la Canada trong túi đây, để ông dùng bước đầu.”

“Chúng ta sẽ không bao giờ qua nổi biên giới. M.M. đang canh từng tấc đất, chỉ chực tìm những kẻ khả nghi như tôi.”

“Tôi có bằng lái Canada và biển đăng ký Canada, sẵn sàng lắp vào xe tôi—ta sẽ đi xe tôi—đỡ bị nghi hơn. Tôi có thể trông như một nông dân thứ thiệt—chắc vì tôi đúng là nông dân—nhân tiện, chính tôi sẽ lái xe đưa tất cả mọi người đi. Tôi cho tuồn mấy tấm biển vào dưới những chai bia trong một thùng bia đấy! Vậy là mọi thứ đã sẵn sàng, và ta sẽ khởi hành tối mai, nếu trời không quang quá—mong là có tuyết.”

“Nhưng Buck! Lạy Chúa! Tôi không bỏ trốn đâu. Tôi có phạm tội gì đâu. Tôi chẳng có lý do gì để chạy trốn cả!”

“Chỉ có cái mạng ông thôi, ông bạn, chỉ có cái mạng ông!”

“Tôi không sợ chúng.”

“Ồ, có đấy!”

“Ồ—thôi được—nếu ông nhìn theo cách ấy thì có lẽ tôi cũng sợ! Nhưng tôi sẽ không để một lũ điên và côn đồ có súng đuổi tôi ra khỏi đất nước mà tôi cùng tổ tiên mình đã dựng nên!”

Emma nghẹn lại vì cố nghĩ ra một lời nào đủ sức thuyết phục; Mary dường như đang khóc mà không có nước mắt; Sissy ré lên; Julian và Lorinda cùng cất tiếng rồi lại ngắt lời nhau; và chính bà Candy, người chẳng ai mời, đứng ở cửa mở đầu: “Đấy, đàn ông có phải thế không! Cứng đầu như la. Tất cả bọn họ. Không sót một người. Lại còn thích phô trương, cả lũ. Tất nhiên ông chẳng chịu dừng lại mà nghĩ xem đám đàn bà chúng tôi sẽ cảm thấy thế nào nếu ông bị lôi đi bắn chết! Ông cứ đứng chắn trước đầu máy xe lửa rồi tuyên bố rằng vì ông từng ở trong đội công nhân xây đường ray nên ông có quyền đứng đó hơn cả đầu máy; rồi khi nó đã cán qua ông và chạy mất, ông lại mong tất cả chúng tôi nghĩ ông anh hùng biết bao! Chà, có lẽ CÓ NGƯỜI gọi như thế là anh hùng, nhưng—”

“Chà, quỷ tha ma bắt, tất cả các người cứ xúm vào công kích tôi, làm tôi rối tung lên và ngăn tôi thi hành bổn phận đối với Quốc gia theo cách tôi hiểu—”

“Ông đã ngoài sáu mươi rồi, Doremus. Có lẽ giờ đây nhiều người trong chúng ta có thể làm tròn bổn phận từ Canada tốt hơn ở đây—như Walt Trowbridge,” Lorinda khẩn khoản. Emma nhìn cô bạn Lorinda chẳng mấy trìu mến.

“Nhưng cứ để bọn Corpo cướp đất nước mà không một ai phản đối ư! Không!”

“Chính kiểu lập luận ấy đã đẩy vài triệu người ra trận chịu chết, để biến thế giới thành nơi an toàn cho nền dân chủ và thành món chắc ăn cho chủ nghĩa Phát-xít!” Buck chế giễu.

“Bố! Đi với chúng con đi. Vì không có bố thì chúng con không thể đi được. Mà ở đây con bắt đầu sợ rồi.” Giọng Sissy cũng có vẻ sợ thật; Sissy bất khuất. “Chiều nay Shad chặn con trên phố, rủ con đi chơi với hắn. Hắn còn cù cằm con nữa, đáng yêu chưa! Nhưng nói thật, cái kiểu hắn cười nham nhở, như thể chắc mẩm sẽ có được con—làm con phát sợ!”

“Bố sẽ lấy khẩu súng săn rồi—” “Tôi sẽ giết thằng khốn—” “Cứ chờ đến khi tôi tóm được—” Doremus, Julian và Buck đồng thanh hét lên rồi trừng mắt nhìn nhau; sau đó cả ba cùng ngượng nghịu khi Foolish sủa ầm lên vì tiếng huyên náo, còn bà Candy, tựa vào khung cửa như một con cá tuyết đông cứng, khịt mũi: “Lại thêm mấy tay húc đầu máy xe lửa!”

Doremus bật cười. Chỉ một lần duy nhất trong đời, ông tỏ ra thiên tài khi bằng lòng: “Thôi được. Chúng ta sẽ đi. Nhưng cứ tưởng tượng tôi là một người có ý chí sắt đá và các người phải mất cả đêm mới thuyết phục nổi. Tối mai ta sẽ khởi hành.” Điều ông không nói ra là ông đã định, ngay khi đưa được gia đình sang Canada an toàn, có tiền trong ngân hàng và có lẽ kiếm được một công việc cho Sissy khuây khỏa, sẽ trốn khỏi họ và quay về với cuộc chiến chính đáng của mình. Ít nhất ông sẽ giết Shad trước khi chính mình bị giết.

Chỉ còn một tuần nữa là đến Giáng sinh, ngày lễ mà gia đình Jessup bao giờ cũng đón bằng niềm vui tưng bừng và vô số dải ruy-băng đủ màu; bởi vậy, cái ngày chuẩn bị cuống cuồng cho cuộc đào thoát ấy lại mang một vẻ hân hoan Giáng sinh kỳ lạ. Để tránh bị nghi ngờ, Doremus dành phần lớn thời gian ở tòa soạn, và có đến cả trăm lần ông ngỡ Staubmeyer đang liếc mình bằng cơn giận ngấm ngầm hệt như khi xưa hắn giơ thước dọa những đứa nói chuyện thì thầm cùng các loại tội phạm nhí khác ở trường. Nhưng ông nghỉ hai giờ vào buổi trưa, rồi đầu giờ chiều đã về nhà; và nỗi u uất kéo dài của ông tan biến trước viễn cảnh Canada và tự do, trong lúc ông hào hứng xem xét quần áo, chẳng khác nào chuẩn bị cho một chuyến câu cá. Họ làm việc trên gác, sau những tấm rèm đã buông kín, cảm thấy mình như những điệp viên trong một truyện của E. Phillips Oppenheim, bị vây hãm trong căn phòng ngủ công tước tối tăm, lát sàn đá của một quán trọ cổ ngay phía ngoài Grasse. Dưới nhà, bà Candy ra vẻ bận rộn một cách phô trương để mọi thứ trông vẫn bình thường—sau khi họ bỏ đi, bà và con hoàng yến sẽ ở lại, và bà phải tỏ ra kinh ngạc khi M.M. đến báo rằng gia đình Jessup dường như đã trốn thoát.

Cuối chiều hôm ấy, Doremus đã rút năm trăm đô-la từ mỗi ngân hàng địa phương, nói với họ rằng ông đang tính mua quyền chọn đối với một vườn táo. Ông là một con vật đã được thuần dưỡng quá kỹ trong đời sống gia đình nên không thể cười ầm lên thích thú, nhưng vẫn không khỏi nhận thấy rằng trong chuyến chạy sang Ai Cập này, bản thân ông chỉ mang theo toàn bộ số tiền có thể vơ được, cộng thêm thuốc lá, sáu chiếc khăn tay, hai đôi tất dự phòng, một cái lược, một bàn chải đánh răng và tập đầu bộ Sự suy tàn của phương Tây của Spengler—nhất quyết đó chẳng phải cuốn sách ông ưa thích, nhưng là cuốn ông đã cố ép mình đọc suốt nhiều năm trong các chuyến tàu—tóm lại, ông không mang theo thứ gì không thể nhét vào túi áo khoác; còn Sissy thì hiển nhiên cần toàn bộ đồ lót mới nhất cùng một bức chân dung Julian đóng khung lớn, Emma cần một tập ảnh Kodak ghi lại ba đứa con từ lúc một tuổi đến hai mươi tuổi, David cần chiếc máy bay mô hình mới, còn Mary cần mang theo mối căm hận âm thầm, u tối, nặng hơn nhiều chiếc rương cộng lại.

Julian và Lorinda có mặt để giúp họ; Julian cứ lẩn vào các góc nhà cùng Sissy.

Với Lorinda, Doremus chỉ có được một khoảnh khắc riêng tư... trong phòng tắm dành cho khách kiểu cũ.

“Linda. Ôi, lạy Chúa!”

“Chúng ta sẽ vượt qua! Ở Canada ông sẽ có thời gian hoàn hồn. Hãy tham gia cùng Trowbridge!”

“Phải, nhưng phải rời xa em—tôi đã hy vọng bằng cách nào đó, nhờ một phép màu nào đó, em và tôi có thể ở bên nhau chừng một tháng, chẳng hạn tại Monterey hay Venice hoặc Yellowstone. Tôi ghét cái cảnh cuộc đời không sao liền thành một mạch, không đi đến đâu, chẳng có kế hoạch hay ý nghĩa gì.”

“Nó đã có ý nghĩa rồi! Giờ đây không một nhà độc tài nào có thể bóp nghẹt hoàn toàn chúng ta! Đi nào!”

“Tạm biệt, Linda của tôi!”

Ngay cả lúc này ông vẫn không làm cô hoảng sợ bằng cách thú nhận rằng mình định quay lại, quay vào vòng nguy hiểm.

Ôm nhau bên chiếc bồn tắm cũ lót thiếc, phần gỗ sơn một màu nâu ảm đạm, trong căn phòng phảng phất mùi khí đốt từ chiếc bình nước nóng cũ—ôm nhau trong màn sương màu hoàng hôn trên đỉnh núi.

Bóng tối, gió sắc như dao, tuyết rơi hiểm độc và cố ý đến lạ; giữa cảnh ấy, Buck Titus vui vẻ ầm ĩ trong chiếc Nash già cỗi, cố làm cho mình trông giống nông dân hết mức, với chiếc mũ da hải cẩu sờn trụi từng mảng và chiếc áo khoác da chó xấu không thể tả. Doremus lại hình dung ông như một kỵ binh trong truyện của Đại úy Charles King, đang truy đuổi người Sioux qua những thảo nguyên bị bão tuyết che mù.

Họ chen chúc trong xe đến mức đáng ngại; Mary ngồi cạnh Buck, người cầm lái; ở ghế sau, Doremus kẹp giữa Emma và Sissy; dưới sàn, David, Foolish và chiếc máy bay đồ chơi cuộn tròn lẫn vào nhau, không sao phân biệt, bên dưới tấm chăn. Giá chở hành lý sau xe và hai vè trước chất đầy va-li phủ bạt.

“Lạy Chúa, ước gì anh được đi!” Julian rên rỉ. “Nghe này! Sis! Một ý tuyệt diệu như trong truyện gián điệp! Nhưng anh nói nghiêm túc đấy: Hãy gửi bưu thiếp phong cảnh về cho ông anh—hình nhà thờ các thứ—chỉ ký tên ‘Jane’—và bất cứ điều gì em viết về nhà thờ, anh sẽ hiểu thật ra em muốn nói điều ấy về em và—Ôi, nguyền rủa mọi chuyện bí mật! Anh muốn có EM, Sissy!”

Bà Candy nhét vội một gói đồ vào giữa mớ hành lý vốn đã chật không chịu nổi và có vẻ sắp đổ ập xuống đầu gối Doremus cùng đầu David, rồi gắt: “Chà, nếu mọi người NHẤT ĐỊNH phải bay nhảy khắp đất nước—Đây là bánh ga-tô dừa nhiều lớp.” Bà dữ dằn nói thêm: “Ra khỏi góc phố rồi thì cứ quẳng cái thứ ngu xuẩn ấy xuống mương nếu muốn!” Bà vừa nức nở vừa chạy vào bếp, nơi Lorinda đứng lặng trong khung cửa sáng đèn, hai bàn tay run rẩy vươn về phía họ.

Chiếc xe đã chòng chành trong tuyết trước khi họ lén lút xuyên qua Fort Beulah theo những phố sau tối mờ rồi bắt đầu lao vun vút về phương bắc.

Sissy vui vẻ cất tiếng hát: “Nào, Giáng sinh ở Canada! Chơi ky và uống bia, với thật nhiều nhựa ruồi!”

“Ồ, ở Canada có Ông già Noel không ạ?” Giọng David vọng lên, ngạc nhiên, trẻ thơ, hơi nghèn nghẹt dưới tấm chăn phủ đùi và đôi tai lông lá của Foolish.

“TẤT NHIÊN là có rồi, con yêu!” Emma trấn an nó, rồi nói với những người lớn: “Thấy chưa, có đáng yêu không chứ!”

Sissy thì thầm với Doremus: “Đáng yêu quá đi chứ. Chiều nay con mất mười phút mới dạy nó nói được câu ấy! Nắm tay con đi. Mong là Buck biết lái xe!”

Buck Titus thuộc mọi con đường hẻo lánh từ Fort Beulah tới biên giới, nhất là khi thời tiết khủng khiếp như đêm nay. Qua khỏi Trianon, ông cho xe bò lên những con đường rãnh sâu, nơi nếu gặp xe đi ngược chiều thì một bên phải lùi lại. Lên những con dốc khiến chiếc xe gõ lạch cạch và thở hồng hộc, vào vùng đồi núi cô quạnh, theo những con đường ngoằn ngoèo, họ giật nảy người tiến về phía Canada. Tuyết ướt bọc kín kính chắn gió rồi đông cứng lại, và Buck phải lái với đầu thò qua cửa sổ mở; luồng gió buốt ùa vào, quẩn quanh những chiếc cổ cứng đờ của họ.

Phần lớn thời gian Doremus chẳng nhìn thấy gì ngoài gáy Buck vặn nghiêng, căng cứng, và tấm kính chắn gió đóng băng. Chỉ thỉnh thoảng một ngọn đèn nằm xa bên dưới mặt đường cho biết họ đang trượt dọc một con đường men theo sườn núi; nếu xe trượt khỏi đó, họ sẽ tiếp tục rơi xuống một trăm bộ, hai trăm bộ—có lẽ lộn hết vòng này đến vòng khác. Có lần xe trượt thật, và trong bốn giây dài như vĩnh cửu khi tất cả nín thở, Buck giật xe lao lên bờ dốc bên đường, lại chúi xuống phía trái, rồi cuối cùng nắn cho thẳng—và tiếp tục phóng đi như chẳng có gì xảy ra, trong lúc Doremus thấy hai đầu gối bủn rủn.

Suốt một hồi lâu, ông cứ cứng người vì sợ, rồi lại chìm vào khốn khổ, lạnh quá và ù tai quá đến mức chẳng cảm thấy gì ngoài cơn buồn nôn chậm chạp mỗi khi xe chòng chành. Có lẽ ông đã ngủ—ít nhất, ông bừng tỉnh, và khi tỉnh lại thì có cảm giác mình đang lo lắng đẩy chiếc xe lên dốc trong lúc nó giật nảy, khục khặc cố leo qua đoạn đường trơn. Giả sử động cơ chết máy—giả sử phanh không giữ nổi và họ trượt lùi xuống dốc, quay cuồng, văng khỏi đường rồi lao xuống—Hết giả sử này đến giả sử khác hành hạ ông từng giờ.

Rồi ông thử thức tỉnh táo, tươi vui và tỏ ra hữu ích. Ông nhận thấy tấm kính chắn gió viền băng, được ánh đèn hắt từ mặt tuyết phía trước chiếu sáng, là cả một phiến kim cương. Ông có nhận thấy, nhưng không sao khiến mình nghĩ kim cương là thứ gì đáng kể, ngay cả khi chúng kết thành cả phiến.

Ông thử trò chuyện.

“Vui lên nào. Bình minh ta sẽ ăn sáng—bên kia biên giới!” ông thử động viên Sissy.

“Ăn sáng!” cô cay đắng đáp.

Và họ tiếp tục nghiến bánh đi tới, trong cỗ quan tài đang chuyển động ấy, khi trên toàn thế gian chỉ còn phiến kim cương và bóng đen của Buck là sống.

Sau không biết bao nhiêu giờ, chiếc xe chồm lên rồi nhào xuống, lại chồm lên nữa. Động cơ rú hết tốc lực; âm thanh dâng thành tiếng gầm không sao chịu nổi; vậy mà chiếc xe dường như chẳng nhúc nhích. Động cơ đột ngột tắt ngấm. Buck chửi thề, rụt đầu vào trong xe như con rùa, và bộ đề nghiến hồi lâu, rền rĩ. Động cơ lại gầm lên, lại tắt. Họ nghe những cành cây cứng đờ va lách cách, nghe Foolish rên trong giấc ngủ. Chiếc xe là một căn lều giữa chốn hoang vu đang bị bão đe dọa. Sự im lặng dường như đang chờ đợi, cũng như họ đang chờ đợi.

“Có... có trục trặc à?” Doremus hỏi.

“Mắc kẹt rồi. Không bám đường được. Đâm phải một ụ tuyết ướt—nước thoát ra từ cái cống bị vỡ, tôi đoán thế. Quỷ thật! Phải xuống xem sao.”

Bên ngoài xe, khi Doremus rón rén bước xuống khỏi bậc lên xuống trơn trượt, trời lạnh buốt trong cơn gió độc địa. Người ông cứng đờ đến nỗi gần như không đứng nổi.

Theo thói thường của người ta khi cảm thấy mình quan trọng và có lời khuyên hữu ích, Doremus lấy đèn pin soi ụ tuyết, rồi Sissy cũng lấy đèn soi ụ tuyết, rồi Buck sốt ruột giật lấy đèn từ tay họ và nhìn kỹ đến hai lượt.

“Kiếm ít—” và “Cành bụi chắc có ích đấy,” Sissy và Buck đồng thanh nói, trong khi Doremus xoa đôi tai lạnh cóng.

Cả ba chạy lui chạy tới, tha về những đoạn cành bụi đặt trước các bánh xe, trong khi Mary lịch sự hỏi từ bên trong: “Con giúp được không?” mà dường như chẳng ai buồn trả lời cô.

Đèn pha rọi rõ một túp lều bỏ hoang bên đường; căn lều gỗ thông xám không sơn, kính cửa sổ vỡ, cửa ra vào cũng chẳng có. Emma vừa thở dài vừa ra khỏi xe, bước qua lớp tuyết lổn nhổn thận trọng như một con ngựa chạy nước kiệu ở cuộc trình diễn ngựa, rồi khiêm nhường nói: “Căn nhà nhỏ đằng kia—có lẽ em vào đó đun ít cà phê nóng bằng bếp cồn—xe không còn chỗ để bình giữ nhiệt. Cà phê nóng nhé, Dormouse?”

Vào lúc này, đối với Doremus, giọng bà nghe chẳng giống một người vợ chút nào, mà sáng suốt hệt như bà Candy.

Khi chiếc xe rốt cuộc cũng vùng vẫy leo lên được lối cành cây và đứng thở phì phò an toàn bên kia ụ tuyết, họ vào túp lều kín gió uống cà phê với những khoanh bánh dừa béo ngậy của bà Candy. Doremus ngẫm nghĩ: “Nơi này dễ chịu thật. Mình thích nơi này. Nó không nảy xóc hay trượt bánh. Mình không muốn rời nơi này.”

Nhưng ông vẫn rời đi. Sự bất động vững chãi của túp lều đã ở lại phía sau, sau nhiều dặm đường tối tăm, và họ lại chòng chành, lắc lư, nôn nao và rét buốt không sao tránh khỏi. David khi thì khóc, khi lại ngủ thiếp đi. Foolish thức giấc, ho như dò hỏi rồi quay lại giấc mơ săn thỏ. Còn Doremus ngủ, đầu lắc lư như đỉnh cột buồm giữa những đợt sóng dài, vai tựa vào Emma, bàn tay ấm áp ôm lấy tay Sissy, và tâm hồn chìm trong niềm hoan lạc không tên.

Ông tỉnh dậy giữa buổi rạng đông mờ đục vì tuyết. Chiếc xe đang đỗ ở nơi có vẻ là một xóm nhỏ tại ngã tư, còn Buck soi đèn pin xem bản đồ.

“Đến đâu chưa?” Doremus thì thầm.

“Chỉ còn cách biên giới vài dặm.”

“Có ai chặn chúng ta không?”

“Không. Ồ, ta sẽ qua được thôi, ông bạn già.”

Rời East Berkshire, Buck không đi theo con đường chính tới biên giới mà rẽ vào một lối mòn cũ xuyên rừng, ít người qua lại đến nỗi hai vệt bánh xe nom như đôi rắn. Doremus không nói gì, nhưng những người khác vẫn cảm thấy sự căng thẳng nơi ông, nỗi lo âu giống như đang lắng nghe tiếng kẻ thù trong bóng tối. David ngồi dậy, quấn tấm chăn xe hơi màu xanh quanh mình. Foolish giật mình, khịt mũi, ra vẻ phật ý, nhưng rồi bắt được tinh thần của giây phút ấy, nó đặt một chân lên đầu gối Doremus như để an ủi và cứ khăng khăng bắt tay ông hết lần này đến lần khác, nghiêm trang như một nghị sĩ Venice hay một người lo việc tang lễ.

Họ đổ xuống vùng tranh tối tranh sáng của một hõm đất có cây rừng dựng thành vách. Một ngọn đèn pha quét tới rồi nóng rực dừng lại trên họ, làm họ lóa mắt đến nỗi Buck suýt lao khỏi đường.

“Quỷ thật,” ông nhẹ nhàng nói. Không ai khác lên tiếng.

Ông cho xe bò dần tới ngọn đèn, được đặt trên một bục trước căn chòi nhỏ. Hai Minute Men đứng giữa đường, toàn thân đẫm ánh sáng từ chiếc xe. Họ còn trẻ, mang dáng vẻ dân quê, nhưng được trang bị những khẩu súng trường liên thanh hết sức hữu hiệu.

“Các người định đi đâu?” người lớn tuổi hơn hỏi, giọng cũng khá ôn hòa.

“Montreal, nơi chúng tôi sinh sống.” Buck đưa giấy phép xe của Canada ra... Động cơ xăng và đèn điện, vậy mà Doremus lại thấy người lính biên phòng như một lính gác năm 1864, đang soi giấy thông hành dưới ánh đèn lồng, bên cạnh một cỗ xe nông trại giấu những điệp viên của Tướng Joe Johnston cải trang thành tá điền đồn điền.

“Chắc là không có vấn đề gì. Giấy tờ có vẻ hợp lệ. Nhưng chúng tôi đã gặp vài chuyện rắc rối với đám người tị nạn. Các người phải đợi Chỉ huy Tiểu đoàn tới—có lẽ khoảng trưa.”

“Nhưng lạy Chúa, ông thanh tra, chúng tôi không thể đợi được! Mẹ tôi đang ốm nặng lắm, ở Montreal.”

“Ừ, cái cớ ấy tôi nghe rồi! Và lần này có khi lại là thật. Nhưng e là các người vẫn phải đợi Chỉ huy Tiểu đoàn. Nếu muốn thì cả nhà có thể vào trong ngồi cạnh lò sưởi.”

“Nhưng chúng tôi phải—”

“Ông nghe tôi nói rồi đấy!” Hai Minute Men mân mê súng trường.

“Được thôi. Nhưng thế này nhé. Chúng tôi sẽ quay lại East Berkshire, ăn sáng, rửa ráy rồi trở lại đây. Ông nói là buổi trưa phải không?”

“Được! Mà này, ông bạn, kể cũng hơi lạ đấy, sao ông lại đi đường phụ này trong khi có một con đường lớn tốt hết chỗ chê. Tạm biệt. Đi đứng cho đàng hoàng... Chỉ đừng thử lại lần nữa! Lần sau Chỉ huy Tiểu đoàn có thể ở đây—mà ông ta không phải dân cày như ông với tôi đâu!”

Khi lái xe rời đi, những người tị nạn có cảm giác khó chịu rằng đám lính gác đang cười nhạo họ.

Họ thử qua ba trạm biên phòng, và ở cả ba trạm đều bị đuổi trở lại.

“Thế nào?” Buck hỏi.

“Ừ. Chắc đành vậy. Về nhà thôi. Đến lượt tôi lái,” Doremus mệt mỏi nói.

Nỗi nhục nhã của cuộc tháo lui càng nặng nề hơn vì chẳng người lính gác nào buồn làm gì ngoài việc cười nhạo họ. Họ đã mắc bẫy quá chặt, khiến những kẻ đặt bẫy chẳng cần bận tâm. Cảm xúc rõ rệt duy nhất của Doremus khi cả bọn cụp đuôi quay về với nụ cười khinh khỉnh của Shad Ledue và câu “Chà, tôi CHƯA TỪNG THẤY!” của bà Candy, là nỗi tiếc nuối vì ông đã không bắn lấy một tên lính gác; và ông giận dữ gào lên:

“Giờ thì tôi hiểu vì sao những người như John Brown lại trở thành những kẻ giết người điên cuồng!”