Điều đó không thể xảy ra ở đây — Chương 26
Chương 26 / 38 · Bài review Điều đó không thể xảy ra ở đây
Phòng sắp chữ của Daily Informer đóng cửa lúc mười một giờ đêm, vì báo phải được phân phối tới những làng cách xa bốn mươi dặm và không có ấn bản thành phố muộn hơn. Dan Wilgus, quản đốc, nán lại sau khi những người khác đã về, sắp chữ cho một tấm áp phích Minute Men thông báo rằng ngày mồng chín tháng Ba sẽ có một cuộc diễu hành trọng thể, và tiện thể rằng Tổng thống Windrip đang thách thức cả thế giới.
Dan dừng tay, đưa mắt cảnh giác nhìn quanh rồi bước thình thịch vào kho. Dưới ánh sáng của một bóng điện bụi bặm, nơi ấy giống như nấm mồ chôn những tin tức đã chết, với những tấm áp phích đỏ đen cổ lỗ về các hội chợ hạt Scotland và những bản in thử các bài thơ năm câu tục tĩu dán trên tường. Từ một khay chữ cỡ tám point, trước kia dùng để sắp chữ cho các tập sách mỏng nhưng đã bị máy đúc chữ monotype thay thế, Dan nhặt những con chữ ở mỗi ngăn trong vài ngăn khác nhau, gói chúng bằng giấy in vụn rồi nhét vào túi áo khoác. Những ô chữ bị cướp nom chỉ còn đầy một nửa, và để bù lại, anh làm một việc đáng lẽ phải khiến bất kỳ thợ in tử tế nào cũng kinh hãi, ngay cả khi người ấy đang đình công. Anh lấp đầy chúng không phải bằng chữ lấy từ một khay tám point khác, mà bằng chữ mười point cũ.
Daniel, to lớn và lông lá, tằn tiện nhón từng con chữ tí hon, trông ngớ ngẩn như một con voi đang giả làm gà mái.
Anh tắt đèn tầng ba rồi bước rầm rập xuống cầu thang. Anh liếc vào phòng biên tập. Không có ai ở đó ngoài Doc Itchitt, ngồi trong một quầng sáng nhỏ mà tấm che mắt của lưỡi trai hắt lên khuôn mặt bệnh hoạn của hắn một sắc xanh lục. Hắn đang sửa một bài của viên tổng biên tập hữu danh vô thực, Thiếu úy Emil Staubmeyer, vừa cười khẩy vừa dùng cây bút chì đen to tướng xẻ nát bài viết. Hắn giật mình ngẩng đầu.
“Chào Doc.”
“Chào Dan. Làm muộn à?”
“Ừ. Vừa làm xong ít việc in thuê. Chúc ngủ ngon.”
“Này Dan, dạo này anh có gặp lão Jessup không?”
“Chẳng nhớ lần gần nhất gặp lão là khi nào nữa, Doc. À phải, hai hôm trước tôi đụng lão ở hiệu Rexall.”
“Vẫn cay cú với chế độ như trước chứ?”
“Ồ, lão chẳng nói gì cả. Đồ già ngu ngốc! Dù lão không ưa tất cả những chàng trai can trường mặc quân phục thì lão cũng phải thấy rằng Thủ lĩnh đã ở đây là ở luôn, có trời chứng giám!”
“Tất nhiên là phải thấy chứ! Mà chế độ này tuyệt thật. Giờ người ta có thể tiến thân trong nghề báo, không còn bị một lũ hợm hĩnh kìm lại chỉ vì chúng tưởng mình học cao hiểu rộng lắm sau mấy năm đại học!”
“Đúng thế. Thôi, kệ xác Jessup với cả lũ già cứng đờ ấy. Chúc ngủ ngon, Doc!”
Dan và Đồng chí Itchitt nghiêm mặt chào kiểu M.M., cánh tay duỗi thẳng. Dan bước thình thịch xuống phố, hướng về nhà. Giữa một dãy phố, anh dừng trước Quán rượu Billy, gác chân lên moay-ơ một chiếc Ford cũ bẩn thỉu để buộc dây giày. Trong lúc buộc lại—sau khi đã tự tháo nó ra—anh nhìn xuôi nhìn ngược con phố, trút những gói đồ trong túi vào một chiếc xô hứng nhựa cây méo mó đặt trên ghế trước của chiếc xe, rồi đường bệ bước tiếp.
Từ quán rượu bước ra Pete Vutong, một nông dân Canada gốc Pháp sống trên núi Terror. Pete rõ ràng đã say. Anh đang hát khúc hát có từ thời tiền sử “Hi lee, hi low” bằng thứ tiếng mà anh tưởng là tiếng Đức, đại để: “By unz gays immer, yuh longer yuh slimmer.” Anh lảo đảo đến nỗi phải kéo lê mình vào xe, rồi lái theo những đường ngoằn ngoèo đầy ngẫu hứng cho tới khi quẹo qua góc phố. Bấy giờ anh bỗng tỉnh táo đến kinh ngạc; và tốc độ chiếc Ford lách cách lao ra khỏi thị trấn cũng đáng kinh ngạc không kém.
Pete Vutong không phải một Đặc vụ Bí mật tài giỏi cho lắm. Anh hơi lộ liễu. Nhưng dù sao Pete cũng mới làm gián điệp được một tuần.
Trong tuần ấy, Dan Wilgus đã bốn lần thả những gói nặng vào chiếc xô hứng nhựa cây trên xe Ford.
Pete chạy qua cổng địa phận của Buck Titus, giảm tốc, thả chiếc xô xuống một con mương rồi phóng nhanh về nhà.
Ngay lúc rạng đông, Buck Titus ra ngoài đi dạo cùng ba con chó săn sói Ireland, đá chiếc xô nhựa cây lên rồi chuyển những gói đồ vào túi mình.
Và chiều hôm sau, dưới tầng hầm nhà Buck, Dan Wilgus đang sắp chữ cỡ tám point cho một tập sách mỏng nhan đề “Các Corpo Đã Giết Bao Nhiêu Người?” Tác phẩm ký tên “Spartan,” mà Spartan là một trong vài bút danh của ông Doremus Jessup.
Tất cả bọn họ—tất cả những người cầm đầu chi bộ Tân Địa hạ địa phương—đều khá mừng khi có lần, trên đường tới nhà Buck, Dan bị những M.M. anh không quen khám xét, và người ta chẳng tìm thấy trên người anh vật liệu in ấn nào, cũng không có tài liệu gì buộc tội được hơn mấy mảnh giấy cuốn thuốc lá.
Các Corpo đã ban hành quy định buộc mọi người buôn bán máy móc và giấy in phải có giấy phép và phải lưu danh sách người mua, vì thế nếu không mua lậu thì không thể nào kiếm được vật tư để phát hành tài liệu phản nghịch. Dan Wilgus ăn cắp con chữ; Dan, Doremus, Julian và Buck cùng nhau lấy trộm nguyên một chiếc máy in tay cũ từ tầng hầm Daily Informer; còn giấy thì được tay buôn lậu kỳ cựu John Pollikop đưa lén từ Canada sang, và ông ta mừng rỡ được trở lại nghề cũ tốt đẹp mà việc bãi bỏ luật cấm rượu đã cướp mất của mình.
Chưa chắc Dan Wilgus đã chịu tham gia một việc xa rời máy chấm công và những ống nhổ nơi công sở đến thế chỉ vì lòng phẫn nộ trừu tượng đối với Windrip hay Ủy viên Hạt Ledue. Một phần, tình cảm dành cho Doremus đã đẩy anh vào con đường phản loạn; phần khác là nỗi phẫn nộ với Doc Itchitt, kẻ công khai hân hoan vì tất cả các nghiệp đoàn thợ in đã bị nhấn chìm trong những liên hiệp của chính phủ. Hoặc có lẽ vì Doc chế giễu riêng anh trong đôi ba dịp—không quá một hai lần mỗi tuần—khi trước ngực áo anh dính nước thuốc lá.
Dan càu nhàu với Doremus: “Được rồi, sếp, chắc có lẽ tôi sẽ nhập bọn với ông. Mà này, khi ta khởi động được cuộc cách mạng này, hãy để tôi lái chiếc xe tù chở Doc nhé. Này, nhớ Chuyện hai thành phố không? Sách hay đấy. Này, hay ta xuất bản một cuốn tiểu sử hài hước về Windrip đi? Ông chỉ cần kể đúng sự thật là đủ!”
Buck Titus, vui như một cậu bé được rủ đi cắm trại, hiến ngôi nhà biệt lập của mình, đặc biệt là tầng hầm rộng mênh mông, làm trụ sở cho Tân Địa hạ; và Buck, Dan cùng Doremus vạch ra những âm mưu thâm độc nhất bên những ly rượu rum pha nóng cạnh lò sưởi nhà Buck.
Chi bộ Tân Địa hạ ở Fort Beulah, với thành phần vào giữa tháng Ba, vài tuần sau khi Doremus thành lập, gồm chính ông, các con gái ông, Buck, Dan, Lorinda, Julian Falck, bác sĩ Olmsted, John Pollikop, Cha Perefixe (và ông tranh luận với Dan theo thuyết bất khả tri, với Pollikop vô thần, còn nhiều hơn từ trước tới nay ông từng tranh luận với Buck), bà Henry Veeder, có chồng là nông dân đang bị giam trong Trại Tập trung Trianon, Harry Kindermann, người Do Thái bị tước đoạt tài sản, Mungo Kitterick, vị luật sư chẳng có chút gì Do Thái và cũng chẳng có chút gì xã hội chủ nghĩa ấy, Pete Vutong và Daniel Babcock, hai nông dân, cùng khoảng một tá người khác. Mục sư Falck, Emma Jessup và bà Candy ít nhiều là những công cụ không hay biết của Tân Địa hạ. Nhưng dù họ là ai, thuộc tín ngưỡng hay địa vị nào, Doremus cũng tìm thấy trong tất cả bọn họ niềm nhiệt thành tôn giáo mà ông từng thấy thiếu vắng trong các nhà thờ; và nếu bàn thờ, nếu những cửa sổ kính muôn màu, chưa bao giờ là những vật đặc biệt thiêng liêng đối với ông, thì giờ đây ông đã hiểu chúng, khi hân hoan ngắm thứ đồ phế thải thiêng liêng như những con chữ sứt sẹo và chiếc máy in tay kẽo kẹt.
Có lần lại là ông Dimick ở Albany; có lần là một nhân viên bảo hiểm khác—người cười ha hả trước vận may tình cờ được bảo hiểm chiếc Lincoln mới của Shad Ledue; có lần là một người Armenia bán rong thảm; có lần là ông Samson ở Burlington đi tìm gỗ thông vụn làm bột giấy; nhưng dù là ai, tuần nào Doremus cũng nhận được tin từ Tân Địa hạ. Ông bận rộn hơn bất cứ thời nào còn làm báo, và sung sướng như trong chuyến phiêu lưu thuở thanh niên ở Boston.
Vừa khe khẽ hát vừa vui vẻ hết sức, ông vận hành chiếc máy in nhỏ, bàn đạp chân nện thình-thịch-thình-thịch đầy hào sảng, và khâm phục tài nghệ của chính mình trong lúc đưa từng tờ giấy vào. Lorinda học Dan Wilgus cách sắp chữ, đầy nhiệt tình nhưng chẳng mấy chính xác với ei và ie. Emma, Sissy và Mary gấp các tờ tin, khâu những tập sách mỏng bằng tay; tất cả cùng làm việc trong tầng hầm cũ có tường gạch cao, nồng mùi mùn cưa, vôi và táo mục.
Ngoài những tập sách mỏng của Spartan và Anthony B. Susan—tức Lorinda, trừ các ngày thứ Sáu—ấn phẩm lậu chủ yếu của họ là Vermont Vigilance, một tuần báo bốn trang thường chỉ có hai trang và, nhờ sức sống không gì câu thúc nổi của Doremus, mỗi tuần ra chừng ba kỳ. Báo đăng đầy những tường thuật được chuyển lậu từ các chi bộ Tân Địa hạ khác, cùng các bài in lại từ Lance for Democracy của Walt Trowbridge và từ báo chí Canada, Anh, Thụy Điển, Pháp; các phóng viên của họ ở Mỹ dùng điện thoại đường dài đưa tin ra ngoài—những tin mà Bộ trưởng Giáo dục Macgoblin, người đứng đầu cơ quan báo chí chính phủ, phải dành phần lớn thời gian để phủ nhận. Một phóng viên Anh đã dùng điện thoại đường dài gọi sang Thành phố Mexico để chuyển ra khỏi nước tin vị hiệu trưởng bảy mươi hai tuổi của Đại học Southern Illinois bị sát hại, bắn vào lưng “trong khi tìm cách trốn thoát”; từ đó câu chuyện được tiếp chuyển tới London.
Doremus phát hiện ra rằng cả ông lẫn bất kỳ người dân nhỏ bé nào khác đều chưa từng nghe được một phần trăm những gì đang diễn ra trên đất Mỹ. Windrip và Đồng bọn, cũng như Hitler và Mussolini, đã khám phá ra rằng một nhà nước hiện đại, bằng ba biện pháp: kiểm soát mọi tin tức trên báo chí, đập tan ngay từ lúc manh nha bất kỳ hội đoàn nào có thể trở nên nguy hiểm, và giữ toàn bộ súng máy, đại bác, xe bọc thép cùng máy bay trong tay chính phủ, có thể thống trị khối dân chúng phức tạp thời hiện đại hiệu quả hơn bất cứ thời trung cổ nào, khi nông dân nổi dậy chỉ được trang bị chĩa xỉa và thiện chí, nhưng Nhà nước cũng chẳng được trang bị hơn họ bao nhiêu.
Những tin tức khủng khiếp, khó tin cứ dồn tới Doremus, cho đến khi ông nhận ra mạng sống của chính mình, của Sissy, Lorinda và Buck, chỉ là những ngẫu nhiên không quan trọng.
Ở North Dakota, hai người muốn trở thành lãnh tụ nông dân bị bắt chạy trước một chiếc xe M.M. qua những đụn tuyết tháng Hai, cho tới khi họ ngã quỵ, không còn hơi thở; họ bị đánh bằng bơm lốp xe cho đến khi lại lảo đảo bước tiếp, lại ngã xuống, rồi bị bắn vào đầu, máu họ bôi nhòe tuyết thảo nguyên.
Tổng thống Windrip, dường như đã trở nên bồn chồn hơn hẳn những ngày trơ tráo trước kia, trông thấy hai vệ sĩ riêng đang ghé vào nhau cười khúc khích trong phòng đợi trước văn phòng mình, liền thét lên, giật khẩu súng lục tự động khỏi bàn và bắt đầu bắn họ. Ông ta bắn rất tồi. Các nghi can phải được súng lục của chính những vệ sĩ đồng đội kết liễu.
Một đám thanh niên không mặc bất cứ loại đồng phục nào đã xé quần áo của một nữ tu tại quảng trường nhà ga ở Kansas City rồi đuổi theo bà, dùng tay không đánh bà. Một lúc sau cảnh sát mới ngăn họ lại. Không ai bị bắt.
Ở Utah, một Ủy viên Hạt không theo đạo Mormon đã trói căng một trưởng lão Mormon trên một phiến đá trơ trụi; vì nơi ấy ở độ cao lớn, vị trưởng lão lập tức run rẩy và thấy ánh nắng chói gây khá nhiều khó chịu cho mắt—bởi trước đó viên Ủy viên đã chu đáo cắt bỏ mí mắt ông. Các thông cáo báo chí của chính phủ nhấn mạnh việc kẻ tra tấn bị Ủy viên Khu vực khiển trách và cách chức. Chúng không nhắc đến việc hắn được bổ nhiệm lại tại một hạt ở Florida.
Những người đứng đầu Cartel Thép tái tổ chức, khá nhiều người trong số họ từng là lãnh đạo các công ty thép thời trước Windrip, đã khoản đãi Bộ trưởng Giáo dục Macgoblin và Bộ trưởng Chiến tranh Luthorne bằng một lễ hội dưới nước ở Pittsburgh. Phòng ăn của một khách sạn lớn được biến thành bể nước thơm mùi hoa hồng, còn những người dự tiệc nổi trên một chiếc thuyền La Mã mạ vàng. Các nữ hầu bàn là những cô gái khỏa thân, bơi tới thuyền một cách ngộ nghĩnh, tay nâng khay và, thường xuyên hơn, những xô rượu vang.
Ngoại trưởng Lee Sarason bị một cảnh sát bắt dưới tầng hầm của một câu lạc bộ thiếu niên sang trọng ở Washington với những cáo buộc không được nêu rõ; viên cảnh sát vừa nhận ra Sarason liền xin lỗi và thả ông ta, rồi ngay đêm ấy bị một tên trộm bí ẩn bắn chết trên giường.
Albert Einstein, người từng bị trục xuất khỏi Đức vì tội tận tụy đáng lên án với toán học, hòa bình thế giới và đàn vĩ cầm, nay lại bị trục xuất khỏi Mỹ cũng vì những tội ấy.
Bà Leonard Nimmet, vợ một mục sư giáo đoàn ở Lincoln, Nebraska, có chồng bị đưa vào trại tập trung vì một bài giảng chủ hòa, đã bị bắn xuyên qua cánh cửa và chết khi bà từ chối mở cửa cho một toán M.M. lục soát tìm tài liệu phản loạn.
Ở Rhode Island, cửa một giáo đường Do Thái chính thống nhỏ nằm dưới tầng hầm bị khóa từ bên ngoài sau khi những bình thủy tinh mỏng đựng khí carbon monoxide được ném vào. Các cửa sổ đã bị đóng đinh kín, mà dù sao thì mười chín người trong giáo đoàn cũng không ngửi thấy khí độc cho tới khi quá muộn. Tất cả được tìm thấy gục trên sàn, râu chĩa lên. Tất cả đều ngoài sáu mươi tuổi.
Tom Krell—nhưng trường hợp của ông ta quả thật rất tệ, vì ông ta thực sự bị bắt quả tang mang theo một bản Lance for Democracy cùng giấy tờ chứng minh mình là liên lạc viên của Tân Địa hạ—cũng lạ, bởi ai nấy vẫn kính trọng ông như một nhân viên hành lý đứng đắn, tử tế, chẳng có chút óc tưởng tượng nào tại một ga đường sắt làng ở New Hampshire—đã bị thả xuống một cái giếng có năm bộ nước, một cái giếng xi măng thành nhẵn, rồi cứ thế bị bỏ mặc dưới đó.
Cựu Thẩm phán Tối cao Pháp viện Hoblin ở Montana bị lôi khỏi giường lúc đêm khuya và thẩm vấn liên tục suốt sáu mươi giờ với cáo buộc thư từ qua lại với Trowbridge. Người ta nói viên thẩm vấn trưởng là một kẻ mà nhiều năm trước, Thẩm phán Hoblin từng kết án vì tội cướp của và hành hung.
Chỉ trong một ngày, Doremus nhận được báo cáo rằng bốn hội văn học hoặc kịch nghệ khác nhau—một của người Phần Lan, một của người Hoa, một của dân Iowa và một thuộc về một nhóm thợ mỏ pha trộn trên dãy Mesaba, Minnesota—đã bị giải tán, các viên chức của họ bị đánh đập, phòng hội bị đập phá, những cây đàn dương cầm cũ bị hủy hoại, với cáo buộc họ tàng trữ vũ khí trái phép; trong từng trường hợp, các hội viên đều tuyên bố đó là những khẩu súng lục cổ lỗ dùng trong các vở diễn. Và trong tuần ấy, ba người đã bị bắt—ở Alabama, Oklahoma và New Jersey—vì sở hữu những cuốn sách mang tính lật đổ sau đây: Vụ án mạng Roger Ackroyd của Agatha Christie (mà cũng công bằng thôi, vì chị dâu của một ủy viên hạt ở Oklahoma mang họ Ackroyd); Đợi Lefty của Clifford Odets; và Đồi Tháng Hai của Victoria Lincoln.
“Nhưng khối chuyện như thế này đã xảy ra từ trước khi Buzz Windrip lên nắm quyền cơ mà, Doremus,” John Pollikop khăng khăng. (Mãi đến khi họ gặp nhau trong căn hầm thú vị vì hết sức bất hợp pháp ấy, anh mới gọi Doremus bằng một cái tên khác ngoài “ông Jessup”.) “Trước kia ông chẳng bao giờ nghĩ ngợi về chúng, vì chúng chỉ là tin thường nhật để nhét vào báo. Những chuyện như tá điền lĩnh canh và mấy cậu trai Scottsboro, âm mưu của bọn bán buôn California chống lại nghiệp đoàn nông nghiệp, chế độ độc tài ở Cuba, rồi cái cách bọn cảnh sát phó giả hiệu ở Kentucky bắn thợ mỏ đình công. Và ông cứ tin tôi đi, Doremus, chính cái lũ phản động đã gây ra những tội ác ấy là những tay lớn đang thân thiết với Windrip. Điều làm tôi sợ là nếu Walt Trowbridge có phát động được một cuộc nổi dậy nào đó và đá Buzz ra khỏi ghế, thì chính lũ kền kền ấy sẽ bỗng trở nên yêu nước, dân chủ và nghị trường hết sức, hùa theo Walt, rồi vẫn cứ chia phần chiến lợi phẩm như thường.”
“Vậy là Karl Pascal đã cải hóa anh theo chủ nghĩa Cộng sản trước khi bị tống đến Trianon,” Doremus chế giễu.
John Pollikop nhảy dựng thẳng lên đến bốn bộ, hoặc trông có vẻ như vậy, rồi rơi xuống, gào lên: “Cộng sản! Có mà đừng hòng bắt họ lập nổi Mặt trận Thống nhất! Chà, cái anh chàng Pascal ấy—anh ta chỉ là một tay tuyên truyền, và tôi bảo ông—tôi bảo ông—”
Công việc khó nhọc nhất của Doremus là dịch các tin lấy từ báo chí Đức, vốn hết sức ưu ái các Corpo. Toát mồ hôi dù trời tháng Ba trong căn hầm cao của Buck vẫn mát lạnh, Doremus cúi trên chiếc bàn bếp, lật sột soạt một cuốn từ điển Đức–Anh, vừa càu nhàu vừa lấy bút chì gõ vào răng, gãi đỉnh đầu, nom như một cậu học trò đeo bộ râu xám giả nho nhỏ, rồi than vãn với Lorinda: “Thế quái nào mà dịch câu ‘Er erhält noch immer eine zweideutige Stellung den Juden gegenüber’ đây?” Nàng đáp: “Ôi, anh yêu, câu tiếng Đức duy nhất em biết là câu Buck dạy em để nói ‘Cầu Chúa ban phước cho anh’—‘Verfluchter Schweinehund.’”
Ông dịch từng chữ từ tờ Völkischer Beobachter, rồi sau đó chuyển thành thứ tiếng Anh có thể hiểu được, lời ca tụng đầy khích lệ sau đây dành cho Lãnh tụ và Người Khai sáng của mình:
Nước Mỹ đã bắt đầu một khởi đầu rực rỡ. Không ai chúc mừng Tổng thống Windrip chân thành hơn người Đức chúng tôi. Khuynh hướng chỉ tới mục tiêu là sự thành lập một quốc gia Dân tộc. Đáng tiếc là Tổng thống chưa sẵn sàng đoạn tuyệt với truyền thống tự do. Ông vẫn mãi giữ một thái độ hai nghĩa đối với người Do Thái. Chúng tôi chỉ có thể giả định rằng, theo lôgích, thái độ này phải thay đổi khi phong trào bị buộc phải rút ra toàn bộ hệ quả từ triết lý của mình. Ahasaver, tên Do Thái Lang thang, sẽ luôn là kẻ thù của một dân tộc tự do và tự ý thức, và nước Mỹ rồi cũng sẽ hiểu rằng người ta chỉ có thể thỏa hiệp với dân Do Thái nhiều ngang với thỏa hiệp cùng bệnh dịch hạch.
Từ tờ New Masses, vẫn được những người Cộng sản bí mật xuất bản dù phải liều mạng, Doremus lấy được nhiều tin về những thợ mỏ và công nhân nhà máy gần chết đói, và chỉ cần hé lời chỉ trích một tên cai cấp thấp là bị bỏ tù... Nhưng phần lớn tờ New Masses, với vẻ tự mãn mộ đạo không hề lay chuyển bởi bất cứ chuyện gì đã xảy ra từ năm 1935, lại dành cho những tin tức mới nhất về Marx, và cho việc phỉ báng mọi thành viên của Tân Địa hạ—kể cả những người đã bị đánh bằng dùi cui, bị bỏ tù và bị giết—là “lũ chỉ điểm phản động phục vụ chủ nghĩa Phát-xít”; tất cả còn được trang hoàng đẹp đẽ bằng một tranh biếm họa của Gropper, vẽ Walt Trowbridge mặc quân phục M.M. đang hôn chân Windrip.
Các bản tin đến tay Doremus bằng cả chục phương cách điên rồ—do liên lạc viên mang tới trên thứ giấy bản mỏng nhất; gửi cho bà Henry Veeder và Daniel Babcock, kẹp giữa những trang sách quảng cáo, bởi một nhân viên N.O. làm thư ký tại hãng bán hàng qua bưu điện Middlebury & Roe; chở trong những thùng kem đánh răng và thuốc lá đến hiệu thuốc của Earl Tyson—một nhân viên ở đó là đặc vụ N.U.; được một tài xế xe tải chuyển đồ liên bang, nom dữ dằn nên cũng vì thế mà nom vô tội, thả xuống gần dinh thự của Buck. Vì phải đến bằng những con đường bấp bênh như vậy, tin tức không còn vẻ hiển nhiên như thời ông ngồi trong tòa soạn, khi một xấp điện tín A.P. mỏng tang có thể báo rằng bao nhiêu triệu người đã chết đói ở Trung Hoa, bao nhiêu chính khách bị ám sát tại Trung Âu, bao nhiêu nhà thờ mới được ngài Andrew Mellon nhân hậu xây cất—tất cả đều là chuyện thường ngày. Giờ đây, ông giống một nhà truyền giáo thế kỷ mười tám ở miền bắc Canada, chờ đợi tin tức phải mất trọn mùa xuân mới đi từ Bristol đến được vùng hạ lưu vịnh Hudson, từng giây tự hỏi liệu nước Pháp đã tuyên chiến chưa, liệu Nữ hoàng đã sinh nở bình an chưa.
Doremus nhận ra rằng mình đang cùng một lúc nghe tin về trận Waterloo, cuộc Đại Ly tán, sự phát minh ra điện báo, việc phát hiện vi khuẩn và các cuộc Thập tự chinh; và nếu ông phải mất mười ngày mới nhận được tin, thì các sử gia sẽ phải mất mười thập niên mới đánh giá nổi nó. Há chẳng phải họ sẽ ghen tị với ông, và cho rằng ông đã sống ngay giữa cơn khủng hoảng trọng đại của lịch sử sao? Hay họ sẽ chỉ mỉm cười trước lũ trẻ phất cờ của thập niên 1930 đang chơi trò anh hùng dân tộc? Bởi ông tin rằng những sử gia ấy sẽ không phải người Cộng sản, người Phát-xít, hay những kẻ dân tộc chủ nghĩa hiếu chiến của Mỹ hoặc Anh, mà chỉ là hạng Tự do chủ nghĩa tủm tỉm cười, chính cái hạng bị những kẻ cuồng tín giao chiến ngày nay nguyền rủa dữ dội nhất là bọn yếu đuối, ngả nghiêng.
Giữa toàn bộ cảnh náo loạn bí mật này, nhiệm vụ gian nan nhất của Doremus là tránh mọi ngờ vực có thể khiến ông bị tống vào trại tập trung, và làm ra vẻ mình vẫn chỉ là lão già ăn không ngồi rồi vô hại mà quả thực ông từng là, mới ba tuần trước. Đầu óc mụ mị vì buồn ngủ sau khi làm việc suốt đêm ở tổng hành dinh, ông ngồi ngáp cả buổi chiều trong tiền sảnh Khách sạn Wessex và bàn chuyện câu cá—hình ảnh hoàn hảo của một người đã nản lòng đến mức không thể là mối đe dọa.
Thỉnh thoảng, vào những tối không có việc gì phải làm ở chỗ Buck, khi có thể lười biếng trong phòng làm việc tại nhà và đáng hổ thẹn thay, cho phép mình được yên tĩnh và văn minh, ông lại sa vào nỗi khao khát Tháp Ngà. Ông thường đọc lại bài “Đêm Ả Rập” của Tennyson, không phải vì đó là một thi phẩm vĩ đại, mà vì thuở thiếu thời, nó là bài thơ đầu tiên khiến ông thực sự sửng sốt khi gợi lên cái đẹp:
Một cõi vui vầy, biết bao gò đống Và biết bao thảm cỏ bóng đan ô, Đầy thanh âm tĩnh lặng của đô thành, Và những bụi một dược sâu thẳm tỏa hương quanh, Cùng tuyết tùng uy nghi, những hàng liễu bách, Những tràng dài gai thơm rậm rạp, Cây bụi phương Đông cao vút, những tháp bia Khắc biểu tượng của thời đại, Để tôn vinh kỷ nguyên vàng son Của Haroun Alraschid hiền minh.
Rồi trong chốc lát, ông có thể phiêu du cùng Romeo và Jurgen, cùng Ivanhoe và Huân tước Peter Wimsey; ông nhìn thấy Quảng trường San Marco và những ngọn tháp Bagdad cổ xưa chưa từng tồn tại; cùng Don John xứ Austria, ông lên đường ra trận, và ông đi theo con đường vàng đến Samarcand mà không cần thị thực.
“Nhưng Dan Wilgus sắp chữ cho những bản tuyên cáo nổi loạn, và Buck Titus cưỡi mô tô đi phát chúng trong đêm, có khi cũng lãng mạn chẳng kém Xanadu... ngay lúc này ta đang sống trong một thiên sử thi nở rộ, chỉ hiềm chưa có Homer nào từ phòng tin thành phố bước ra để chép lại!”
Whit Bibby là một lão bán cá cổ lỗ và kiệm lời, còn con ngựa của lão trông cũng cổ lỗ không kém, tuy tuyệt nhiên chẳng im lặng mà thường phát ra đủ thứ tiếng động gây bối rối. Suốt hai mươi năm, cỗ xe quen thuộc của lão, giống một toa áp chót bé nhất trần đời, đã chở cá thu, cá tuyết, cá hồi hồ và hàu đóng hộp đến mọi nông trại trong Thung lũng Beulah. Nghi ngờ Whit Bibby có hành vi phản loạn cũng vô lý chẳng khác nào nghi ngờ con ngựa. Những người cao tuổi còn nhớ có thời lão từng tự hào về cha mình, một đại úy trong Nội chiến—và về sau là một nông dân thất bại, say sưa bê bết—nhưng đám trẻ đã quên mất rằng từng có một cuộc Nội chiến.
Không hề che giấu dưới ánh nắng buổi chiều cuối tháng Ba đang chạm vào lớp tuyết cũ mòn, xám tro, Whit cho ngựa chạy lóc cóc đến nông trại của Truman Webb. Dọc đường, lão đã giao mười đơn hàng cá, chỉ toàn cá, tại các trang trại; nhưng ở nhà Webb, lão còn để lại, chẳng nói năng gì về nó, một bó truyền đơn gói trong tờ báo sặc mùi cá.
Đến sáng hôm sau, toàn bộ số truyền đơn ấy đã được bỏ vào các hòm thư của nông dân ở phía bên kia Keezmet, cách đó mười hai dặm.
Khuya hôm sau, Julian Falck lái xe đưa bác sĩ Olmsted đến chính nhà Truman Webb ấy. Lúc này ông Webb có một bà cô đang đau yếu. Cho đến hai tuần trước, bà không thường xuyên cần đến bác sĩ, nhưng như cả vùng quê đều có thể biết—và quả quyết là đã biết—nhờ nghe lén đường dây điện thoại dùng chung ở nông thôn, giờ đây bác sĩ phải đến cứ ba hoặc bốn ngày một lần.
“Nào, Truman, bà cụ thế nào rồi?” Bác sĩ Olmsted vui vẻ gọi.
Từ bậc hiên trước, Webb khẽ đáp: “An toàn! Ra đi! Tôi canh chừng kỹ lắm rồi.”
Julian nhanh nhẹn bước xuống, mở ghế sau ngoài trời của chiếc xe bác sĩ, và từ đó xuất hiện một cảnh tượng đáng kinh ngạc: một người đàn ông cao lớn mặc áo lễ phục ban ngày kiểu thành thị cùng quần sọc, kẹp dưới nách chiếc mũ phớt rộng vành, đang đứng dậy, xoa bóp khắp người, rên rỉ vì đau khi duỗi tấm thân co quắp. Bác sĩ nói:
“Truman, tối nay chúng ta có một Eliza khá quan trọng, với lũ chó săn bám sát ngay sau lưng! Nghị sĩ Ingram—Đồng chí Webb.”
“Hừ! Tôi chẳng bao giờ nghĩ mình sống được đến ngày bị gọi là một trong mấy ‘Đồng chí’ này. Nhưng rất hân hạnh được gặp ngài, Nghị sĩ. Trong hai ngày nữa, chúng tôi sẽ đưa ngài vượt biên sang Canada—chúng tôi biết vài đường mòn xuyên thẳng qua rừng dọc biên giới—còn ngay lúc này đã có đậu nóng hổi ngon lành chờ ngài rồi.”
Căn gác xép nơi ông Ingram ngủ đêm ấy—muốn lên phải dùng một chiếc thang giấu sau đống rương—chính là “trạm ngầm” từng che chở cho bảy mươi hai nô lệ da đen khác nhau trốn sang Canada vào thập niên 1850, khi ông nội Truman làm người phụ trách; và trên bức tường phía trên cái đầu mệt mỏi, bị đe dọa của Ingram, người ta vẫn còn thấy hàng chữ viết bằng than từ thuở xa xưa: “Ngài dọn bàn cho tôi trước mặt những kẻ thù tôi.”
Lúc ấy mới hơn sáu giờ tối một chút, gần các mỏ đá của Tasbrough & Scarlett. John Pollikop dùng xe cứu hộ kéo Buck Titus ngồi trong ô tô của ông. Thỉnh thoảng họ lại dừng, và John phô trương hết sức lộ liễu việc xem xét động cơ xe Buck, ngay trước mắt các toán tuần tra M.M., những kẻ chẳng buồn để ý đến một sự đồng hành quá sức hiển nhiên như vậy. Có lần họ dừng bên mép hố sâu nhất của Tasbrough. Buck đi thơ thẩn, ngáp dài, trong lúc John tiếp tục hí hoáy sửa chữa. “Được!” Buck quát. Cả hai cùng lao đến chiếc hòm dụng cụ quá khổ ở sau xe John, mỗi người nhấc ra một ôm báo Vermont Vigilance rồi ném qua mép mỏ đá. Chúng tung tản mát trong gió.
Sáng hôm sau, nhiều tờ bị các đốc công của Tasbrough nhặt lại và tiêu hủy, nhưng ít nhất một trăm tờ, nằm trong túi áo những người thợ mỏ đá, đã khởi đầu cuộc hành trình qua thế giới công nhân Fort Beulah.
Sissy bước vào phòng ăn nhà Jessup, mệt mỏi xoa trán. “Con lấy được tin rồi, bố. Chị Candy đã giúp con. Giờ ta sẽ có một món hay để chuyển cho các đặc vụ khác. Bố nghe nhé! Con đã khá thân mật với Shad. Không! Bố đừng nổi giận! Con biết chính xác phải giật súng khỏi bao của hắn thế nào nếu có lúc cần đến. Rồi hắn bắt đầu khoác lác, bảo con rằng Frank Tasbrough, Shad và Ủy viên Reek đều cùng chung một đường dây làm ăn, bán đá hoa cương cho các tòa nhà công; hắn còn bảo con—bố biết đấy, hắn phần nào đang khoe khoang rằng hắn và ông Tasbrough đã trở nên thân thiết ra sao—rằng ông Tasbrough ghi mọi con số về khoản tiền bất chính trong một cuốn sổ nhỏ màu đỏ cất ở bàn giấy—tất nhiên lão Franky chẳng đời nào ngờ có ai lục soát nhà một Corpo trung thành như lão! À, bố biết bà Candy có cô em họ đang làm tạm cho nhà Tasbrough, và mẹ kiếp nếu—”
(“Sis-sy!”)
“—hai bà già ấy đã chẳng cuỗm cuốn sổ đỏ be bé ngay chiều nay, rồi con chụp ảnh từng trang và bảo họ đặt nó lại chỗ cũ! Còn lời bình duy nhất của bà Candy nhà ta là: ‘Cái bếp nhà Tasbrough bắt lửa kém quá. Bếp như THẾ thì làm sao nướng nổi một chiếc bánh cho ra hồn!’”